LINH ĐẠO HY VỌNG  

Hoàng Văn Phúc

Đức cố Hồng y F.X Nguyễn Văn Thuận, người cha, người thầy đáng kính và thân thương của chúng ta đã hoàn tất cuộc lữ hành trên đường hy vọng. Năm nay chúng ta cử hành lễ giỗ thứ ba của ngài. Với 74 năm hiện diện trên trần thế, ngài đã đi qua một quãng đường "hân hoan có, gian khổ có nhưng luôn luôn tràn trào hy vọng, vì có Chúa và Mẹ Maria bên ngài." [1] Ngài đã sống một cuộc đời "hạnh phúc và vui tươi, vì ngài đã luôn hy vọng vào Chúa và chỉ biết yêu thương" [2] dù đã trải qua biết bao vinh nhục, thăng trầm của cuộc sống.

Là một con người thấm nhuần Tin Mừng, Công đồng Vatican II, nhất là Hiến chế mục vụ Giáo Hội trong thế giới ngày nay, Gaudium et Spes - Vui Mừng và Hy Vọng, ĐHY F.X đã trở thành một con người vui tươi, hy vọng; một mục tử thánh thiện, tài ba; một nhân chứng anh dũng, can trường của Đức Kitô trong thời đại hôm nay. Cuộc đời gương mẫu của ngài và những gì ngài đã cảm nghiệm, đã viết, đã chia sẻ cho chúng ta qua nhiều tác phẩm, thư mục vụ, bài giảng… quả là một di sản tinh thần lớn lao mà ngài đã để lại cho chúng ta, những con người còn là lữ khách trên đường hy vọng. Điều đáng lưu ý là ngài đã đúc kết và thường xuyên nhắc nhớ cho chúng ta con đường thiêng liêng, con đường siêu nhiên và cũng là con đường tâm linh giúp chúng ta biết quay trở vào nội tâm để nhận ra "cái tôi chân thực" của mình, để từ đây chúng ta có thể tiếp cận, gặp gỡ, yêu mến và sống gắn bó nên một với Chúa, Đấng luôn luôn hiện diện trong sâu thẳm của lòng ta. Đây là con đường hy vọng hay còn gọi là Linh Đạo Hy Vọng mà ĐHY F.X đã triển khai trong ba tác phẩm : Đường Hy Vọng (1975), Đường Hy Vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Công Đồng Vatican II (1979), Những người lữ hành trên Đường Hy Vọng (1980).

Xin mạo muội trình bày một vài nét về Linh Đạo Hy Vọng mà ĐHY F.X đã đề cập đến trong tác phẩm "Đường Hy Vọng", như là thắp lên một nén hương lòng, thành kính tưởng nhớ ngài nhân lễ giỗ năm nay.

ààà

Yêu mến và sống gắn bó kết hiệp với Chúa là ơn gọi cao quý của chúng ta trong cuộc đời này và là hạnh phúc vĩnh cửu của chúng ta trong Nước Trời mai sau. Con đường nên thánh chính là con đường đạt tới sự viên mãn của đức ái. Yêu thương là đã chu toàn mọi lề luật (Rm 13, 10). Vì thế, linh đạo không phải chỉ là con đường tu đức, giúp con người từ bỏ tội lỗi, sửa chữa sai lầm để tiến đến toàn thiện. Linh đạo còn là đường lối dẫn con người thoát ra khỏi cái tôi nhỏ nhoi, ích kỷ, khô cứng để có thể bay cao vào trong quỹ đạo yêu thương của Thiên Chúa, hiệp nhất với Người và với tha nhân. ĐHY F.X đã chỉ cho chúng ta con đường sống hạnh phúc và vui tươi như thế trong Linh Đạo Hy Vọng.

I. TỪ BỎ CHÍNH MÌNH

Chúa Giêsu đã khẳng định: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo" (Mt 16, 24). Chúa Giêsu là con đường nhưng đồng thời cũng là cùng đích của con đường đó cho chúng ta. "Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy." (Ga 14, 6).

Đức cố Hồng y đã triển khai đòi hỏi căn bản này như sau :

Bí quyết của đường hy vọng gồm ba điểm:

1. Ra đi: "Bỏ mình"

2. Bổn phận: "Vác thánh giá mình mỗi ngày"

3. Bền chí: "Theo Thầy" (Đường Hy Vọng. Số 2)

Từ bỏ cái tôi của mình, hư vô hóa bản thân là điều kiện tiên quyết và tối hậu cho những ai muốn làm môn đệ của Đức Kitô, muốn đi theo con đường Đức Kitô đã đi: "Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì con chưa bỏ gì cả, vì chính mình con sẽ dần dần quơ góp lại những gì con bỏ trước" (ĐHV. Số 3).

