|
PHÊ BÌNH TỪ BÊN TRONG Linh mục Robert P. Maloney Maranatha dịch Hôm qua tôi vào Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô khi cổng vừa mở vào lúc 7 giờ sáng, theo dòng người đến bàn thờ Chân Phước Gioan XXIII. Mỗi ngày ở đây đều có một linh mục giảng lễ, ông cha này làm cái gì cũng vừa đúng lại vừa sai! Thế nhưng ông ấy lại không làm tôi thất vọng. Là người đã từng giảng dạy môn giảng thuyết, tôi đặc biệt thích phê phán những gì ông ấy làm. Hôm qua, trong bài giảng ngắn, ông ấy đã đề cập đến nhà họa sĩ điêu khắc gia lừng danh Michelangelo, triết gia Tây Ban Nha Miguel de Unamuno, tiên tri Môsê, tiên tri Aaron, Chúa Giêsu và cả thánh nữ Catarina Sienna nữa. Bài học mà tôi muốn nhồi nhét vào đầu các chủng sinh rằng mỗi bài giảng chỉ nên có một chủ đề thôi đã bị ông cha này quên tuốt mất. Thế vậy mà tôi vẫn cứ tiếp tục đi lễ tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô để nghe vị linh mục này giảng mới lạ chứ, mặc dù ông ấy phá luật, nhưng ông ta làm gì cũng đúng hết. Như hôm nay đây, tôi thấy ông ta thành kính cúi đầu cầu nguyện trước khi giảng lễ. Lòng yêu mến Lời Chúa của vị linh mục này bộc lộ ngay khi vừa bắt đầu giảng. Nghe ông nói, tôi nhận thấy ngay là bài giảng được chuẩn bị kỹ càng, có suy niệm Thánh Kinh hẳn hòi. Mặc dù có thể hơi lan man, một số điểm cũng gây chú ý, và trọng tâm chủ điểm bài giảng đánh động tôi thật mạnh mẽ. Bài đọc hôm nay trích từ chương 32 trong sách Xuất hành. Chuyện kể về ông Môsê, khi xuống núi thấy dân chúng đang thờ con bê vàng liền phản ứng giận dữ. “Xin ông bà anh chị em lưu ý,” vị giảng thuyết hùng hồn nói với nhóm tín hữu chung quanh bàn thờ, “xin chú ý sự khác biệt giữa Môsê và Aaron. Ông Aaron là người có can dự vào việc thờ ngẫu tượng này, lại đổ hết trách nhiệm lên dân chúng, rồi nói với ông Môsê: ‘Anh thấy dân này chiều theo sự xấu như thế nào. Họ nói với em, cho chúng tôi một ông thần để lãnh đạo, chứ còn ông Môsê, mặc dù đã dẫn chúng tôi ra khỏi Ai Cập, nhưng không biết ông ta gặp chuyện gì rồi.’ Về phần ông Môsê, dù tức giận lắm, nhưng không đổ lỗi cho người khác, trái lại đã đồng hoá mình với những người chung quanh và thưa cùng Chúa: “Xin Chúa tha thứ lỗi lầm của họ, còn nếu Ngài không tha, thì xin gạt tên con ra khỏi danh sách của Ngài.” Vị giảng thuyết đã hỏi đám đông, “Có phải chúng ta ai cũng giống như Aaron? Chúng ta sẵn sàng chê trách đổ lỗi cho người khác: cha mẹ, thầy cô, và cả đến Giáo Hội. Nhưng Môsê thì khác, ông ấy biết mình cùng đi với dân chúng về đất hứa. Môsê ý thức rằng ông ta cũng là thành phần của dân chúng.” Linh mục này có thói quen là thường dành một cái gì bất ngờ vào cuối cuộc lễ. Lúc mà cậu bé giúp lễ còn ngái ngủ dẫn cha xuống khỏi bàn thờ, thì bất chợt ông ấy đứng lại giữa đàn chiên nhỏ bé, giơ tay cao và nói: “Nhà thơ người La Mã mang tên Trilussa rất thường phê phán Giáo Hội. Ông ta cũng có sự hiểu biết tinh tế về bản chất con người. Tối hôm qua tôi mới đọc một bài thơ của ông ấy mang tựa đề là “Tội Nguyên Tổ.” Thế rồi ông cha này đứng lại ngay chỗ ấy, đọc thuộc lòng bài thơ bằng tiếng La-tinh mà tác giả Trilussa đã viết. Dịch tạm như sau: Chúa hỏi Adam: - Ai ăn trái táo? -Thưa Chúa, con ăn. Adam trả lời. - Nhưng con không tự lấy - mà cô ấy đưa cho con. -Cô ấy là ai? Có phải E-và không? - Dạ thưa đúng vậy. Không cô ấy thì còn ai vào đây. Nếu không con đã chẳng nói Thật xấu hổ thay cho đấng mày râu đầu tiên của quả địa cầu… Cả ngày tôi cứ suy nghĩ miên man về bài giảng này. Bộ tôi không phản ứng với Giáo Hội giống như Aaron đã làm sao? Những phê bình của tôi thường có giọng điệu của người bên ngoài hơn là bên trong Giáo Hội? Tôi nhớ lại một trường hợp cách đây vài năm, khi đi du lịch nước Anh, tôi có đi xem một phim