Số 57, Ngày 10-9-2005

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Tha Thứ Để Được Thứ Tha -  Nguyễn Chính Kết-

Hãy Thực Thi Sự Lành - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Linh Đạo Hy Vọng - Hoàng Văn Phúc

Đức Tin Bị Cài Đặt - Khủng Bố và Bị Khủng Bố - Khổng Nhuận

Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut

Kinh Lạy Cha Cho Những Người Đang Đói - Lm. J.Wresinski

Trái Tim Hoàn Hảo  - Sưu Tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa Quý độc giả,

Nhân Mùa Tựu Trường năm nay, tác giả Huy Phương đã viết một bài thật cảm động, xin được trích và chia sẻ với độc giả

“Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh...” Phải rồi ngày ấy đã xa. Trong chúng ta không ai không có một kỷ niệm của buổi tựu trường và những ngày thơ ấu, tuổi học trò. Những câu văn đầy nhạc, dịu dàng như thơ, trích từ những trang sách của Thanh Tịnh mà trong chúng ta, ai cũng thuộc nằm lòng. Rồi mẩu chuyện “Ngày khai trường” trong tập sách “Tâm Hồn Cao Thượng” của nhà giáo Hà Mai Anh dịch từ Edmond de Amicis, mà những người cao niên ngày nay vẫn còn nhớ: “Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng Hè đã thoáng qua như giấc mộng. Sáng nay mẹ tôi đưa tôi vào trường Ba-Lệ-Tư để ghi tên lên lớp Ba.” Hay lên những lớp trung học với những trang sách của Anatole France, nói về mùa tựu trường: “Je vais vous dire, ce que me rappelle tous les ans...” để chúng ta không quên, bên trời Tây, cậu bé học trò, vai mang cặp sách, tung tăng đi qua khu vườn Luxembourg khi những ngọn lá vàng rơi trên vai những pho tượng trắng... Những năm về sau, thời thế đã đổi thay, những ngày chuẩn bị đến trường, được mẹ may cho bộ áo quần mới, được mua những cuốn tập mới, hãnh diện, cặm cụi lấy tờ báo có tranh ảnh màu bao lại từng cuốn một, nắn nót đề tên, lớp và môn học trên những cái nhãn tập (étiquettes)...Hạnh phúc thay là những ngày ngồi trên ghế nhà trường. Khi tôi phải bỏ học để ra đời sớm, tôi vẫn thường nằm mơ thấy mình về ngồi trong lớp học ấy, với bạn bè và thầy giáo của những ngày tháng cũ. Ðó là tuổi học trò, tuổi hoa niên, tuổi thanh xuân, tuổi thần tiên, tuổi kẹp tóc, tuổi ô mai... thứ tuổi quí giá nhất của một đời người, mà ngày nay như dòng sông cũ đã trôi đi biền biệt.

Vậy mà đời nay có những đứa trẻ không hề có thứ tuổi ấy bao giờ. Hiến pháp của nhiều nước nghèo đói, lạc hậu trên quả đất này bao giờ cũng có ghi vấn đề cưỡng bách giáo dục, nhưng cơm không có ăn, áo quần không có mặc, gia đình ở trong những căn nhà đóng bằng những tấm ván thùng ngay trên nghĩa địa thì lấy đâu ra cái “Buổi mai hôm ấy...” Ðời cha thất học kiếm cơm ven sông rạch, đời con không được đến trường, hằng ngày đi lang thang từ những đống rác này qua những đống rác khác để tìm cho đủ bữa cơm, lấy đâu có những “Buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh...”

...Nhìn lại đất nước Hoa Kỳ, cơn bão Katrina trong vùng vịnh Mexico năm nay đã thổi tan đi niềm vui tựu trường của những đứa trẻ ở nhiều thành phố tại đây. Bây giờ, sau lễ Lao Ðộng, trường còn ngập nước, trốc mái, sách vở hóa thành bùn đất, thầy cô, bạn bè chia lìa, tan tác, kẻ mất người còn, những đổ vỡ không biết bao giờ mới hàn gắn lại được. Nhiều niềm hạnh phúc thật đơn giản nhưng không phải trên đời này ai cũng có được như ai.”

Đồng cảm với những chia sẻ trên, Maranatha cũng tự hỏi, phải chăng, chính vào lúc mà những niềm hạnh phúc thật đơn giản nhưng không phải trên đời này ai cũng có được như ai thì con người được mời gọi mở trái tim ra mình để sống tử tế với nhau hơn, để bù đắp phần nào sự thiếu thốn của những người bất hạnh quanh mình.

Trận bão Katrina vẫn là nỗi bàng hoàng cho dân chúng ở 3 tiểu bang miền Đông Hoa Kỳ, Louisiana, Mississippi và Alabama. Nước vẫn còn ngập trong thành phố New Orleans, một số đông dân cư ở đây vẫn không muốn rời bỏ căn nhà của mình dù được khuyến cáo nguy hiểm về sức khoẻ. Nhiều biến cố chính trị, xã hội quan trọng khác đang diễn ra ở Hoa Kỳ hoặc thế giới đang bị lu mờ trước những thông tin và hình ảnh về hậu quả của trận cuồng phong Katrina. Thiệt hại do cơn bão này ước tính lên đến hơn 100 tỷ Mỹ kim, số người thiệt mạng chưa được tổng kết nhưng ước lượng phải trên 10,000 người. Biết bao cảnh nhiễu nhương đã xảy ra trong những ngày này. Vất vả, thiếu thốn, suy sụp tinh thần, hoang mang trước tương lai vô định, nỗi đau của những con người bị bứng ra khỏi cuộc sống bình thường êm ả trước đây...đó là những hình ảnh thường xuyên trên các thông tin hàng đầu hiện nay tại Hoa Kỳ. Những gì Mother Nature -  Mẹ Thiên Nhiên đã bỏ sót lại sau trận cuồng phong thì human nature – con người - với bản chất  thật lộ ra khi lâm vào cảnh túng thiếu – đã ra tay: cướp bóc, hôi của, bạo lực, phản ứng chậm chạp của chính quyền, thêm vào đó những bất công xã hội vì màu da, vì giàu nghèo chênh lệch bấy lâu chìm khuất nay cũng nổi lên sau cơn bão lụt. Đau lòng quá, xót xa quá, cơ cực quá bạn ơi…Tuy vậy, một mặt khác của human nature ấy - bản chất con người với phần thiện hảo vẫn sáng lên, rực cháy để đốt lên ngọn lửa hy vọng trong những cơ cực của hoàn cảnh hiện nay.  Các tổ chức thiện nguyện, nhiều cơ quan tôn giáo đã tiếp tay cứu trợ, biết bao người đã và đang mở rộng lòng mình ra trong nỗ lực của mình, nhiều quốc gia đóng góp cho Hoa Kỳ, cả những nước không lấy gì làm giàu có, dư dả cũng đóng góp vật chất và phương tiện cứu trợ. Một số đồng bào Việt Nam ở những nơi bị thiên tai tàn phá đã được nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức tôn giáo, nhà dòng, chùa chiền, tu hội, giáo xứ bạn đón tiếp, cưu mang. Qua những tai họa của thiên tai, bất hạnh, phải chăng đã là cơ hội để con người biết sống tử tế hơn, thương yêu, đùm bọc nhau hơn. Qua những nghĩa cử cao quý này chúng ta thấy được nhân loại đang cùng chia sẻ nỗi đau chung, cùng nhau xây dựng lại một thế giới tốt đẹp hơn.

            Trong tâm tình hy vọng vào lòng tốt của con người, vào trời mới đất mới, vào tình yêu của Đức Kitô Phục Sinh như Cố Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã chọn cho mình như linh đạo của người kitô hữu được nhắc lại trong ngày lễ giỗ mãn tang sắp tới đây, sẽ là nhắc nhở cho người tín hữu chúng ta khi phải đối diện với những khó khăn của cuộc đời.  Tin tưởng vào Lời Chúa vẫn là kim chỉ nam cho người tín hữu, Thiên Chúa tình yêu vẫn hiện diện và đồng hành với con người hữu trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta cùng khẩn nguyện: Maranatha: Lạy Chúa, xin ngự đến!

MARANATHA

Trở về mục lục >>

TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXIII

THA THỨ ĐỂ ĐƯỢC THỨ THA

Nguyễn Chính Kết

      1. Phải tha thứ mãi, tha thứ hoài, tha thứ vô giới hạn

            Luật Cựu ước chủ trương «mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, vết bỏng đền vết bỏng, vết thương đền vết thương, vết bầm đền vết bầm» (Xh 21,24-25; x. Lv 24,20; Đnl 19,21). Các rabbi Do Thái dạy rằng phải tha thứ cho những người xúc phạm mình, nhưng chỉ ba lần thôi. Phêrô nghĩ rằng Đức Giêsu chủ trương rộng lượng hơn, nghĩa là số lần tha thứ phải đạt tới con số trọn vẹn hay hoàn hảo là 7 (người Do Thái quan niệm số 7 là con số trọn hảo). Nhưng ông không ngờ Ngài đòi hỏi ông tha thứ không giới hạn: «Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy» (Mt 18,22).

            Lý do Ngài đưa ra – qua dụ ngôn người đầy tớ mắc nợ mà không biết thương xót – là vì: ta đã từng mắc nợ Thiên Chúa những món nợ lớn lao vô cùng, và Ngài đã tha cho ta. Thế mà tha nhân bên cạnh ta – là hiện thân của Ngài ở bên ta – nợ ta chẳng bao nhiêu, chẳng lẽ ta lại không sẵn sàng tha cho họ? Nếu con của ông chủ ta nợ ta một món tiền nhỏ mà ta cứ nằng nặc đòi trả cho bằng được, trong khi chính ta đã nợ ông chủ gấp triệu lần món tiền ấy và đã được ông tha cho ta tất cả, thì hành động như ta có phải là bất trung bất nghĩa và dại dột vô cùng không? Ta hành động như thế, làm sao ông chủ có thể tiếp tục tha nợ cho ta được? Cũng vậy, nếu ta không tha thứ lỗi lầm cho những người sống chung quanh ta, là những người mà Đức Giêsu đã tự đồng hóa với chính ngài (x. Mt 25,40.45;10,40;18,5; Lc 10,16), thì Thiên Chúa cũng sẽ không tha tội cho chúng ta.