Từ bỏ chính mình không phải là điều dễ dàng, trái lại nó đòi hỏi phải hy sinh nhiều, phải chịu nhiều đau khổ, thậm chí phải sẳn sàng chết đi như Đức Giêsu đã nêu gương cho chúng ta:  "Thưa: 'Vâng' là dễ, nhưng hãy xem Chúa Giêsu theo tiếng gọi cho đến chết trên thánh giá. Hãy bỏ mình, vác thánh giá mỗi ngày và đóng đinh mình trên thánh giá ấy." (ĐHV. Số 73).

"Tại sao con khư khư ôm lấy công việc nọ, công việc kia, không chịu buông ra khi thượng cấp thuyên chuyển ? Việc đó của Chúa hơn là của con ! Có Chúa lo" (ĐHV. Số 78).

Việc từ bỏ chính mình không phải chỉ làm một lần là xong, nhưng đó là một quá trình lâu dài và liên tục chúng ta phải thực hiện cho đến khi nhắm mắt lìa đời: "Tiếng gọi vẫn tiếp tục nhắc nhở con trong mọi việc nhỏ: 'Hãy theo Thầy!' và tiếng 'Vâng' của con cũng tiếp tục cho đến hơi thở cuối cùng” (ĐHV. Số 72).

Chỉ khi biết từ bỏ chính mình, trở nên trống rỗng, chúng ta mới có thể gặp Chúa, đón nhận Người, yêu mến và gắn bó nên một với Người.

II. CẦU NGUYỆN LIÊN LỈ

Chúa Giêsu đã tha thiết mời gọi mọi người: "Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người" (Lc 21, 36). "Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ vì tinh thần thì hăng hái nhưng thể xác lại yếu đuối" (Mc 14, 38).

Đức cố Hồng y thường nhắc nhớ chúng ta rằng: cầu nguyện là nền tảng của đời sống Kitô hữu; cầu nguyện là gặp gỡ, kết hợp với Chúa, là tiếp nhận sự sống thần linh từ nơi Người, là cảm nếm trước hạnh phúc thiên đàng: "Cầu nguyện là nền tảng của đời sống thiêng liêng. Lúc cầu nguyện con nối liền, kết hợp với Thiên Chúa. Bóng điện sáng nhờ nối liền với máy phát điện" (ĐHV. Số 120).

"Người ta sống không chỉ nhờ bánh mà còn nhờ lời Chúa : Thánh Thể, Thánh Kinh, Thánh Nguyện. Nếu không, con không có sự sống Thần Linh" (ĐHV. Số 136).

Theo Đức Hồng y, cầu nguyện không chỉ là đọc kinh nhưng chủ yếu là gặp gỡ, tâm tình với Chúa như người con nói chuyện với Cha mình: "Chúa dạy đọc kinh để giúp con cầu nguyện, nhưng việc chính là gặp gỡ, nói chuyện giữa Cha và con: 'Khi con cầu nguyện, đừng lo phải nói gì ! Hãy vào phòng đóng cửa, cầu nguyện với Cha của con cách kín đáo, và Cha con thấy mọi sự, sẽ nghe lời con'. Không cần hình thức, chỉ cần tâm tình phụ tử." (ĐHV. Số 127). "Giờ cầu nguyện là giờ tâm sự với Chúa là Cha, chứ không phải là giờ làm bài, là giờ của quả tim, chứ không phải là giờ của luận lý. Đừng nặn óc bóp trán để trình bày với Chúa" (ĐHV. Số 142).

Vì thế đối với Đức Hồng y, cầu nguyện là ưu tiên số một, là phần tốt nhất hay có thể nói cầu nguyện là tất cả: "Thứ nhất cầu nguyện, thứ hai hy sinh, thứ ba mới đến hoạt động" (ĐHV. Số 119).

"Cha nói : 'thứ nhứt là cầu nguyện', không phải là vô căn cứ. Chúa Giêsu đã bảo : 'Maria đã chọn phần nhất', ngồi dưới chân Chúa, nghe lời Chúa, mến yêu Chúa. Maria đã được Thánh Thể, Thánh Kinh, Thánh Nguyện" (ĐHV. Số 129).