mang tên “Truyền Giáo.” Tối đó, khi về nhà, có một vị khách ở bàn ăn. Tôi kể chuyện mới đi xem phim “Truyền Giáo” về, vị này hỏi tôi nghĩ thế nào về bộ phim. Tôi trả lời rằng tôi rất thích phim này, nhưng cảm thấy hình ảnh Giáo Hội bị mô tả tệ quá. Vị khách trả lời tôi, “Vậy sao? Thế mà tôi lại nghĩ hình ảnh Giáo Hội trong phim khá độc đáo đấy chứ! Chắc là tùy theo cách chúng ta nhìn “Giáo Hội” thôi. Có lẽ cha đề cập đến những vấn đề của hàng giáo phẩm, các viên chức giáo triều trong phim thời bấy giờ chứ gì, còn tôi lại nhìn thấy hình ảnh các linh mục truyền giáo Dòng Tên, các thổ dân người Paraguay, theo tôi thì họ mới chính là hình ảnh thật nổi bật đặc biệt trong phim đấy.” Tôi đã được dạy một bài học, nhưng đó thật là một bài học bổ ích. Giáo Hội là chúng ta, là tất cả chúng ta! Suy nghĩ về việc phê bình, đặc biệt phê bình Giáo Hội, tôi nhận thấy có ba khuynh hướng: Loại thứ nhất, giống như những chàng lính canh, cảnh giác với mọi lời phê bình. Họ bảo vệ cả những điều không thể bảo vệ nổi. Trong những trường hợp quá tệ hại, thì họ biến thành những pho tượng giống như sư tử, giữ thinh lặng với cặp mắt buồn bã. Tôi đã sống nhiều năm với một vị rất thông minh nhưng không thể thảo luận chi với vị này, nếu có bất cứ điều gì liên quan đến việc phê phán các đấng bậc. Dần dần tôi nhận ra rằng vị ấy cần sự cảnh giác và đề phòng cao độ mới có thể sống bình an. Nhưng tôi cũng nhận ra rằng vì đề phòng như thế, con người thông minh này đã xa lánh các bạn đồng nghiệp đến nỗi ai muốn làm bạn thân thiết với vị này cũng khá khó khăn. Khuynh hướng thứ hai giống như Aaron. Đó là một cái bẫy mà nhiều người, trong đó có tôi thường rơi vào. Thật dễ dàng lên án, đổ tội cho “các giám mục” hay “giáo triều Roma” khi gặp những quyết định mà chúng ta không thích. Của đáng tội, chẳng dễ mà đề đạt tiếng nói phê bình hợp lý nhằm đóng góp xây dựng cho những ai đã đưa ra những quyết định như thế. Và cũng chẳng dễ để tìm ra những giải pháp hữu hiệu trong việc đối thoại với những người đưa ra những quyết định, hoặc ít nhất là làm hết khả năng để tìm những giải pháp khả thi. Đổ lỗi cho người khác thì dễ dàng hơn nhiều. Nhưng việc đổ lỗi, cho dù có làm thanh sạch, thường ít mang lại điều gì mới. Phê bình đổ lỗi có thể tìm ra người chịu trách nhiệm trong những chuyện đã xảy ra, nhưng thường nó không giúp mở ra một tương lai mới hoặc tốt đẹp hơn. Người theo Aaron thường dễ dàng đổ trách nhiệm cho ai khác, nhưng lại ít khi nhận trách nhiệm của chính mình. Chính nhóm thứ ba này là điều mà những người theo Môsê cố gắng làm. Không giống như nhóm thứ nhất, họ không sợ gióng lên tiếng nói để phê bình; nhưng cũng không giống nhóm thứ hai, họ làm thế với tư cách là một thành viên hoàn toàn thuộc về Giáo Hội. Điều đã đánh động tôi hàng nhiều năm trời là việc nhiều nhà thần học danh tiếng của thế kỷ XX, như Karl Rahner, Henri de Lubac và Yves Congar, đã lên tiếng công khai phàn nàn về “Giáo Hội mến yêu.” Họ đã viết như những người từ ở bên trong chứ không phải bên ngoài. Ngày hôm nay cũng thế, trong cơn khủng hoảng của Giáo Hội Hoa Kỳ, nhiều tiếng nói phê phán xuất phát từ các tín hữu Công giáo vì lòng yêu mến Giáo Hội, và ước mong Giáo Hội được phát triển, vượt qua những khủng hoảng bi thảm hiện nay để thay đổi cơ cấu đã tạo ra những điều tệ hại trên. Thực ra, phải can đảm lắm mới dám nói, dám viết và kiên trì trình bày sự thật với tình yêu thương. Nhưng cũng như thánh Phaolô khi công khai chê trách Thánh Phêrô, “Tôi đã cự lại ông ngay trước mặt.” (Gl 2:11), Giáo Hội đã có, và luôn cần có những người trung thành, yêu mến Giáo Hội lên tiếng phê bình. Một trong những người phê bình dữ dội nhất trong lịch sử là một giáo dân mang tên Catherine Benincasa, người mà