            Trong kinh Lạy Cha ta thường đọc nhiều lần mỗi ngày, ta xin Thiên Chúa cứ dựa theo cách ta tha tội cho tha nhân mà tha tội cho ta. Lời kinh này không khéo sẽ trở thành rất bất lợi cho ta, vì nếu ta không quảng đại tha thứ cho tha nhân thì Ngài cũng căn cứ theo cách ấy mà đối xử với ta, vì ta đã cầu xin Ngài như vậy. Ngược lại, nếu lúc nào ta cũng tha thứ cho anh em mình vô điều kiện, không đòi họ phải xin lỗi mới tha, thì Thiên Chúa cũng sẽ tha thứ cho ta cách vô điều kiện như vậy, vì Ngài không thể kém quảng đại hơn ta. Vì thế, sẵn sàng tha thứ cho tha nhân vô điều kiện là một thái độ hết sức khôn ngoan. Khi ta tha thứ cho anh em thật nhiều lần, ta sẽ có thói quen tha thứ, nhân đức tha thứ, nhất là bản tính hay tha thứ, rất ích lợi cho sự phát triển tâm linh, sự bình an và hạnh phúc của ta trong cuộc đời.

      2. Tại sao ta nên tha thứ cho tha nhân?

            Nếu ta nhận ra mọi sự ta có được đều là hồng ân Chúa ban cho ta, ta sẽ thông cảm với những người nhận được ít ơn Chúa hơn ta. Được ít ơn Chúa hơn ta, đương nhiên họ dễ phạm lầm lỗi hơn ta. Xét lại bản thân, chính ta cũng đã từng phạm lỗi tương tự như vậy với họ hoặc với một ai đó, khi đó ta mong họ thông cảm, tha thứ cho ta. Thử nghĩ xem, nếu ta ở trong tình trạng y như họ: hoàn cảnh éo le ít nhiều buộc họ phải xử tệ với người khác, thêm vào đó là trình độ tâm linh, văn hóa hay khả năng suy nghĩ của họ còn kém, tâm hồn còn yếu đuối, còn nhiều tính ích kỷ chưa vượt thắng được… thì chắc hẳn ta cũng sẽ hành động không khác gì họ.

            Người thánh thiện thường rất dễ thông cảm với những người yếu đuối, tội lỗi hơn mình, và chính vì thế họ mới là người thánh thiện. Họ thường nghĩ như Phaolô: «Xưa kia ta cũng ngu xuẩn, không vâng lời, lầm lạc, làm nô lệ cho đủ thứ đam mê và khoái lạc, sống trong gian ác và ganh tị, đáng ghét và ghen ghét lẫn nhau» (Tt 3,3), nên bây giờ họ rất thông cảm với những ai yếu đuối giống như họ xưa kia. – Người cảm thấy mình còn yếu đuối, còn hay lầm lỗi lại càng có lý do mạnh hơn để thông cảm với những người cùng yếu đuối và hay lầm lỗi như mình. Nếu ta hay lầm lỗi mà lại không thể thông cảm được với những người hay lầm lỗi như ta thì ta thật quá ích kỷ và đáng bị trừng phạt biết bao!

      3. Tai hại của giận hờn, thù hận

            Một lý do rất nhân bản và tự nhiên để ta dễ dàng tha thứ cho tha nhân, đó là khi ta để lòng giận hờn, phiền trách ai, thì tâm hồn ta sẽ nặng trĩu u buồn, bực bội, tức giận. Cảm xúc tiêu cực này khiến ta không thoải mái, máu ta sinh ra nhiều chất độc, lục phủ ngũ tạng của ta cũng bị thương tổn. Nếu ta thường xuyên ở trong tình trạng u uất này, ta dễ sinh ra những bệnh nan y, khó chữa, như cao huyết áp, tiểu đường, ung thư… Khi tha nhân xúc phạm hay làm hại ta, nếu ta buồn giận họ và không tha thứ cho họ, thì chẳng những ta bị thiệt hại hay mất mát vì những gì họ trực tiếp gây ra, mà ta còn tự làm cho chính ta bị thiệt và mất mát nhiều hơn thế bội phần. Do đó cứ nuôi giận hờn mà không chịu tha thứ quả là thiếu khôn ngoan. Nếu ta không tiêu diệt giận hờn thù oán, thì hờn oán sẽ tiêu diệt ta.

            Nếu ta tìm cách trả thù người hại ta bằng cách gây đau khổ lại cho họ, thì ta càng tự làm thiệt hại ta bội phần hơn nữa. Khi ta thù hận, ta dễ lâm vào tình trạng mất sáng suốt. Tục ngữ có câu: «cả giận mất khôn». Trong tình trạng mất sáng suốt ấy mà lại muốn gây đau khổ cho người khác, ta rất dễ lâm vào tình trạng phạm pháp, và hậu quả tai hại nhiều khi không lường được. Nhiều người tức giận quá đã đi đến chỗ đả thương hay giết người, để sau đó bị tù tội hay phải sạt nghiệp vì đền mạng. Người bị ta trả thù gây khổ thường là sẽ trả thù lại ta khiến ta còn phải chịu khổ nhiều hơn nữa. Và nếu cứ thế tiếp tục – người trả thù qua, người trả thù lại – thì oán thù sẽ chồng chất, thậm chí đời này sang đời khác. Đức Phật nói: «Lấy oán báo thù, oán thù chồng chất. Lấy đức báo oán, oán tự tiêu tan». Không thể dùng oán thù mà giải quyết được oán thù. Chỉ có tình thương mới tiêu diệt được oán thù mà thôi. Cũng như không thể lấy một cái sai để giải quyết một cái sai khác, vì hai cái sai cộng lại không thể thành cái đúng mà thành cái sai lớn gấp bội. Cái sai chỉ có thể hóa giải bằng những cái thật đúng mà thôi.

            Cách trả thù tốt nhất là làm những điều tốt lành nhất cho người hại mình, và chỉ mong cho họ toàn những điều tốt lành, để biến họ thành người tốt hay thành bạn mình. Biến họ thành bạn mình chính là một cách diệt được kẻ thù cách khôn ngoan nhất, trong đó không có ai bị hại, mà ta lại còn có thêm bạn. Đó là cách mà thánh Phaolô đề nghị: «Kẻ thù ngươi có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống; làm như vậy, ngươi sẽ chất than hồng lên đầu nó. Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác» (Rm 12,20-21). Đó cũng là thực hành điều Đức Giêsu dạy: «Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em» (Lc 6,27).

***

            Đức Giêsu đã dạy ta phải yêu thương cả kẻ thù huống gì những người anh em có lỗi với ta. Vì tình yêu đích thực đòi hỏi ta phải sẵn sàng thông cảm và tha thứ cho người đã xúc phạm đến ta. Chính ta cũng đã biết bao lần lầm lỗi, xúc phạm đến tha nhân và đã từng được họ quảng đại tha thứ. Ta cần thật sự nhận ra những giới hạn, yếu đuối và lầm lỗi của chính mình, để dễ dàng thông cảm và tha thứ cho giới hạn, yếu đuối và lầm lỗi của người khác

          Trở về mục lục >>

 

  CHIA SẺ - HUẤN GIÁO

HÃY THỰC THI SỰ LÀNH!

(Bài Suy Niệm Giúp Tĩnh Tâm Linh Mục tại Một Giáo Xứ)

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Nếu có ai hỏi, tôi sợ điều gì nhất, tôi sẽ trả lời tức khắc: Sự dữ! Vì thế, tôi mong sự lành, mong tha thiết.

Tôi thường xin Chúa ban cho tôi bình an, và giải thoát sự dữ trong lòng tôi, giải thoát sự dữ xung quanh tôi,

giải thoát những hình thức nô lệ của tội, vì tội cũng là sự dữ.

Thời gian gần đây, ngay những năm đầu của thế kỷ mới, sự dữ cứ liên tục gia tăng. Lòng người càng khiếp sợ khi sự dữ như trêu ngươi, càng xảy ra mọi nơi, mọi thời gian, trên không trung, trên mặt đất, cũng như dưới lòng đất, lòng biển...

Đáng khiếp sợ hơn, khi sự dữ ấy lại chất chứa trong lòng người, biến lòng người không còn một chút lương tâm, mà chỉ là tà tâm. Và khiếp sợ hơn nữa, khi tà tâm liên kết với nhau, không còn ở mức độ bộc phát, không còn mang hình thức lẻ tẻ, nhưng đã biến thành những tổ chức quy mô cả thế giới, biến thành cả một mạng lưới giăng mắc khắp nơi, và biến thành cả một thứ chủ nghĩa như chủ nghĩa diệt chủng, chủ nghĩa khủng bố.

I. TỪ NHỮNG THÔNG TIN.

Từ các phương tiện truyền thông, có những lúc ta cảm thấy lạc quan vì nhận ra sự lành nhiều hơn sự dữ. Nhưng hôm nay thì khác. Không biết tôi có bi quan quá không khi dám nói rằng, có lúc lại cảm nhận sức mạnh của sự dữ, sự công phá của sự dữ dường như không có dấu hiệu suy yếu, ngược lại cứ gia tăng.

Năm 2001, cả thế giới kinh hoàng vì vụ tấn công tòa nhà tháp đôi của nước Mỹ, rồi sau đó là hai cuộc chiến đổ vào Apganistan và Iraq cho cái gọi là ‘chống khủng bố, bảo vệ sự bình an.’ Thật trớ trêu và nghịch lý, sự lành và cuộc sống bình an đâu không thấy, chỉ thấy sự dữ càng tiếp tục lấn át dữ dội. Bởi hai cuộc chiến được xem là kết thúc thật, nhưng bình an vẫn còn ở xa lắm. Các thế lực của sự dữ bị đẩy lùi vào bóng đen, chứ không phải bị tiêu diệt. Từ trong bóng đen, khó ai kiểm soát, khó ai ngờ được sự hiện diện của nó ở chỗ nào, vì các thế lực ấy không ngừng leo thang giết hại sự sống, phá hủy tài sản của thế giới.

Người ta còn chưa thể quên cuộc tấn công đẫm máu trên đảo du lịch Bali ở Iđônêxia, thì đã phải bàng hoàng trước những vụ bắt làm con tin cả một nhà hát và gài bom phá hủy cả một trường học toàn những em học sinh vô tội tại Nga. Mới năm ngoái, cả thế giới lại tiếp tục sửng sờ bởi các thế lực của sự dữ, một lần nữa tấn công và giết chết rất nhiều khách du lịch trên một đảo du lịch tại Aicập.

Cho đến nay, người Aicập lại chìm trong nỗi đau vì nghe tin Đại sứ của họ tại Iraq, ông Ihab al-Sherif bị bắt cóc, đã bị sát hại. Mấy ngày qua lại tiếp tục nghe tin nhiều vùng đất của họ bị tấn công.