Cầu nguyện nói lên căn tính của người tín hữu, người được mời gọi nên thánh, nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện (x. Mt 5, 48). "Một người thánh mà không cầu nguyện là thánh giả. Con đợi xem, họ sẽ sụp đổ không mấy hồi" (ĐHV. Số 131). Cầu nguyện đem lại sức mạnh và sự hiệu quả cho đời sống đức tin cũng như việc tông đồ truyền giáo : "Muốn biết công việc Tông đồ của ai, con hãy xem người ấy cầu nguyện thế nào" (ĐHV. Số 132).

"Nhiều xứ không có linh mục đã vững đức tin suốt nhiều chục năm, nhờ đọc kinh cầu nguyện trong các gia đình" (ĐHV. Số 143).

Và ngược lại, không cầu nguyện là lý do chính yếu giải thích tại sao Giáo Hội đang phải đối diện với nhiều khủng hoảng trong thời đại hôm nay : "Tại sao trong Hội Thánh khủng hoảng ? Vì hạ giá sự cầu nguyện" (ĐHV. Số 134).

"Con ngạc nhiên vì sao nhiều người mất ơn Chúa gọi, mất đức tin, phản bội Hội Thánh ? Trong bao nhiêu lý do, luôn luôn có một lý do chính : họ bỏ cầu nguyện từ lâu" (ĐHV. Số 125).

Tóm lại, cầu nguyện thật nhiều, thật sâu và liên lỉ làm cho chúng ta ngày càng chìm sâu trong đại dương yêu thương của Thiên Chúa, dần dần trở nên đồng hình đồng dạng với Người.

III. YÊU MẾN THÁNH THỂ VÀ THÁNH LỄ

Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: "Đây là Mình Thầy hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy." (Lc 22, 19).

Công đồng Vatican II đã dạy: "Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch, là trung tâm và là cùng đích của đời sống Kitô hữu". ĐHY F.X đã cảm nghiệm và đã xác tín rất mạnh mẽ về chân lý này: "Con thiếu tất cả, con mất tất cả, nhưng con còn Thánh Thể là còn tất cả, vì con có Chúa Thiên Đàng dưới đất." (ĐHV. Số 363).

"Đèn không sáng nếu hết dầu, xe không chạy nếu cạn xăng, hồn tông đồ sẽ suy mạt nếu không đến với Thánh Thể : Ai không ăn thịt Ta và uống máu Ta, chẳng được sống đời đời" (ĐHV. Số 360).

"Mặt trời sáng và tung tỏa ánh sáng. Thánh Thể là sự sống và nguồn phát xuất sự sống Thần Linh, sự sống hòa hợp giữa các dân tộc : Thịt Ta làm cho thế gian được sống" (ĐHV. Số 361).

Theo ĐHY, Thánh Thể cho ta cảm nếm trước mầu nhiệm Nước Trời và hạnh phúc thiên đàng vì Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, thực sự ở với chúng ta cách trọn vẹn trong Bí tích cực thánh này: "Thánh Thể mặc khải cho trí hiểu biết mầu nhiệm Nước Trời sẽ đến sau này và sát nhập dân Chúa vào mầu nhiệm Nước Trời. Đức Tin không thể tồn tại nơi người Công Giáo sống ngoài Thánh Thể" (ĐHV. 379).

Vì tái diễn một cách mầu nhiệm hy lễ của Chúa Giêsu trên núi Calvê năm xưa, nên Thánh lễ có một giá trị vô song: "Con muốn hỏi: 'Cách gì đẹp lòng Chúa hơn cả?' Hãy tham dự Thánh lễ, vì không kinh, không tổ chức, nghi thức nào bằng lời nguyện và hy lễ Chúa Giêsu trên thánh giá." (ĐHV. Số 349).

"Con muốn vinh danh Chúa ? - Dự Thánh lễ. Con muốn cảm tạ Chúa? - Dự Thánh lễ. Con muốn cầu xin Chúa? - Dự Thánh lễ. Con muốn yêu mến Chúa? - Dự Thánh lễ. Con muốn cứu nhân loại? - Dự Thánh lễ. Chúa Giêsu đã làm như vậy" (ĐHV. Số 359).

Tuy nhiên, tham dự Thánh lễ là phải chấp nhận thực sự đóng đinh vào thập giá và uống cạn chén đắng với Chúa: "Mỗi lần dâng Thánh lễ là mỗi lần giang tay đóng đinh con lại trên thánh giá, và uống cạn chén đắng với Chúa. Đây không có chỗ cho khán giả" (ĐHV. Số 357).

Và Thánh lễ không chỉ tái diễn ở trong nhà thờ nhưng còn phải được chuẩn bị và kéo dài trong chính cuộc sống hằng ngày : "Cả cuộc đời Chúa Giêsu hướng về núi Calvariô, cả cuộc đời con hướng về Thánh lễ" (ĐHV. Số 356).