linh mục trong bài giảng gọi là thánh Catherine thành Sienna. Bà thánh này đã hết sức can đảm, thúc giục và cuối cùng thuyết phục được Giáo hoàng Gregory XI bỏ Avignon mà về Rôma. Bà đã viết như sau: “Phải trưởng thành lên, đừng như một đứa bé chết khiếp.” Xin lưu ý là lúc viết thư cho Đức Giáo Hoàng, bà đã nổi tiếng thánh thiện rồi. Thánh nữ cũng cố vấn cho vị kế nhiệm Đức Gregory là Đức Urbano VI, nói thẳng rằng Đức Thánh Cha phải kiềm chế cơn nóng giận. Các lá thư của bà viết cho các hồng y ủng hộ một ngụy Giáo Hoàng lại còn thẳng thừng ghê gớm hơn. Thậm chí trong ngôn ngữ thời nay cũng còn nghe chói tai: “Cái gì làm cho các ông hành xử như thế? Các ông giống như hoa không hương, chỉ tỏa mùi xú uế làm ô nhiễm cả địa cầu.” Vào năm 1995, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ca tụng thánh nữ là “sống động nhiệt tình” và “tự do đầy sáng kiến.” Nguyên nhân của các vấn đề hiện nay có lẽ một phần vì không có cơ hội để phát biểu, đặc biệt cho giới giáo dân. Chẳng mấy ai được gặp Đức Giáo Hoàng, hoặc hồng y, thậm chí ngay cả giám mục giáo phận. Các cha sở thì có người chịu nghe, nhưng không phải mọi cha đều như nhau. Mà viết cho hàng giáo phẩm thì thường các lá thư như thế đều bị kiểm duyệt trước, rồi được chọn lọc gửi đến những người chẳng có mấy thẩm quyền để nói lên được điều gì khác những điều đã từng nói trước đây. Các thần học gia thì trình bày những vấn đề gay go bằng cách xuất bản các bài viết, nhưng số lượng tác giả và uy tín của những người bị Thánh Bộ Đức Tin gọi lên trong những thập niên gần đây đã làm nản chí việc suy tư thần học mang tính phê phán công khai. Vậy thì thử hỏi có cách nào để những người phê bình từ bên trong có cơ hội để được lắng nghe không? Nếu có nhiều hội nghị kiểu “Công Đồng” của giáo phận thì có tạo được cơ hội cho nam nữ giáo dân phát biểu ý kiến của họ? Liệu nhiều “Công Đồng” của các giám mục có tạo cơ hội cho các đấng bậc trong Giáo Hội và các đại biểu khác của Giáo Hội lên tiếng? Thử nghĩ xem có nên mở rộng việc tham khảo hơn, bao gồm cả giáo dân trước khi chọn lựa các giám mục? Có nên mời các thành phần nam nữ giáo dân làm việc trong các Thánh Bộ của giáo triều Rôma, kể cả những người làm cố vấn cho Đức Giáo Hoàng không nhỉ? Có thể nào tìm ra những phương cách mới mẻ hơn, để lấy được ý kiến của giáo dân, xem họ nghĩ gì về những vấn đề quan trọng của Giáo Hội không? Tôi thấy rằng trong trường hợp khá đau lòng hiện nay, điều tối cần là tìm ra những phương thức để có sự tham gia đầy đủ của mọi thành phần. Những người cầm quyền thường muốn chung quanh họ chỉ có những người suy nghĩ đồng tình với mình. Điều này sẽ trở nên nguy hiểm nếu những tiếng nói đề đạt lên trên toàn là những điều họ muốn nghe và kết án những người phê bình là “bất trung.” Thực ra, trái với suy nghĩ thông thường, những người phê phán thường là những người trung thành nhất với Giáo Hội. Họ cũng giống như triết gia Socrates, lên tiếng với bồi thẩm đoàn trong phiên xử ông ta: “Tôi là thứ ruồi trâu mà Thiên Chúa đã ban cho đất nước, để suốt ngày đêm, mọi nơi mọi lúc luôn bám vào quý vị, khiêu khích, thuyết phục, và phê phán quý vị. Và cũng vì chẳng dễ mà tìm được người khác như tôi, nên xin quý vị tha mạng cho. Tôi biết rằng quý vị có thể thấy bực mình vì bất thần bị đánh thức, đang khi quý vị mơ màng ngủ quên, hoặc quý vị có thể nghĩ rằng nếu mà mình đánh nó chết…thì có lẽ suốt đời sẽ được ăn ngon ngủ yên, chỉ trừ khi Thiên Chúa quan phòng, vì thương quý vị mà ban cho một con ruồi trâu khác.” Thật là hồng phúc nếu trong Giáo Hội luôn có những tiếng nói như thế● Linh mục Robert P. Maloney, thuộc dòng Truyền Giáo, từng là Bề Trên Tổng Quyền Nhà Dòng tại Rôma. Bài viết này được xuất bản vào tháng 10 năm 2004.
|