Càng đau lòng hơn, khi cả thế giới được tin, liên tiếp nhiều vụ nổ ngay ở thủ đô Luân Đôn của nước Anh, quốc gia được coi là có mạng lưới tình báo tốt. Vậy mà trong vụ giết người kinh hoàng này, họ cũng bị khóa chặt, bị tê liệt. Vì thế, đã để sự dữ thảm sát sự sống của người lành cách tàn nhẫn.

Sự dữ phát sinh từ lòng người vẫn cứ tiếp diễn không ngừng. Sự dữ ấy đáng sợ không cùng. Những sự kiện kể trên chỉ là những sự kiện nổi cộm. Cho đến nay, chúng ta càng cảm nhận những nỗi đau đớn quặn thắt tâm hồn, bởi vẫn còn đó quá nhiều người vôi tội bị khủng bố, bị bắt cóc, bị xử tử dã man.

Sự dữ càng ngày càng nguy hiểm, càng đáng kinh tởm. Nó không dừng lại ở mức độ vượt ra ngoài rào cản của đạo đức, của chân tâm, nhưng càng ngày càng tiến xa vào bóng tối phi đạo đức.

Trước những sự dữ kinh hoàng, có sức tàn phá thảm khốc, chúng ta hãy cùng đồng cảm với vị Cha Chung của Giáo Hội: “Trong khi chúng ta và rất nhiều người khác đang thực hành những nỗ lực lớn, nhằm làm vơi đi những đau khổ của rất nhiều người trên thế giới, và trong khi các chính quyền đang nhóm họp để đi đến một sự thỏa thuận cả về sự bảo vệ và sự duy trì sự sống con người. Thật là một đau buồn và lo lắng lớn dành cho những ai có thể dễ dàng tiêu diệt những gì mà rất nhiều người đang cố gắng duy trì. Những lời nguyện cầu của chúng ta phải dành cho hòa bình, công lý và tái canh tân sự hiểu biết về hồng ân sự sống.” (Đức Bênêđictô XVI, giờ kinh Truyền Tin trưa Chúa nhật 10.7.2005).

II. PHÁT SINH TỪ LÒNG NGƯỜI,  SỰ DỮ CÀNG GÂY ĐAU ĐỚN.

Có hai thứ sự dữ. Tôi tạm phân biệt: Sự dữ khách quan và sự dữ chủ quan. Sự dữ khách quan là sự dữ đến từ bên ngoài bản thân ta. Ví dụ, đối với các nạn nhân của nhiều vụ bắt cóc, khủng bố, họ chỉ là những kẻ bị sự dữ giáng xuống bản thân mình. Họ hoàn toàn thụ động, không hề hay biết gì cho đến lúc sự dữ bất ngờ ập đến.

Còn sự dữ chủ quan là sự dữ đáng kinh hoàng, phải loại trừ. Ví dụ, những kẻ chủ mưu đã giáng trên nhân loại những điều ác độc không thể tưởng tượng. Chính họ đã lập nhóm, lập kế hoạch, móc nối, đổ tiền của để chỉ nhắm một việc: giết người.

Dù sự dữ nào thì cũng là sự dữ, cũng nguy hiểm và đều đáng sợ. Nhưng sự dữ chủ quan càng đáng sợ hơn, đáng lên án và phải tránh xa càng nhiều, càng tốt. Chính nóù là sự dữ tàn nhẫn xâm chiếm chính tâm hồn và thống trị trong lòng người, biến họ thành nô lệ của nó. Đó là sự dữ do chính con người tra tay thực hiện. Bởi đó ta cũng có thể gọi sự dữ chủ quan là sự dữ chủ động. Mà vì do chủ động thực hiện điều dữ, sự dữ chủ quan, bởi đó, càng nhức nhối tâm can, càng đáng lên án.

Sự dữ ấy gây nên nỗi đau đớn tột cùng không chỉ đối với các nạn nhân và tất cả những ai có liên quan, mà còn là nỗi đau của cả nhân loại có lương tâm. Đau đớn, nhưng không biết phải làm sao, không biết phải tỏ thiện chí đến mức độ nào để bớt đi nỗi đau do sự dữ xuất phát từ lòng người man rợ. Đã đau đớn, vậy mà ngày càng chứng kiến sự dã man cứ xảy đến, cứ leo thang, lại càng làm chúng ta đau đớn hơn.

Nhưng Sự dữ, sự xấu ấy đâu chỉ là sức mạnh tấn công và giết chết sự sống nhân loại, làm tổn thất vật chất, gây hoang mang, giết chết sự bình an, mà còn là sức mạnh tấn công trực tiếp vào niềm tin của con người, làm cho nhân loại sống trong khủng hoảng của sự lo sợ liên tục kéo dài, không còn tin vào ai, cũng không tin bất cứ cái gì. Nó còn là mối đe dọa tất cả sự tương giao giữa người với người, tất cả niềm hy vọng vào sự chiến thắng của cái thiện, và mọi giá trị tinh thần khác, mà không ai có thể lường hết được.

Nặng nề hơn, những cuộc tấn công kinh hoàng của sự dữ, dần dà có thể làm xói mòn sự quan tâm, lòng bác ái của mọi người. Bởi cái gì nghe mãi sẽ nhàm, lo lắng hoài rồi cũng đến lúc ngán ngẫm. Tâm trạng có thể coi là ‘bị bão hòa’ ấy sẽ làm cho lòng người trở nên dửng dưng, nguội lạnh, thậm chí cái bất thường của sự chết, sự dữ, vì cứ xảy ra liên tục, tự dưng trở thành bình thường lúc nào không hay trong suy nghĩ của từng cá nhân, nguy hiểm hơn, của cả tập thể.

Nếu nhân loại nói chung, mỗi Kitô hữu nói riêng, không biết cảnh giác, để ngay từ hôm nay, tự đào tạo lương tâm của mình nhạy bén hơn, lâu bền hơn, chắc chắn tình trạng sự dữ lên ngôi càng nguy hiểm hơn, đáng sợ hơn. Nguy hiểm và đáng sợ không cùng.

Nhất là đối với các Kitô hữu, có Chúa Kitô làm chuẩn mực sống và Lời của người làm thước đo luân lý cho mỗi hành vi, mỗi nếp nghĩ, nếp sống của mình. Họ được mời gọi soi rọi lòng mình cho hợp với Chúa Kitô và Lời của Người, để đào tạo lương tâm, nhằm có thể mang lại sự lành, góp phần xoa dịu nỗi đau của thế giới, làm cho cuộc sống, tưởng chừng như sự dữ đang phát huy sức mạnh, vẫn còn đó rất nhiều điều tốt đơm những kết quả tốt là chính tâm hồn người tín hữu.

Vì thế, hãy nên giống Chúa Kitô: hãy trao ban sự lành.

III. CHIA SẺ VÀI THỰC HÀNH CỤ THỂ ĐỂ CẦU NGUYỆN.

Giống như Đức Thánh Cha, cùng nhiều anh chị em khác trong Giáo Hội và thế giới, khi nhận ra khuôn mặt đen tối đến mức sợ hãi của sự dữ, tôi đã cầu nguyện.

- Tôi đọc kinh Lạy Cha và lặp lại chính lời Chúa Giêsu dạy để xin Người, xin Thiên Chúa đừng để chúng ta sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng ta khỏi sự dữ. Tôi xin Chúa cho chúng ta đứng bên ngoài những cám dỗ dấn thân cho sự dữ, đồng thời học biết sự cao cả của hồng ân sự sống để dấn thân tích cực cho sự sống, phục vụ và mang lại sự lành. Tôi xin Chúa hãy cứu tôi thoát mọi sự dữ, nhất là sự dữ chủ quan. Vì nó có thể biến tôi thành con thiêu thân, nặng hơn, thành tên nô lệ phục vụ sự dữ. Sốt sắng đọc kinh Lạy Cha, tôi cũng xin Chúa, gìn giữ thế giới, gìn giữ Giáo Hội và mọi người luôn được bảo vệ bởi những sự lành.

- Trong thánh lễ, có nhiều lần chủ tế nguyện chúc: ‘Chúa ở cùng anh chị em,’ hoặc ‘bình an của Chúa ở cùng anh chị em,’ hoặc ‘anh chị em ra về bình an’, Nhất là mỗi lần cùng cả cộng đoàn phụng vụ cất cao lời cầu nguyện: ‘Lạy Cha chúng con ở trên trời’, tôi không chỉ cầu xin cho tôi, cho cộng đoàn dân Chúa, không chỉ cầu cho những người tôi biết mặt, biết tên, nhưng là cho tất cả mọi người, cho Giáo Hội, cho thế giới, đặc biệt là cho tâm hồn mỗi một người, được giải thoát khỏi sự dữ, thoát khỏi mọi ảnh hưởng của sự dữ, và hưởng nhờ bình an của Chúa. Bởi thánh lễ là nguồn bình an, đặc biệt là nguồn bình an nội tâm cho những ai ‘thiện tâm.’

Nói như thế, để cho thấy, nguồn bình an là vô cùng cần thiết. Sự dữ càng leo thang bao nhiêu, càng nguy hiểm bao nhiêu, bình an lại càng cần gấp bội bấy nhiêu. Sự dữ là điều ghê sợ, đáng ghê sợ không cùng. Bình an là điều ai cũng mong đợi. Niềm mong đợi bình an nơi lòng người lớn đến mức không có rào cảng, không có biên giới. Vậy mà bình an lại quá mong manh, lại bị chính lòng người chà đạp.

Sự dữ hiện nguyên hình là con ác quỷ hung ác nhất, xấu xa nhất, liên tục đe dọa sự sống loài người, làm băng hoại đạo đức xã hội, là kẻ thù số một của lương tâm ngay chính, điều mà trong kinh Vinh Danh, Giáo Hội gọi là ‘Người Thiện Tâm.’

- Tôi xin Thánh Thể và Thánh Tâm Chúa Giêsu, biểu tượng của Tình yêu Thiên Chúa đối với cả thế giới này, hãy tiếp tục tỏ lòng thương xót thế giới, và uốn nắn lòng người nên ngay thẳng, để không còn gieo rắc chết chóc, gieo rắc sự mất bình an, nhưng là mang lại hoa trái của những điều tốt lành.

- Tôi bắt chước thánh Đaminh, phó thác nền hòa bình thế giới cho chuỗi Mân côi dâng kính Đức Trinh Nữ. Vì nếu ngày xưa, thánh Đaminh kêu gọi lần chuỗi để xin ơn bình an, thì ngày hôm nay, tôi tin Đức Mẹ, Đấng được tôn vinh là Nữ Vương Hòa Bình, sẽ tuôn đổ ơn bình an từ nguồn bìn an là chính Chúa Kitô, Con của Mẹ.