"Người thánh là người tiếp tục Thánh lễ suốt ngày" (ĐHV. Số 350).

"Đời con là một Thánh lễ…" (ĐHV. Số 372).

"Giọt nước hòa vào rượu thế nào, đời con tan biến trong Chúa Kitô như vậy" (ĐHV. Số 368).

Cuối cùng, người tín hữu biết sống tinh thần của Thánh lễ trong cuộc đời, sẽ là người, theo Đức Hồng y, có sức mạnh để canh tân thế giới tục hóa hôm nay : "Người công giáo 'Chúa Nhật' không đủ sức để cải tạo thế giới vật chất ngày nay. Sống Thánh lễ là bí quyết để đem Chúa cho thế giới và đưa thế giới đến với Chúa" (ĐHV. Số 366).

"Chúa Giêsu đã làm cách mạng trên thánh giá. Cuộc cách mạng của con phải bắt nguồn từ bàn thánh, tiếp tục cuộc cách mạng của Chúa, con sẽ làm nên một nhân loại mới" (ĐHV. Số 367).

Chúa Giêsu hiện diện gần gũi và đồng hành với chúng ta trong mọi biến cố cuộc đời, đặc biệt là trong Bí tích Thánh Thể. Siêng năng chạy đến với Người trong Bí tích Thánh Thể và sống tinh thần hy tế như Người trong thực tế hằng ngày, chúng ta sẽ tìm được sự sống, sức mạnh và sự an vui để dấn thân phụng sự Chúa trong mọi người và góp phần xây dựng Trời mới Đất mới.

IV. SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

Thông thường ở đời, giới trẻ thường hay nghĩ đến tương lai, người già thường hay nghĩ về quá khứ. Nhưng cuộc sống chỉ có ý nghĩa ở trong giây phút hiện tại. Chúa Giêsu đã khuyên chúng ta : "Anh em đừng lo lắng về ngày mai : ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy" (Mt 6, 34).

Đức cố Hồng y cũng đã mạnh mẽ nhắc nhớ chúng ta: "Con chỉ có một giây phút đẹp nhất : Giây phút hiện tại, sống trong tình yêu Chúa cách trọn vẹn; đời con sẽ tuyệt đẹp nếu kết tinh bằng từng triệu giây phút đẹp nhất. Con thấy đơn sơ, không phải khó !" (ĐHV. Số 997).

Ngài cho rằng : đời sống nhân bản, tinh thần và tâm linh của chúng ta phải luôn khởi sự từ bây giờ, trong chính lúc này - ở đây và phải khởi sự lại mỗi ngày vì không bao giờ là quá muộn màng cho chúng ta: "Con hỏi phải khởi sự sống nội tâm từ lúc nào ? Phải khởi sự ngay từ bây giờ và phải khởi sự lại mỗi ngày" (ĐHV. Số 91).

Nếu làm được như thế, luôn ý thức giây phút hiện tại và sống trọn vẹn từng giây phút đó trong tình yêu Chúa, chắc chắn cuộc đời chúng ta sẽ đẹp, sẽ nên thánh: "Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống. Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh. Đường hy vọng do mỗi chấm hy vọng. Đời hy vọng do mỗi phút hy vọng" (ĐHV. Số 978).

V. CHU TOÀN BỔN PHẬN HẰNG NGÀY

Chúa Giêsu đã quả quyết: "Ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào Nước Trời" (Mt 7, 21).

Theo Đức Hồng y: "Bổn phận là ý Chúa trong giây phút hiện tại" (ĐHV. Số 17). "Bổn phận là giấy vào nước Trời…" (ĐHV. Số 27).

Vì thế, là Kitô hữu, chúng ta phải thánh hóa bổn phận, thánh hóa chính mình và tha nhân qua việc chu toàn bổn phận hằng ngày: "Thánh hóa bổn phận của con. Thánh hóa người khác nhờ bổn phận con. Thánh hóa chính mình con trong bổn phận" (ĐHV. Số 19).

"Chỉ cần làm bổn phận trong giây phút hiện tại là nên thánh. Một khám phá, một mặc khải đem bình an và phấn khởi cho tâm hồn con" (ĐHV. Số 31).

Các thánh đã đạt tới vinh quang Nước Chúa là vì họ đã chu toàn bổn phận dù to dù nhỏ của mình : "Các thánh không nên thánh vì nói tiên tri hay làm phép lạ. Các ngài đâu làm gì lạ ! Họ chỉ chu toàn bổn phận" (ĐHV. Số 25). "Một vị thánh ngoài bổn phận là thánh ở xa xa thường hay 'làm phép lạ' sái nơi, sái giờ. Đến gần thì gây lộn xộn, và hoang mang khó sống" (ĐHV. Số 21).

Do đó, Đức HY mời gọi chúng ta cố gắng nên thánh trong công việc, trong môi trường sống của mình: "Thợ nên thánh ở công xưởng, lính nên thánh ở bộ đội, bệnh nhân nên thánh ở bệnh viện, học sinh nên thánh ở học đường, nông phu nên thánh ở ruộng rẫy, linh mục nên thánh trong mục vụ, công chức nên thánh ở công sở. Mỗi bước tiến là một bước hy sinh trong bổn phận" (ĐHV. Số 24).

Nhưng chu toàn bổn phận hằng ngày không phải là một việc làm thụ động, máy móc nhưng phải được đổi mới liên tục, để càng ngày càng thêm yêu mến và tín thác vào Chúa: "Song bổn phận hiện tại không phải là thụ động, nhưng: là liên lỉ canh tân, là quyết định chọn hay chối Chúa, là tìm nước Chúa, là tin ở tình yêu vô bờ của Chúa, là hành động với tất cả hăng say, là thể hiện mến Chúa yêu người, ngay trong giây phút này" (ĐHV. Số 26).

Chu toàn bổn phận phải luôn gắn liền với việc thực hiện ý Chúa, nếu không bổn phận sẽ trở thành đơn điệu, nặng nề cho chúng ta: "Không gắn bó với ý Chúa từng giây phút, con sẽ bỏ dở đường hy vọng, vì con cho bổn phận bình lặng, vô danh và đồng điệu quá !" (ĐHV. Số 35).

Điều an ủi cho chúng ta là khi chúng ta tiến lên trong bổn phận mỗi ngày, chúng ta sẽ gặp thấy sự nâng đỡ của Chúa: "Tiến lên trong bổn phận mỗi ngày, con sẽ thấy 'Ách Chúa êm ái, gánh Chúa nhẹ nhàng'" (ĐHV. Số 33).

Sau hết, cái chết cũng là bổn phận cuối cùng mà chúng ta phải sẵn sàng đón nhận với lòng yêu mến: "Chính sự chết cũng là bổn phận cuối cùng mà con làm cách sẵn sàng và đầy yêu mến" (ĐHV. Số 32).

Lời nguyện mà Đức HY muốn chúng ta thân thưa với Chúa mỗi ngày là: "Lạy Chúa, nơi bổn phận của con là núi Calvariô, và con là của lễ toàn thiêu." (ĐHV. Số 30).

VI. SỐNG VUI TƯƠI VÀ HY VỌNG

Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: "Các điều ấy Thầy đã nói với anh em để niềm vui của Thầy ở trong anh em và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn." (Ga 15, 11).

Đức Cố Hồng y khẳng định với chúng ta rằng: "Thánh thiện đâu phải là nhăn nhó, cực khổ, đau thương ! Thánh thiện là tươi vui liên lỉ vì được Chúa, 'được đất trên trời là của mình vậy'" (ĐHV. Số 532).

Nếu chúng ta thực sự là những người bước theo Đức Giêsu trên con đường Người đã đi thì chúng ta không thể không vui tươi được vì Người đã thắng thế gian và vì Người luôn đồng hành với chúng ta: "Con phải vui tươi luôn. Đường hy vọng không thể chấp nhận lữ hành buồn phiền được, đường hy vọng đem lại vui tươi." (ĐHV. Số 535).

Nếu chúng ta không vui tươi là vì chúng ta không có cái nhìn siêu nhiêu hay là vì tương quan giữa Chúa và chúng ta đã có cái gì trục trặc: "Đừng buồn phiền, hãy có cái nhìn siêu nhiên và con sẽ thấy mọi sự dưới khía cạnh mới." (ĐHV. Số 533).

"Tại sao không vui ? Chắc là giữa tâm hồn con với Chúa có điều gì không thỏa. Xét mình đi, con sẽ thấy ngay" (ĐHV. Số 534).

Khi gặp cảnh gian truân hay thất bại, chúng ta càng phải vui tươi, tạ ơn Chúa hơn nữa vì chúng ta có dịp thông phần vào cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu: "Nếu con làm vì Chúa, tại sao con nản lòng ? Càng gian truân con càng vui tươi như Gioan và Phêrô bị đánh đập ở hội đường 'ra về vui vẻ vì được xứng đáng chịu sỉ nhục vì danh Chúa'; như Phaolô: 'Tôi tràn đầy vui tươi giữa những thử thách của tôi'" (ĐHV.536).