- Sau hết, tôi suy niệm dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng lúa tốt (Mt 13, 24-43) để cầu nguyện cho những kẻ say máu, bị coi là mất hết lương tri, mất hết tính người, đêm ngày gieo rắc nỗi chết chóc, nỗi sợ hãi khắp nơi. Tôi nghĩ hình ảnh cỏ lùng là sự dữ đã bị gieo vào ruộng lúa tốt là niềm bình an, là thế giới của sự lành mà nhân loại rất cần. Bởi nếu cỏ vẫn chỉ là cỏ. Nó không thể lột xác để trở nên cành hoa thơm trên đồi cao, thì lòng người lại khác. Lòng người không phải là cỏ dại. Từ trong sự thối tha của vũng bùn tội lỗi, họ có thể ‘lột xác,’ để nên hương hoa ngọt ngào, vươn tới những sự lành, sự thánh thiện.

Làm sao lòng người trở nên tốt đẹp, và biết trao ban sự lành, đó là trăn trở của tôi, nhưng chắc chắn cũng là nỗi băn khoăn của mọi người. Vậy những ai đang ngày đêm mê man trong sự giết chóc hãy lắng nghe tiếng khóc của nhân loại, lắng nghe con tim của mọi người đang đập những nhịp đập đầy thổn thức, ai oán và nhìn vào nỗi khiếp đảm sợ hãi của mọi người mà tự bay lên khỏi hố sâu tội lỗi, để nhân loại bình an, cuộc sống êm ấm, thế giới tràn đầy sự lành!

Xin hãy thực thi sự lành. Hãy loại trừ sự dữ ngay trong lòng mình.

IV. LINH MỤC HÃY SỢ SỰ DỮ!

Mỗi lần giơ tay ban phép lành, Linh mục là người trao ban bình an của Thiên Chúa cho anh chị em. Đặc biệt, trong bí tích giải tội, không chỉ trao ban bình an, khi dùng tác vụ của Hội Thánh, cùng với việc trao ban bình an, linh mục còn là người xua trừ sự dữ khỏi tâm hồn anh chị em. Điều đó cũng có nghĩa là linh mục giải thoát anh chị em của mình ra khỏi sự dữ, khỏi mọi hình thức nô lệ của nó.

Dù vậy, ta vẫn dám khẳng định chắc rằng, sau khi nhân danh Thiên Chúa tha tội cho anh chị em, hiểu theo một nghĩa rộng nào đó, linh mục là tác giả của sự giải thoát, có thể là kẻ không chất chứa sự lành, ngược lại, chất chứa cả một hố sâu thăm thẳm đầy sự dữ, tội lỗi ngay trong chính tâm hồn mình?

Bởi bên cạnh rất nhiều linh mục ngày đêm vươn tới sự lành, lo vun bồi, tưới bón để ơn gọi của mình phong phú hơn, thánh thiện hơn, thì đâu đó vẫn còn những bóng tối của sự dữ thống trị tâm hồn linh mục. Nó biến họ thành những kẻ thích xoi mói, thích gieo tiếng xấu, thích nịnh bợ bề trên, xem thường anh em và những người cùng sống, cùng làm việc, cùng chia sẻ gánh nặng mà chính mình phải mang vác trước.

Hoặc chính linh mục lại hạ danh dự, ganh ghét, dèm pha anh em linh mục với nhau nói riêng và anh chị em xung quanh nói chung. Tệ hại hơn, chính anh em linh mục chẳng những không thể tha thứ, lại rắp tâm nuôi lòng thù và muốn trả thù một điều gì đó, một ai đó đã gây ra điều bất lợi cho mình.

Linh mục cũng chính là người có thể kéo bè, lập nhóm, a dua theo những thế lực khác nhau, không nhằm giới thiệu Chúa Kitô, hay xây dựng những cộng đoàn yêu thương và cầu nguyện, nhưng hoàn toàn ngược lại, chỉ nhắm củng cố và tạo thêm sức mạnh quyền lực, sức mạnh phòng thủ của riêng bản thân.

Linh mục cũng có thể lợi dụng chức vụ linh mục của mình tìm kiếm lợi nhuận, tìm kiếm những giá trị vật chất. Nếu không tự đào tạo ơn gọi và lương tâm từng ngày, họ có thể cũng bon chen, cũng mưu toan tính toán như bao nhiêu tật xấu của nhiều anh chị em sống giữa đời. Nếu không lo tích trữ sự lành, lại để những sự dữ ấy tự do thống trị, linh mục sẽ trở thành kẻ nguy hiểm, bởi họ đi những bước rất dài trong sự xa cách ba lời khuyên Phúc Âm đã từng thề hứa trong ngày chịu chức: vâng lời, khó nghèo, khiết tịnh.

Ơn thánh hiến mà bị lạm dụng, có khác chi lời tiên tri Êgiêkiel cảnh báo từ rất xưa: ‘Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Khốn cho các mục tử Israel, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao? Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc.’ (Ed 34, 2- 4).

Ơn thánh hiến mà bị lạm dụng, phải chăng rất giống lời cảnh báo trong sách tiên tri Isaia dành cho sự đen tối và tội lỗi của Babylon: ‘Chính ngươi đã tự nhủ: 'Ta sẽ lên trời: ta sẽ dựng ngai vàng của ta trên cả các vì sao của Thiên Chúa; ta sẽ ngự trên núi Hội Ngộ, chốn bồng lai cực bắc. Ta sẽ vượt ngàn mây thẳm, sẽ nên như Đấng Tối Cao'. Nhưng ngươi lại phải nhào xuống âm phủ, xuống tận đáy vực sâu. Ngươi bị liệng ra khỏi mồ, như một mầm non ghê tởm, nằm trong đám người chết vì gươm đâm, trên những phiến đá dưới vực thẳm, tựa thây ma bị người ta giày xéo.’ (Is 14, 13-19).

Ơn gọi thánh hiến và chính đời linh mục của mình mà để xảy ra như thế thì thật là bi đát, thật nguy hiểm cho Hội thánh của Chúa và xúc phạm danh Chúa. Là linh mục của Chúa, anh em chúng ta hãy nuôi dưỡng một lối sống lành mạnh. Hãy theo đuổi ơn gọi nên thánh suốt đời, đó là điều mà chính Chúa Giêsu đã dạy: ‘Các ngươi hãy nên thánh thiện, như Cha các ngươi trên trời là Đấng thánh thiện. (Mt 5, 48).

Trên hết hãy gieo sự lành. Xin đừng gieo sự dữ! Đừng gieo vào lòng, vào đời sống anh chị em. Đừng gieo nơi chính tâm hồn mình ‘Hãy sợ sự dữ!’

V. VẤN TÂM.

Nơi đâu có yêu thương, nơi đó có bình an. Vì thế, để cưu mang sự lành, loại trừ sự dữ, loại trừ mọi hình thức nô lệ của sự dữ, nhất là sự dữ ngay trong nội tâm mình, chúng ta cần học biết yêu thương, thực hành yêu thương, mời gọi yêu thương và mỗi một ngày, một cố gắng nên chứng tá hoàn hảo của tình yêu.

Vì thế, chúng ta cùng nhau đọc lại lời khuyên yêu thương của Abbé Pierre và thinh lặng một chút để kiểm điểm chính mình. Trong thinh lặng, hãy quyết tâm xua trừ sự dữ nơi cõi lòng mình:

‘Yêu thương là quên mình,

hiến thân cho người khác.

Nếu bạn được hạnh phúc,

tôi hạnh phúc với bạn.

Nếu bạn đang gặp thử thách,

tôi đau khổ với bạn,

và kề cận bạn.

Tình yêu là hiệp thông,

phó thác vào người khác,

như một em bé

phó thác vào mẹ nó.

Khi ấy tình yêu trở thành

mức độ của cách xử sự của chúng ta.’ (Abbé Pierre).

(Xin giữ thinh lặng).

VI. HƯỚNG VỀ VĨNH CỬU.

Sự dữ là điều đáng sợ. Chúng ta cần khôn ngoan, tỉnh thức giữ cho mình thoát khỏi sự dữ. Bởi bên cạnh nhiều sự dữ ập đến ta không thể nào có cách chạy thoát, vẫn có những sự dữ ta có thể chủ động trốn thoát. Nhất là phương diện tội lỗi. Hãy cố gắng ý thức mình để tránh xa tội lỗi. Đừng bao giờ cố ý phạm tội, đừng bao giờ để cho mình xuôi theo cám dỗ, để rồi buông mình cho dịp tội tự do lên ngôi, lấn chiếm tình yêu của ta dành cho Chúa và đuổi xa sự thánh thiện của tâm hồn ta. Một khi biết tránh xa tội lỗi, chúng ta sẽ tránh được sự dữ ghê gớm trên hết mọi sự dữ, đó là mất linh hồn.

Nhằm làm nền tảng giúp suy nghĩ về đời sống linh mục của bản thân, để không chỉ chính mình đừng là nguồn gieo sự dữ cho anh chị em mà còn không bao giờ là người chất chứa sự dữ nơi lòng dạ, tôi nghĩ, chúng ta cần suy tư thêm Lời Chúa Giêsu báo trước khung cảnh phán xét của Người.

Chúa nói: ‘Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên ác quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng.’ (Mt 25, 41-46).

Vậy là đã rõ. Trong lời phán quyết của Chúa Giêsu, chỉ cần ta làm ngơ, thiếu thái độ tích cực, thiếu sự nâng đỡ của mình dành cho anh chị em khi họ vướng phải những nghịch cảnh, ta đã bị đồng hóa với ‘sứ thần’của ‘ác quỷ,’ và phải ‘vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên ác quỷ và các sứ thần của nó.’ Huống hồ chính ta là kẻ chẳng những không hề biết sợ sự dữ, lại còn là kẻ gieo sự dữ. Anh em linh mục không biết canh chừng, lại để chính mình ra như thế, sẽ nguy hiểm biết chừng nào. Đó là một nguy hiểm lớn, nguy hiểm vô cùng.

Bởi thế, các linh mục hãy để cho Lời Chúa Giêsu nói về ngày phán xét ấy tra vấn lương tâm, để khi đối diện với Lời Chúa, đối diện với chính lòng mình, chúng ta suy xét lại từng hành vi, lối sống, từng nếp nghĩ, nếp làm bấy lâu nay trong suốt đời linh mục mà mình đã sống. Nhờ đó ta trở nên thánh thiện hơn, xứng đáng hơn với ơn gọi linh mục mà Chúa trao ban.

Hãy nhớ rằng, Chúa sẽ tha thứ những lỗi lầm của quá khứ, và cả của hiện tại. Nhưng Chúa cũng đòi phải biến đổi lòng mình ngay giờ phút này, để ơn tha thứ mà Chúa ban cho bản thân mỗi linh mục sẽ còn tồn tại lâu dài. Chỉ như thế, ta mới có một kết cuộc tốt lành, một tương lai sáng lạn trong nhà Chúa của ta.

Bởi vậy, chúng ta, các linh mục của Chúa hãy cưu mang sự lành.

Hãy biết sợ sự dữ. Đừng mang và đừng gieo sự dữ!

Trở về mục lục >>

 

  TƯỞNG NHỚ ĐHY NGUYỄN VĂN THUẬN

LINH ĐẠO HY VỌNG  

Hoàng Văn Phúc

Đức cố Hồng y F.X Nguyễn Văn Thuận, người cha, người thầy đáng kính và thân thương của chúng ta đã hoàn tất cuộc lữ hành trên đường hy vọng. Năm nay chúng ta cử hành lễ giỗ thứ ba của ngài. Với 74 năm hiện diện trên trần thế, ngài đã đi qua một quãng đường "hân hoan có, gian khổ có nhưng luôn luôn tràn trào hy vọng, vì có Chúa và Mẹ Maria bên ngài." [1] Ngài đã sống một cuộc đời "hạnh phúc và vui tươi, vì ngài đã luôn hy vọng vào Chúa và chỉ biết yêu thương" [2] dù đã trải qua biết bao vinh nhục, thăng trầm của cuộc sống.

Là một con người thấm nhuần Tin Mừng, Công đồng Vatican II, nhất là Hiến chế mục vụ Giáo Hội trong thế giới ngày nay, Gaudium et Spes - Vui Mừng và Hy Vọng, ĐHY F.X đã trở thành một con người vui tươi, hy vọng; một mục tử thánh thiện, tài ba; một nhân chứng anh dũng, can trường của Đức Kitô trong thời đại hôm nay. Cuộc đời gương mẫu của ngài và những gì ngài đã cảm nghiệm, đã viết, đã chia sẻ cho chúng ta qua nhiều tác phẩm, thư mục vụ, bài giảng… quả là một di sản tinh thần lớn lao mà ngài đã để lại cho chúng ta, những con người còn là lữ khách trên đường hy vọng. Điều đáng lưu ý là ngài đã đúc kết và thường xuyên nhắc nhớ cho chúng ta con đường thiêng liêng, con đường siêu nhiên và cũng là con đường tâm linh giúp chúng ta biết quay trở vào nội tâm để nhận ra "cái tôi chân thực" của mình, để từ đây chúng ta có thể tiếp cận, gặp gỡ, yêu mến và sống gắn bó nên một với Chúa, Đấng luôn luôn hiện diện trong sâu thẳm của lòng ta. Đây là con đường hy vọng hay còn gọi là Linh Đạo Hy Vọng mà ĐHY F.X đã triển khai trong ba tác phẩm : Đường Hy Vọng (1975), Đường Hy Vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Công Đồng Vatican II (1979), Những người lữ hành trên Đường Hy Vọng (1980).

Xin mạo muội trình bày một vài nét về Linh Đạo Hy Vọng mà ĐHY F.X đã đề cập đến trong tác phẩm "Đường Hy Vọng", như là thắp lên một nén hương lòng, thành kính tưởng nhớ ngài nhân lễ giỗ năm nay.

ààà

Yêu mến và sống gắn bó kết hiệp với Chúa là ơn gọi cao quý của chúng ta trong cuộc đời này và là hạnh phúc vĩnh cửu của chúng ta trong Nước Trời mai sau. Con đường nên thánh chính là con đường đạt tới sự viên mãn của đức ái. Yêu thương là đã chu toàn mọi lề luật (Rm 13, 10). Vì thế, linh đạo không phải chỉ là con đường tu đức, giúp con người từ bỏ tội lỗi, sửa chữa sai lầm để tiến đến toàn thiện. Linh đạo còn là đường lối dẫn con người thoát ra khỏi cái tôi nhỏ nhoi, ích kỷ, khô cứng để có thể bay cao vào trong quỹ đạo yêu thương của Thiên Chúa, hiệp nhất với Người và với tha nhân. ĐHY F.X đã chỉ cho chúng ta con đường sống hạnh phúc và vui tươi như thế trong Linh Đạo Hy Vọng.

I. TỪ BỎ CHÍNH MÌNH

Chúa Giêsu đã khẳng định: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo" (Mt 16, 24). Chúa Giêsu là con đường nhưng đồng thời cũng là cùng đích của con đường đó cho chúng ta. "Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy." (Ga 14, 6).

Đức cố Hồng y đã triển khai đòi hỏi căn bản này như sau :

Bí quyết của đường hy vọng gồm ba điểm:

1. Ra đi: "Bỏ mình"

2. Bổn phận: "Vác thánh giá mình mỗi ngày"

3. Bền chí: "Theo Thầy" (Đường Hy Vọng. Số 2)

Từ bỏ cái tôi của mình, hư vô hóa bản thân là điều kiện tiên quyết và tối hậu cho những ai muốn làm môn đệ của Đức Kitô, muốn đi theo con đường Đức Kitô đã đi: "Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì con chưa bỏ gì cả, vì chính mình con sẽ dần dần quơ góp lại những gì con bỏ trước" (ĐHV. Số 3).

Từ bỏ chính mình không phải là điều dễ dàng, trái lại nó đòi hỏi phải hy sinh nhiều, phải chịu nhiều đau khổ, thậm chí phải sẳn sàng chết đi như Đức Giêsu đã nêu gương cho chúng ta:  "Thưa: 'Vâng' là dễ, nhưng hãy xem Chúa Giêsu theo tiếng gọi cho đến chết trên thánh giá. Hãy bỏ mình, vác thánh giá mỗi ngày và đóng đinh mình trên thánh giá ấy." (ĐHV. Số 73).

"Tại sao con khư khư ôm lấy công việc nọ, công việc kia, không chịu buông ra khi thượng cấp thuyên chuyển ? Việc đó của Chúa hơn là của con ! Có Chúa lo" (ĐHV. Số 78).

Việc từ bỏ chính mình không phải chỉ làm một lần là xong, nhưng đó là một quá trình lâu dài và liên tục chúng ta phải thực hiện cho đến khi nhắm mắt lìa đời: "Tiếng gọi vẫn tiếp tục nhắc nhở con trong mọi việc nhỏ: 'Hãy theo Thầy!' và tiếng 'Vâng' của con cũng tiếp tục cho đến hơi thở cuối cùng” (ĐHV. Số 72).

Chỉ khi biết từ bỏ chính mình, trở nên trống rỗng, chúng ta mới có thể gặp Chúa, đón nhận Người, yêu mến và gắn bó nên một với Người.

II. CẦU NGUYỆN LIÊN LỈ

Chúa Giêsu đã tha thiết mời gọi mọi người: "Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người" (Lc 21, 36). "Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ vì tinh thần thì hăng hái nhưng thể xác lại yếu đuối" (Mc 14, 38).

Đức cố Hồng y thường nhắc nhớ chúng ta rằng: cầu nguyện là nền tảng của đời sống Kitô hữu; cầu nguyện là gặp gỡ, kết hợp với Chúa, là tiếp nhận sự sống thần linh từ nơi Người, là cảm nếm trước hạnh phúc thiên đàng: "Cầu nguyện là nền tảng của đời sống thiêng liêng. Lúc cầu nguyện con nối liền, kết hợp với Thiên Chúa. Bóng điện sáng nhờ nối liền với máy phát điện" (ĐHV. Số 120).

"Người ta sống không chỉ nhờ bánh mà còn nhờ lời Chúa : Thánh Thể, Thánh Kinh, Thánh Nguyện. Nếu không, con không có sự sống Thần Linh" (ĐHV. Số 136).

Theo Đức Hồng y, cầu nguyện không chỉ là đọc kinh nhưng chủ yếu là gặp gỡ, tâm tình với Chúa như người con nói chuyện với Cha mình: "Chúa dạy đọc kinh để giúp con cầu nguyện, nhưng việc chính là gặp gỡ, nói chuyện giữa Cha và con: 'Khi con cầu nguyện, đừng lo phải nói gì ! Hãy vào phòng đóng cửa, cầu nguyện với Cha của con cách kín đáo, và Cha con thấy mọi sự, sẽ nghe lời con'. Không cần hình thức, chỉ cần tâm tình phụ tử." (ĐHV. Số 127). "Giờ cầu nguyện là giờ tâm sự với Chúa là Cha, chứ không phải là giờ làm bài, là giờ của quả tim, chứ không phải là giờ của luận lý. Đừng nặn óc bóp trán để trình bày với Chúa" (ĐHV. Số 142).

Vì thế đối với Đức Hồng y, cầu nguyện là ưu tiên số một, là phần tốt nhất hay có thể nói cầu nguyện là tất cả: "Thứ nhất cầu nguyện, thứ hai hy sinh, thứ ba mới đến hoạt động" (ĐHV. Số 119).

"Cha nói : 'thứ nhứt là cầu nguyện', không phải là vô căn cứ. Chúa Giêsu đã bảo : 'Maria đã chọn phần nhất', ngồi dưới chân Chúa, nghe lời Chúa, mến yêu Chúa. Maria đã được Thánh Thể, Thánh Kinh, Thánh Nguyện" (ĐHV. Số 129).

Cầu nguyện nói lên căn tính của người tín hữu, người được mời gọi nên thánh, nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện (x. Mt 5, 48). "Một người thánh mà không cầu nguyện là thánh giả. Con đợi xem, họ sẽ sụp đổ không mấy hồi" (ĐHV. Số 131). Cầu nguyện đem lại sức mạnh và sự hiệu quả cho đời sống đức tin cũng như việc tông đồ truyền giáo : "Muốn biết công việc Tông đồ của ai, con hãy xem người ấy cầu nguyện thế nào" (ĐHV. Số 132).

"Nhiều xứ không có linh mục đã vững đức tin suốt nhiều chục năm, nhờ đọc kinh cầu nguyện trong các gia đình" (ĐHV. Số 143).

Và ngược lại, không cầu nguyện là lý do chính yếu giải thích tại sao Giáo Hội đang phải đối diện với nhiều khủng hoảng trong thời đại hôm nay : "Tại sao trong Hội Thánh khủng hoảng ? Vì hạ giá sự cầu nguyện" (ĐHV. Số 134).

"Con ngạc nhiên vì sao nhiều người mất ơn Chúa gọi, mất đức tin, phản bội Hội Thánh ? Trong bao nhiêu lý do, luôn luôn có một lý do chính : họ bỏ cầu nguyện từ lâu" (ĐHV. Số 125).