"Thành công, con cảm ơn Chúa; thất bại, con cũng cảm ơn Chúa, vui tươi mãi... Chính là lúc Chúa muốn thử xem con làm vì Chúa hay vì ý riêng con. Vui vẻ, can đảm lúc thất bại khó khăn hơn hân hoan lúc suôi may; hạng anh hùng này con đếm được đầu ngón tay" (ĐHV. Số 537).

Vui với mọi người, vui trong mọi hoàn cảnh. Đó là sự thánh thiện còn lớn hơn việc ăn chay hãm mình : "Vui với người thương con. Vui với người ghét con. Vui lúc con hớn hở. Vui lúc lòng con đau khổ tê tái. Vui lúc mọi người theo con. Vui lúc con cô đơn bị bỏ rơi. Vui tươi và làm cho mọi người đến với con cũng cảm thấy bầu khí vui tươi, mặc dù lòng con tan nát. Đó là thánh thiện hơn mọi sự ăn chay hãm mình" (ĐHV. Số 539).

Sau cùng, nụ cười, niềm vui của chúng ta chính là món quà lớn lao mà chúng ta có thể hiến tặng cho tha nhân: "Con không có tiền ? Con không có quà để tặng ? Con không có gì cả. Con quên tặng họ niềm vui, tặng sự bình an mà thế gian không thể cho được, kho tàng vui tươi của con phải vô tận" (ĐHV. 540).

Cùng với thái độ vui tươi, luôn luôn hy vọng, theo Đức cố Hồng y, phải là cung cách sống nền tảng của tín hữu - người lữ khách trần gian: "Người Công Giáo là ánh sáng giữa đen tối, là muối sống giữa thối nát, và là hy vọng giữa một nhân loại thất vọng" (ĐHV. Số 950).

"Con hãy làm cho người công giáo tin tưởng ở ơn thiên triệu Kitô hữu, ơn thiên triệu gia đình, ơn thiên triệu vợ chồng, ơn thiên triệu nghề nghiệp. Họ sẽ hết chán nản, họ sẽ tràn đầy hy vọng vì họ ý thức rằng, Đấng đã gọi sẽ đưa họ đi đến cùng đích" (ĐHV. Số 969). "Không thể quan niệm được một Kitô hữu không mê say đem hy vọng ngập tràn thế giới" (ĐHV. Số 972).

Lý do để chúng ta luôn luôn hy vọng là vì Chúa yêu thương chúng ta, yêu thương trần gian và đã cứu độ trần gian: "Con phải loan Tin Mừng trên thế giới, không phải chỉ tiêu cực giữ giới răn, nhưng loan báo một sứ điệp lạ lùng : Chúa thương yêu ta, Chúa yêu thương trần gian và cứu trần gian" (ĐHV. Số 955).

"Yêu Chúa là yêu trần gian. Mẹ say Chúa là mẹ say trần gian. Hy vọng ở Chúa là hy vọng trần gian được cứu rỗi" (ĐHV. Số 954).

Hơn nữa, niềm hy vọng của chúng ta là Đức Kitô sẽ lại đến trong vinh quang để dẫn đưa mọi người vào sự sống muôn đời : "Kitô hữu là 'những người đợi chờ, những người hy vọng Chúa quang lâm'" (Thánh Phaolô) (ĐHV. Số 952).

"Con không trông đợi một cuộc sống khác. Con 'tin hằng sống vậy', niềm hy vọng ấy đã đâm chồi nơi con, và sẽ tiếp tục tưới nó bất tận" (ĐHV. Số 967).

Do đó, người tín hữu phải yêu mến và ra sức thực hiện sứ vụ của mình vì họ là những người thực hiện đời đời trong đời tạm này: "Giáo dân là người mến yêu sứ mạng trần thế của mình, là người thực hiện đời đời trong đời tạm; là người tin rằng Chúa giao cho mình trần gian và anh em, để đưa họ đến cứu rỗi vĩnh cửu; là người xác tín rằng Chúa ban sự cứu rỗi, nhưng Chúa đòi việc hợp tác của con người. Biết hy vọng, bảo đảm hy vọng, mang lại hy vọng" (ĐHV. Số 963).

"Người hy vọng là người cầu nguyện. Đối tượng của lời cầu nguyện cũng là đối tượng của niềm hy vọng. Người hy vọng là cộng tác viên của Thiên Chúa. Ngài tìm họ để hoàn tất việc tạo dựng và cứu chuộc của Ngài" (ĐHV. Số 964).