Tóm lại, cầu nguyện thật nhiều, thật sâu và liên lỉ làm cho chúng ta ngày càng chìm sâu trong đại dương yêu thương của Thiên Chúa, dần dần trở nên đồng hình đồng dạng với Người.

III. YÊU MẾN THÁNH THỂ VÀ THÁNH LỄ

Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: "Đây là Mình Thầy hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy." (Lc 22, 19).

Công đồng Vatican II đã dạy: "Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch, là trung tâm và là cùng đích của đời sống Kitô hữu". ĐHY F.X đã cảm nghiệm và đã xác tín rất mạnh mẽ về chân lý này: "Con thiếu tất cả, con mất tất cả, nhưng con còn Thánh Thể là còn tất cả, vì con có Chúa Thiên Đàng dưới đất." (ĐHV. Số 363).

"Đèn không sáng nếu hết dầu, xe không chạy nếu cạn xăng, hồn tông đồ sẽ suy mạt nếu không đến với Thánh Thể : Ai không ăn thịt Ta và uống máu Ta, chẳng được sống đời đời" (ĐHV. Số 360).

"Mặt trời sáng và tung tỏa ánh sáng. Thánh Thể là sự sống và nguồn phát xuất sự sống Thần Linh, sự sống hòa hợp giữa các dân tộc : Thịt Ta làm cho thế gian được sống" (ĐHV. Số 361).

Theo ĐHY, Thánh Thể cho ta cảm nếm trước mầu nhiệm Nước Trời và hạnh phúc thiên đàng vì Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, thực sự ở với chúng ta cách trọn vẹn trong Bí tích cực thánh này: "Thánh Thể mặc khải cho trí hiểu biết mầu nhiệm Nước Trời sẽ đến sau này và sát nhập dân Chúa vào mầu nhiệm Nước Trời. Đức Tin không thể tồn tại nơi người Công Giáo sống ngoài Thánh Thể" (ĐHV. 379).

Vì tái diễn một cách mầu nhiệm hy lễ của Chúa Giêsu trên núi Calvê năm xưa, nên Thánh lễ có một giá trị vô song: "Con muốn hỏi: 'Cách gì đẹp lòng Chúa hơn cả?' Hãy tham dự Thánh lễ, vì không kinh, không tổ chức, nghi thức nào bằng lời nguyện và hy lễ Chúa Giêsu trên thánh giá." (ĐHV. Số 349).

"Con muốn vinh danh Chúa ? - Dự Thánh lễ. Con muốn cảm tạ Chúa? - Dự Thánh lễ. Con muốn cầu xin Chúa? - Dự Thánh lễ. Con muốn yêu mến Chúa? - Dự Thánh lễ. Con muốn cứu nhân loại? - Dự Thánh lễ. Chúa Giêsu đã làm như vậy" (ĐHV. Số 359).

Tuy nhiên, tham dự Thánh lễ là phải chấp nhận thực sự đóng đinh vào thập giá và uống cạn chén đắng với Chúa: "Mỗi lần dâng Thánh lễ là mỗi lần giang tay đóng đinh con lại trên thánh giá, và uống cạn chén đắng với Chúa. Đây không có chỗ cho khán giả" (ĐHV. Số 357).

Và Thánh lễ không chỉ tái diễn ở trong nhà thờ nhưng còn phải được chuẩn bị và kéo dài trong chính cuộc sống hằng ngày : "Cả cuộc đời Chúa Giêsu hướng về núi Calvariô, cả cuộc đời con hướng về Thánh lễ" (ĐHV. Số 356).

"Người thánh là người tiếp tục Thánh lễ suốt ngày" (ĐHV. Số 350).

"Đời con là một Thánh lễ…" (ĐHV. Số 372).

"Giọt nước hòa vào rượu thế nào, đời con tan biến trong Chúa Kitô như vậy" (ĐHV. Số 368).

Cuối cùng, người tín hữu biết sống tinh thần của Thánh lễ trong cuộc đời, sẽ là người, theo Đức Hồng y, có sức mạnh để canh tân thế giới tục hóa hôm nay : "Người công giáo 'Chúa Nhật' không đủ sức để cải tạo thế giới vật chất ngày nay. Sống Thánh lễ là bí quyết để đem Chúa cho thế giới và đưa thế giới đến với Chúa" (ĐHV. Số 366).

"Chúa Giêsu đã làm cách mạng trên thánh giá. Cuộc cách mạng của con phải bắt nguồn từ bàn thánh, tiếp tục cuộc cách mạng của Chúa, con sẽ làm nên một nhân loại mới" (ĐHV. Số 367).

Chúa Giêsu hiện diện gần gũi và đồng hành với chúng ta trong mọi biến cố cuộc đời, đặc biệt là trong Bí tích Thánh Thể. Siêng năng chạy đến với Người trong Bí tích Thánh Thể và sống tinh thần hy tế như Người trong thực tế hằng ngày, chúng ta sẽ tìm được sự sống, sức mạnh và sự an vui để dấn thân phụng sự Chúa trong mọi người và góp phần xây dựng Trời mới Đất mới.

IV. SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

Thông thường ở đời, giới trẻ thường hay nghĩ đến tương lai, người già thường hay nghĩ về quá khứ. Nhưng cuộc sống chỉ có ý nghĩa ở trong giây phút hiện tại. Chúa Giêsu đã khuyên chúng ta : "Anh em đừng lo lắng về ngày mai : ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy" (Mt 6, 34).

Đức cố Hồng y cũng đã mạnh mẽ nhắc nhớ chúng ta: "Con chỉ có một giây phút đẹp nhất : Giây phút hiện tại, sống trong tình yêu Chúa cách trọn vẹn; đời con sẽ tuyệt đẹp nếu kết tinh bằng từng triệu giây phút đẹp nhất. Con thấy đơn sơ, không phải khó !" (ĐHV. Số 997).

Ngài cho rằng : đời sống nhân bản, tinh thần và tâm linh của chúng ta phải luôn khởi sự từ bây giờ, trong chính lúc này - ở đây và phải khởi sự lại mỗi ngày vì không bao giờ là quá muộn màng cho chúng ta: "Con hỏi phải khởi sự sống nội tâm từ lúc nào ? Phải khởi sự ngay từ bây giờ và phải khởi sự lại mỗi ngày" (ĐHV. Số 91).

Nếu làm được như thế, luôn ý thức giây phút hiện tại và sống trọn vẹn từng giây phút đó trong tình yêu Chúa, chắc chắn cuộc đời chúng ta sẽ đẹp, sẽ nên thánh: "Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống. Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh. Đường hy vọng do mỗi chấm hy vọng. Đời hy vọng do mỗi phút hy vọng" (ĐHV. Số 978).

V. CHU TOÀN BỔN PHẬN HẰNG NGÀY

Chúa Giêsu đã quả quyết: "Ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào Nước Trời" (Mt 7, 21).

Theo Đức Hồng y: "Bổn phận là ý Chúa trong giây phút hiện tại" (ĐHV. Số 17). "Bổn phận là giấy vào nước Trời…" (ĐHV. Số 27).

Vì thế, là Kitô hữu, chúng ta phải thánh hóa bổn phận, thánh hóa chính mình và tha nhân qua việc chu toàn bổn phận hằng ngày: "Thánh hóa bổn phận của con. Thánh hóa người khác nhờ bổn phận con. Thánh hóa chính mình con trong bổn phận" (ĐHV. Số 19).

"Chỉ cần làm bổn phận trong giây phút hiện tại là nên thánh. Một khám phá, một mặc khải đem bình an và phấn khởi cho tâm hồn con" (ĐHV. Số 31).

Các thánh đã đạt tới vinh quang Nước Chúa là vì họ đã chu toàn bổn phận dù to dù nhỏ của mình : "Các thánh không nên thánh vì nói tiên tri hay làm phép lạ. Các ngài đâu làm gì lạ ! Họ chỉ chu toàn bổn phận" (ĐHV. Số 25). "Một vị thánh ngoài bổn phận là thánh ở xa xa thường hay 'làm phép lạ' sái nơi, sái giờ. Đến gần thì gây lộn xộn, và hoang mang khó sống" (ĐHV. Số 21).

Do đó, Đức HY mời gọi chúng ta cố gắng nên thánh trong công việc, trong môi trường sống của mình: "Thợ nên thánh ở công xưởng, lính nên thánh ở bộ đội, bệnh nhân nên thánh ở bệnh viện, học sinh nên thánh ở học đường, nông phu nên thánh ở ruộng rẫy, linh mục nên thánh trong mục vụ, công chức nên thánh ở công sở. Mỗi bước tiến là một bước hy sinh trong bổn phận" (ĐHV. Số 24).

Nhưng chu toàn bổn phận hằng ngày không phải là một việc làm thụ động, máy móc nhưng phải được đổi mới liên tục, để càng ngày càng thêm yêu mến và tín thác vào Chúa: "Song bổn phận hiện tại không phải là thụ động, nhưng: là liên lỉ canh tân, là quyết định chọn hay chối Chúa, là tìm nước Chúa, là tin ở tình yêu vô bờ của Chúa, là hành động với tất cả hăng say, là thể hiện mến Chúa yêu người, ngay trong giây phút này" (ĐHV. Số 26).

Chu toàn bổn phận phải luôn gắn liền với việc thực hiện ý Chúa, nếu không bổn phận sẽ trở thành đơn điệu, nặng nề cho chúng ta: "Không gắn bó với ý Chúa từng giây phút, con sẽ bỏ dở đường hy vọng, vì con cho bổn phận bình lặng, vô danh và đồng điệu quá !" (ĐHV. Số 35).

Điều an ủi cho chúng ta là khi chúng ta tiến lên trong bổn phận mỗi ngày, chúng ta sẽ gặp thấy sự nâng đỡ của Chúa: "Tiến lên trong bổn phận mỗi ngày, con sẽ thấy 'Ách Chúa êm ái, gánh Chúa nhẹ nhàng'" (ĐHV. Số 33).

Sau hết, cái chết cũng là bổn phận cuối cùng mà chúng ta phải sẵn sàng đón nhận với lòng yêu mến: "Chính sự chết cũng là bổn phận cuối cùng mà con làm cách sẵn sàng và đầy yêu mến" (ĐHV. Số 32).

Lời nguyện mà Đức HY muốn chúng ta thân thưa với Chúa mỗi ngày là: "Lạy Chúa, nơi bổn phận của con là núi Calvariô, và con là của lễ toàn thiêu." (ĐHV. Số 30).

VI. SỐNG VUI TƯƠI VÀ HY VỌNG

Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: "Các điều ấy Thầy đã nói với anh em để niềm vui của Thầy ở trong anh em và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn." (Ga 15, 11).