Nếu có lúc nào đó, vì yếu đuối mà sa ngã, chúng cũng hãy hy vọng vì Chúa luôn tha thứ cho chúng ta : "Hãy cố gắng, dù yếu đuối ngã sa, con hãy xin Chúa thứ tha và tiếp tục tiến. Trên võ đài, trong vận động trường quốc tế, các lực sĩ cũng lắm lần ngã quị, bị nhiều cú đấm, bị thương tích, nhưng cứ vùng dậy, cứ hy vọng, họ đã đoạt giải vô địch quốc tế" (ĐHV. Số 971).

Trên bình diện thế giới, nhân loại hôm nay dù đã tiến bộ vượt bậc về khoa học, kỹ thuật, kinh tế, xã hội… nhưng vì khước từ Thiên Chúa, chạy theo văn minh sự chết nên họ thiếu niềm hy vọng, họ cần hy vọng để tiến, cần tình yêu để sống: "Con người nghĩ rằng khoa học càng tiến bộ, Thiên Chúa càng thoái lui. Trong lòng nhiều người 'Chúa chết rồi', giờ đây lương tâm họ được giải thoát, nhưng cái tự do ấy làm cho họ hoang mang, hoảng hốt. Họ thiếu hy vọng" (ĐHV. Số 960).

"Thiên Chúa không lui bước trước tiến bộ của con người. Ngược lại càng đầy sức mạnh, con người càng cảm thấy cần hy vọng để tiến, cần tình yêu để sống. Nếu không có như thế, sống để làm gì ? Có đáng sống không ? Không lẽ hư vô và thù ghét là gia nghiệp của con người tiến bộ ?" (ĐHV. Số 959).

Vì thế, người tín hữu cần phải nhiệt tình giới thiệu, làm chứng về Chúa Giêsu, niềm hy vọng lớn lao nhất, cho nhân loại hôm nay : "Thời đại nào cũng có những người tự xưng là tiên tri, nhưng đường lối của họ không đem lại hy vọng cho nhân loại. Chỉ Chúa Giêsu tự xưng là 'Đường', chỉ Ngài đem lại hy vọng với kích thước của thế giới" (ĐHV. Số 961).

"Con người hy vọng để sống, để tiếp tục sống. Con người sẽ quay về với ai có thể mang lại cho họ niềm hy vọng lớn lao nhất: Niềm hy vọng ấy, Chúa Giêsu đã quả quyết: "Ta đến cho thế gian sống và sung mãn'. Niềm hy vọng ấy, Chúa ban qua tay Mẹ Maria: 'Nguồn hy vọng của chúng con'" (ĐHV. Số 962).

VII. YÊU MẾN VÀ NOI GƯƠNG MẸ MARIA

Trên thập giá, Chúa Giêsu đã nói với thánh Gioan : "Đây là Mẹ con" (Ga 19,27).

Đấng cứu thế đã tặng ban cho Giáo Hội và cho toàn thế giới hai "món quà" vô giá, đó chính là Thánh Thể và Thánh Mẫu của Người. Đức Hồng y F. X đã nhắc nhớ điều này: "'Đây là Mẹ con !' Sau phép Thánh Thể, Chúa không thể trối gì hơn cho con. Mẹ đã đạp đầu con rắn. Mẹ sẽ giúp con chiến thắng ma quỷ, xác thịt, thế gian. Mẹ sẽ ban ơn cho con giữ vững lý tưởng cao cả Chúa đã đặt vào lòng con" (ĐHV. Số 913).

Được làm con của Mẹ là diễm phúc lớn lao của chúng ta vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, cao cả, toàn năng: "Muốn biết Mẹ con tốt đẹp chừng nào, con hãy nhớ Mẹ Chúa Ngôi Hai, cao cả, toàn năng: Phúc cho con chừng nào vì Ngài cũng là Mẹ của con. Nếu không phải Chúa Giêsu nói, con không thể hiểu được" (ĐHV. Số 917).

Trên đường hy vọng, có Mẹ cùng đi, chúng ta không còn cô đơn: "Không có mẹ, dù mọi người lo lắng bảo đảm đến đâu, em bé cũng không đi theo. Nhưng đi với mẹ, băng rừng, vuợt suối, đói rét, em vẫn đi. Trong cuộc chiến, bao nhiêu bà mẹ chết rồi, con vẫn la lết nằm một bên. Trên đường hy vọng, con nắm tay Mẹ Maria; có Mẹ, đã cho con rồi, con không cô đơn. Mẹ là 'nguồn sống, là an vui, là hy vọng của chúng con'" (ĐHV. Số 910).