Đức Cố Hồng y khẳng định với chúng ta rằng: "Thánh thiện đâu phải là nhăn nhó, cực khổ, đau thương ! Thánh thiện là tươi vui liên lỉ vì được Chúa, 'được đất trên trời là của mình vậy'" (ĐHV. Số 532).

Nếu chúng ta thực sự là những người bước theo Đức Giêsu trên con đường Người đã đi thì chúng ta không thể không vui tươi được vì Người đã thắng thế gian và vì Người luôn đồng hành với chúng ta: "Con phải vui tươi luôn. Đường hy vọng không thể chấp nhận lữ hành buồn phiền được, đường hy vọng đem lại vui tươi." (ĐHV. Số 535).

Nếu chúng ta không vui tươi là vì chúng ta không có cái nhìn siêu nhiêu hay là vì tương quan giữa Chúa và chúng ta đã có cái gì trục trặc: "Đừng buồn phiền, hãy có cái nhìn siêu nhiên và con sẽ thấy mọi sự dưới khía cạnh mới." (ĐHV. Số 533).

"Tại sao không vui ? Chắc là giữa tâm hồn con với Chúa có điều gì không thỏa. Xét mình đi, con sẽ thấy ngay" (ĐHV. Số 534).

Khi gặp cảnh gian truân hay thất bại, chúng ta càng phải vui tươi, tạ ơn Chúa hơn nữa vì chúng ta có dịp thông phần vào cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu: "Nếu con làm vì Chúa, tại sao con nản lòng ? Càng gian truân con càng vui tươi như Gioan và Phêrô bị đánh đập ở hội đường 'ra về vui vẻ vì được xứng đáng chịu sỉ nhục vì danh Chúa'; như Phaolô: 'Tôi tràn đầy vui tươi giữa những thử thách của tôi'" (ĐHV.536).

"Thành công, con cảm ơn Chúa; thất bại, con cũng cảm ơn Chúa, vui tươi mãi... Chính là lúc Chúa muốn thử xem con làm vì Chúa hay vì ý riêng con. Vui vẻ, can đảm lúc thất bại khó khăn hơn hân hoan lúc suôi may; hạng anh hùng này con đếm được đầu ngón tay" (ĐHV. Số 537).

Vui với mọi người, vui trong mọi hoàn cảnh. Đó là sự thánh thiện còn lớn hơn việc ăn chay hãm mình : "Vui với người thương con. Vui với người ghét con. Vui lúc con hớn hở. Vui lúc lòng con đau khổ tê tái. Vui lúc mọi người theo con. Vui lúc con cô đơn bị bỏ rơi. Vui tươi và làm cho mọi người đến với con cũng cảm thấy bầu khí vui tươi, mặc dù lòng con tan nát. Đó là thánh thiện hơn mọi sự ăn chay hãm mình" (ĐHV. Số 539).

Sau cùng, nụ cười, niềm vui của chúng ta chính là món quà lớn lao mà chúng ta có thể hiến tặng cho tha nhân: "Con không có tiền ? Con không có quà để tặng ? Con không có gì cả. Con quên tặng họ niềm vui, tặng sự bình an mà thế gian không thể cho được, kho tàng vui tươi của con phải vô tận" (ĐHV. 540).

Cùng với thái độ vui tươi, luôn luôn hy vọng, theo Đức cố Hồng y, phải là cung cách sống nền tảng của tín hữu - người lữ khách trần gian: "Người Công Giáo là ánh sáng giữa đen tối, là muối sống giữa thối nát, và là hy vọng giữa một nhân loại thất vọng" (ĐHV. Số 950).

"Con hãy làm cho người công giáo tin tưởng ở ơn thiên triệu Kitô hữu, ơn thiên triệu gia đình, ơn thiên triệu vợ chồng, ơn thiên triệu nghề nghiệp. Họ sẽ hết chán nản, họ sẽ tràn đầy hy vọng vì họ ý thức rằng, Đấng đã gọi sẽ đưa họ đi đến cùng đích" (ĐHV. Số 969). "Không thể quan niệm được một Kitô hữu không mê say đem hy vọng ngập tràn thế giới" (ĐHV. Số 972).

Lý do để chúng ta luôn luôn hy vọng là vì Chúa yêu thương chúng ta, yêu thương trần gian và đã cứu độ trần gian: "Con phải loan Tin Mừng trên thế giới, không phải chỉ tiêu cực giữ giới răn, nhưng loan báo một sứ điệp lạ lùng : Chúa thương yêu ta, Chúa yêu thương trần gian và cứu trần gian" (ĐHV. Số 955).

"Yêu Chúa là yêu trần gian. Mẹ say Chúa là mẹ say trần gian. Hy vọng ở Chúa là hy vọng trần gian được cứu rỗi" (ĐHV. Số 954).

Hơn nữa, niềm hy vọng của chúng ta là Đức Kitô sẽ lại đến trong vinh quang để dẫn đưa mọi người vào sự sống muôn đời : "Kitô hữu là 'những người đợi chờ, những người hy vọng Chúa quang lâm'" (Thánh Phaolô) (ĐHV. Số 952).

"Con không trông đợi một cuộc sống khác. Con 'tin hằng sống vậy', niềm hy vọng ấy đã đâm chồi nơi con, và sẽ tiếp tục tưới nó bất tận" (ĐHV. Số 967).

Do đó, người tín hữu phải yêu mến và ra sức thực hiện sứ vụ của mình vì họ là những người thực hiện đời đời trong đời tạm này: "Giáo dân là người mến yêu sứ mạng trần thế của mình, là người thực hiện đời đời trong đời tạm; là người tin rằng Chúa giao cho mình trần gian và anh em, để đưa họ đến cứu rỗi vĩnh cửu; là người xác tín rằng Chúa ban sự cứu rỗi, nhưng Chúa đòi việc hợp tác của con người. Biết hy vọng, bảo đảm hy vọng, mang lại hy vọng" (ĐHV. Số 963).

"Người hy vọng là người cầu nguyện. Đối tượng của lời cầu nguyện cũng là đối tượng của niềm hy vọng. Người hy vọng là cộng tác viên của Thiên Chúa. Ngài tìm họ để hoàn tất việc tạo dựng và cứu chuộc của Ngài" (ĐHV. Số 964).

Nếu có lúc nào đó, vì yếu đuối mà sa ngã, chúng cũng hãy hy vọng vì Chúa luôn tha thứ cho chúng ta : "Hãy cố gắng, dù yếu đuối ngã sa, con hãy xin Chúa thứ tha và tiếp tục tiến. Trên võ đài, trong vận động trường quốc tế, các lực sĩ cũng lắm lần ngã quị, bị nhiều cú đấm, bị thương tích, nhưng cứ vùng dậy, cứ hy vọng, họ đã đoạt giải vô địch quốc tế" (ĐHV. Số 971).

Trên bình diện thế giới, nhân loại hôm nay dù đã tiến bộ vượt bậc về khoa học, kỹ thuật, kinh tế, xã hội… nhưng vì khước từ Thiên Chúa, chạy theo văn minh sự chết nên họ thiếu niềm hy vọng, họ cần hy vọng để tiến, cần tình yêu để sống: "Con người nghĩ rằng khoa học càng tiến bộ, Thiên Chúa càng thoái lui. Trong lòng nhiều người 'Chúa chết rồi', giờ đây lương tâm họ được giải thoát, nhưng cái tự do ấy làm cho họ hoang mang, hoảng hốt. Họ thiếu hy vọng" (ĐHV. Số 960).

"Thiên Chúa không lui bước trước tiến bộ của con người. Ngược lại càng đầy sức mạnh, con người càng cảm thấy cần hy vọng để tiến, cần tình yêu để sống. Nếu không có như thế, sống để làm gì ? Có đáng sống không ? Không lẽ hư vô và thù ghét là gia nghiệp của con người tiến bộ ?" (ĐHV. Số 959).

Vì thế, người tín hữu cần phải nhiệt tình giới thiệu, làm chứng về Chúa Giêsu, niềm hy vọng lớn lao nhất, cho nhân loại hôm nay : "Thời đại nào cũng có những người tự xưng là tiên tri, nhưng đường lối của họ không đem lại hy vọng cho nhân loại. Chỉ Chúa Giêsu tự xưng là 'Đường', chỉ Ngài đem lại hy vọng với kích thước của thế giới" (ĐHV. Số 961).

"Con người hy vọng để sống, để tiếp tục sống. Con người sẽ quay về với ai có thể mang lại cho họ niềm hy vọng lớn lao nhất: Niềm hy vọng ấy, Chúa Giêsu đã quả quyết: "Ta đến cho thế gian sống và sung mãn'. Niềm hy vọng ấy, Chúa ban qua tay Mẹ Maria: 'Nguồn hy vọng của chúng con'" (ĐHV. Số 962).

VII. YÊU MẾN VÀ NOI GƯƠNG MẸ MARIA

Trên thập giá, Chúa Giêsu đã nói với thánh Gioan : "Đây là Mẹ con" (Ga 19,27).

Đấng cứu thế đã tặng ban cho Giáo Hội và cho toàn thế giới hai "món quà" vô giá, đó chính là Thánh Thể và Thánh Mẫu của Người. Đức Hồng y F. X đã nhắc nhớ điều này: "'Đây là Mẹ con !' Sau phép Thánh Thể, Chúa không thể trối gì hơn cho con. Mẹ đã đạp đầu con rắn. Mẹ sẽ giúp con chiến thắng ma quỷ, xác thịt, thế gian. Mẹ sẽ ban ơn cho con giữ vững lý tưởng cao cả Chúa đã đặt vào lòng con" (ĐHV. Số 913).

Được làm con của Mẹ là diễm phúc lớn lao của chúng ta vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, cao cả, toàn năng: "Muốn biết Mẹ con tốt đẹp chừng nào, con hãy nhớ Mẹ Chúa Ngôi Hai, cao cả, toàn năng: Phúc cho con chừng nào vì Ngài cũng là Mẹ của con. Nếu không phải Chúa Giêsu nói, con không thể hiểu được" (ĐHV. Số 917).

Trên đường hy vọng, có Mẹ cùng đi, chúng ta không còn cô đơn: "Không có mẹ, dù mọi người lo lắng bảo đảm đến đâu, em bé cũng không đi theo. Nhưng đi với mẹ, băng rừng, vuợt suối, đói rét, em vẫn đi. Trong cuộc chiến, bao nhiêu bà mẹ chết rồi, con vẫn la lết nằm một bên. Trên đường hy vọng, con nắm tay Mẹ Maria; có Mẹ, đã cho con rồi, con không cô đơn. Mẹ là 'nguồn sống, là an vui, là hy vọng của chúng con'" (ĐHV. Số 910).

Đường hy vọng cũng là đường thơ ấu thiêng liêng. Chúng ta phải trở nên như trẻ thơ: nhìn Mẹ, tin Mẹ, làm như Mẹ, chúng ta sẽ nên thánh: "Muốn nên thánh, con hãy bắt chước trẻ thơ; nó không hiểu lý thuyết gì, nhưng nó nhìn mẹ nó, nó làm theo mẹ nó, nó tin mẹ nó biết tất cả, làm đúng tất cả. Nhìn Mẹ Maria, làm như Mẹ Maria, con sẽ nên thánh" (ĐHV. Số 918).

Như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, người con cưng của Mẹ đã cảm nghiệm và đã sống : Mẹ Maria là tất cả cho chúng ta: "Phản ứng đầu tiên của trẻ thơ là gọi: 'Mẹ ơi!' khi lo sợ, khi lúng túng, khi đau buồn. Tiếng Mẹ là tất cả cho trẻ. Con hãy năng gọi: 'Mẹ, Mẹ ơi! Con yêu mến Mẹ, Mẹ là tất cả của con'" (ĐHV. Số 921).

Mẹ là tất cả vì Mẹ là Đấng tràn đầy Thánh Thần (x. Lc 1, 28.35) : "Con là tâm hồn trẻ muốn sống rất trung thực, con hãy bắt chước Đức Mẹ; trong Đức Mẹ không còn cái 'tôi' nữa, tì vết của con người cũ không có. Đức Mẹ vô nhiễm và đầy tràn Chúa đến nỗi không thể nói đến Mẹ Maria mà không nghĩ đến Chúa Giêsu" (ĐHV. Số 941).

"Không Thiên Chúa, con hoàn toàn trống rỗng, cô đơn, khốn nạn. Mức độ sung mãn hạnh phúc của con người con tùy mức độ con liên lạc với Thiên Chúa. Mẹ Maria hoàn toàn hướng về Thiên Chúa; Ngài thấy Mẹ là thụ tạo toàn hảo như ý Ngài. Mọi sự tốt đẹp của Thiên Chúa biểu lộ cách trong sáng nhất trong Mẹ" (ĐHV. Số 942).

Mẹ là tất cả vì Mẹ tặng ban cho chúng ta món quà quý giá nhất là Chúa Giêsu, Con Mẹ : "Không quà gì quý bằng quà mà lòng Mẹ Maria tặng cho chúng ta: Chúa Giêsu, món quà quý nhất. Chính lòng Đức Mẹ cũng quý nhất vì 'Giêsu con lòng Bà'" (ĐHV. Số 923).

Yêu mến Mẹ, người tín hữu phải sống như Mẹ đã sống: "Mấy lời vắn tắt diễn tả cuộc đời Mẹ con; với tâm tình thánh thiện, hãy ghi vào lòng mà suy niệm và bắt chước : 'Này con là tôi tá: Ecce. 'Con xin vâng' : Fiat. 'Linh hồn con ngợi khen Chúa: Magnificat" (ĐHV. Số 920).

Mẹ không sống cho mình nhưng sống trọn vẹn cho Chúa và tha nhân : "Mẹ làm gương ẩn dật khiêm cung nhưng đồng thời Mẹ luôn luôn hiện diện phục vụ; Mẹ không ra mặt, không lên tiếng, nhưng Mẹ hằng ở gần bên Chúa Giêsu : sống trọn vẹn cho Chúa và Chúa trong con" (ĐHV. Số 926).

"Những lúc vinh hiển nhất của đời Chúa Giêsu : Núi Taborê, vào thành Giêrusalem, làm phép lạ... Mẹ ở trong bóng tối. Những giây phút nguy hiểm, đau buồn nhất, Mẹ can đảm hiện diện : di tản sang Ai Cập, dọc đường tử nạn bi thảm, nát lòng dưới thánh giá, cầu nguyện trong nhà tiệc ly. Mẹ không sống cho Mẹ, chỉ sống cho Chúa, cho công cuộc cứu chuộc" (ĐHV. Số 928).

"Đức Mẹ hoàn toàn sống cho Chúa Giêsu, sứ mạng của Mẹ là đồng công cứu chuộc với Chúa Giêsu. Tất cả vinh danh của Đức Mẹ là do nơi Chúa Giêsu. Đức Mẹ không là ai cả, nếu con không phải là Chúa Giêsu, nếu cả đời Đức Mẹ không phải là cho Chúa Giêsu. Đời con không là gì cả nếu tách lìa Chúa Giêsu" (ĐHV. Số 936).

"Mẹ Maria không chỉ nhìn Chúa Giêsu, Mẹ nhìn bà Isave, nhìn Gioan, nhìn đôi tâm hồn ở Cana... Con hãy có cái nhìn của Mẹ: nhìn Chúa, nhìn người" (ĐHV. Số 948).

Nhất là dưới chân thập giá, Mẹ đã vững tin và vâng phục thánh ý Chúa cho đến cùng : "Nỗi đau khổ càng gia tăng khi cảm thấy mình bất lực; dưới chân thánh giá, Mẹ nhìn con thân yêu, Mẹ bất lực hoàn toàn; càng yêu thương, lòng Mẹ càng tan nát. Nhưng Mẹ đứng vững, để Mẹ ấp ủ con những khi con cảm thấy bất lực trước đau khổ" (ĐHV. Số 944).

"Dưới chân thánh giá, con thấy Mẹ Maria đạt đến mức độ anh hùng của mọi nhân đức : hiền lành, khiêm nhượng, thinh lặng, nhẫn nại, tin tưởng, cậy trông, yêu mến. Mẹ nghèo trơ trọi vì mất cả con ruột là Giêsu, Thiên Chúa làm người. Mẹ mến Chúa đến hiến dâng cả mạng sống mình và máu Con để cứu chuộc nhân loại. Mẹ chết tử đạo vì không được chết theo con. Mẹ tin cậy vững vàng trước điều thiên hạ cho là thất bại sụp đổ hoàn toàn: Chúa chết !" (ĐHV. Số 945).

Là con cái của Mẹ, người tín hữu phải:

- Tin tưởng chạy đến với Mẹ: "Đứa con có bệnh tật, xấu xí, người mẹ vẫn thương yêu. Dù con nguội lạnh, tội lỗi, phản bội, con hãy phó mình trên tay Mẹ. 'Chúa Giêsu trối: Đây là Mẹ con !' Nỡ nào Mẹ bỏ con" (ĐHV. Số 914).

"Lúc ngã sa, con hãy khiêm tốn, khóc lóc với Mẹ, vì con đã giết chết con Mẹ, Mẹ sẽ đón nhận con. Gioan Mẹ cũng nhận, người trộm lành, Mđalêna, Mẹ cũng nhận làm con Mẹ" (ĐHV. Số 915).

- Siêng năng lần chuỗi Mân Côi: "Chuỗi Mân Côi là giây ràng buộc con với Mẹ, là cuốn phim kỷ niệm con đường hy vọng của Mẹ: âu yếm như Bêlem, khắc khoải như Ai Cập, trầm lặng như Nazareth, lao động như xưởng mộc, sốt sắng như đền thờ, cảm động lúc Chúa giảng, đau khổ bên thánh giá, vui mầng lúc phục sinh, tông đồ bên thánh Gioan. Tóm tắt lại, Chúa sống trong Mẹ, Mẹ trong Chúa, hai cuộc đời chỉ là một. Đừng bỏ chuỗi Mân Côi Mẹ đã trao và nhắn nhủ con sống như Mẹ, với Mẹ, nhờ Mẹ, trong Mẹ" (ĐHV. Số 922).

- Noi gương Mẹ cưu mang và đem Chúa đến cho mọi người: "Bất cứ chỗ nào con cũng noi gương Mẹ Maria, cho thế gian Chúa Giêsu. Điều kiện không phải là nơi chỗ, vì lần đầu tiên, trong chuồng bò, Mẹ đã cho các mục tử Chúa Giêsu. Điều kiện là con phải sống bác ái, hiệp nhất vì lúc ấy mới có Chúa Giêsu ở giữa con. Đời con phải là một lễ Giáng Sinh liên lỉ, mang Chúa Giêsu đến cho mọi người" (ĐHV. Số 940).

Sống như Mẹ đã sống, người lữ khách trần gian sẽ đến được bến bờ bình an.

ààà

Cuộc đời là một chuyến đi, đi về vĩnh cửu thiên thu là Nhà Cha dấu yêu. Trần gian chỉ là quán trọ, là nơi nghỉ chân bên đường. Nhưng nhiều khi người lữ khách trên đường hy vọng lại đam mê, vấn vương với bụi trần, khó lòng siêu thoát để nhẹ nhàng tiến bước. Đức cố Hồng y F.X đã đi trước chúng ta và đã đạt đến cùng đích của mình cũng là cùng đích của nhân loại. Từ những suy tư và kinh nghiệm sống, ngài đã chỉ ra cho chúng ta những nẻo đường tuy "chật hẹp" nhưng lại an toàn dẫn đưa chúng ta tiến vào Quê Trời. Đó là Linh Đạo Hy Vọng, là con đường tươi sáng, mang lại hy vọng cho mọi người, cho cả thế giới.

Ước gì Linh Đạo Hy Vọng này ngày càng tỏa sáng nơi con người, nơi cuộc sống chứng nhân của mỗi người chúng ta, là những người con, những môn sinh của ngài, để thế giới hôm nay đang lầm lủi bước đi trong đêm tối của chủ nghĩa bất tín, duy vật, hưởng thụ, của nền văn minh sự chết được chiếu sáng và sưởi ấm bằng ngọn lửa tin yêu, ngọn lửa Thần Khí mà Đức Giêsu đã đem đến trong trần gian và ước mong cho nó được cháy sáng lên (x. Lc 12, 49).

Và đó cũng là mong ước của Đức cố Hồng y F.X       

Trở về mục lục >>

 

 SỐNG ĐẠO

ĐỨC TIN BỊ CÀI ĐẶT - KHỦNG BỐ VÀ BỊ KHỦNG BỐ

 

Khổng Nhuận

Đức tin bị cài đặt (installed)

Mới nghe qua quý vị chắc khó có thể chấp nhận được vì Đức tin quý báu vô cùng, do Chúa ban cho nhưng không, Sao lại dám cả gan bảo Đức tin bị cài đặt - hay Đức tin bị nhồi sọ.

Mời quý vị theo dõi mẩu chuyện thứ nhất:

Theo bạn, Đức tin căn bản của đạo Công giáo là gì?