Đường hy vọng cũng là đường thơ ấu thiêng liêng. Chúng ta phải trở nên như trẻ thơ: nhìn Mẹ, tin Mẹ, làm như Mẹ, chúng ta sẽ nên thánh: "Muốn nên thánh, con hãy bắt chước trẻ thơ; nó không hiểu lý thuyết gì, nhưng nó nhìn mẹ nó, nó làm theo mẹ nó, nó tin mẹ nó biết tất cả, làm đúng tất cả. Nhìn Mẹ Maria, làm như Mẹ Maria, con sẽ nên thánh" (ĐHV. Số 918).

Như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, người con cưng của Mẹ đã cảm nghiệm và đã sống : Mẹ Maria là tất cả cho chúng ta: "Phản ứng đầu tiên của trẻ thơ là gọi: 'Mẹ ơi!' khi lo sợ, khi lúng túng, khi đau buồn. Tiếng Mẹ là tất cả cho trẻ. Con hãy năng gọi: 'Mẹ, Mẹ ơi! Con yêu mến Mẹ, Mẹ là tất cả của con'" (ĐHV. Số 921).

Mẹ là tất cả vì Mẹ là Đấng tràn đầy Thánh Thần (x. Lc 1, 28.35) : "Con là tâm hồn trẻ muốn sống rất trung thực, con hãy bắt chước Đức Mẹ; trong Đức Mẹ không còn cái 'tôi' nữa, tì vết của con người cũ không có. Đức Mẹ vô nhiễm và đầy tràn Chúa đến nỗi không thể nói đến Mẹ Maria mà không nghĩ đến Chúa Giêsu" (ĐHV. Số 941).

"Không Thiên Chúa, con hoàn toàn trống rỗng, cô đơn, khốn nạn. Mức độ sung mãn hạnh phúc của con người con tùy mức độ con liên lạc với Thiên Chúa. Mẹ Maria hoàn toàn hướng về Thiên Chúa; Ngài thấy Mẹ là thụ tạo toàn hảo như ý Ngài. Mọi sự tốt đẹp của Thiên Chúa biểu lộ cách trong sáng nhất trong Mẹ" (ĐHV. Số 942).

Mẹ là tất cả vì Mẹ tặng ban cho chúng ta món quà quý giá nhất là Chúa Giêsu, Con Mẹ : "Không quà gì quý bằng quà mà lòng Mẹ Maria tặng cho chúng ta: Chúa Giêsu, món quà quý nhất. Chính lòng Đức Mẹ cũng quý nhất vì 'Giêsu con lòng Bà'" (ĐHV. Số 923).

Yêu mến Mẹ, người tín hữu phải sống như Mẹ đã sống: "Mấy lời vắn tắt diễn tả cuộc đời Mẹ con; với tâm tình thánh thiện, hãy ghi vào lòng mà suy niệm và bắt chước : 'Này con là tôi tá: Ecce. 'Con xin vâng' : Fiat. 'Linh hồn con ngợi khen Chúa: Magnificat" (ĐHV. Số 920).

Mẹ không sống cho mình nhưng sống trọn vẹn cho Chúa và tha nhân : "Mẹ làm gương ẩn dật khiêm cung nhưng đồng thời Mẹ luôn luôn hiện diện phục vụ; Mẹ không ra mặt, không lên tiếng, nhưng Mẹ hằng ở gần bên Chúa Giêsu : sống trọn vẹn cho Chúa và Chúa trong con" (ĐHV. Số 926).

"Những lúc vinh hiển nhất của đời Chúa Giêsu : Núi Taborê, vào thành Giêrusalem, làm phép lạ... Mẹ ở trong bóng tối. Những giây phút nguy hiểm, đau buồn nhất, Mẹ can đảm hiện diện : di tản sang Ai Cập, dọc đường tử nạn bi thảm, nát lòng dưới thánh giá, cầu nguyện trong nhà tiệc ly. Mẹ không sống cho Mẹ, chỉ sống cho Chúa, cho công cuộc cứu chuộc" (ĐHV. Số 928).

"Đức Mẹ hoàn toàn sống cho Chúa Giêsu, sứ mạng của Mẹ là đồng công cứu chuộc với Chúa Giêsu. Tất cả vinh danh của Đức Mẹ là do nơi Chúa Giêsu. Đức Mẹ không là ai cả, nếu con không phải là Chúa Giêsu, nếu cả đời Đức Mẹ không phải là cho Chúa Giêsu. Đời con không là gì cả nếu tách lìa Chúa Giêsu" (ĐHV. Số 936).

"Mẹ Maria không chỉ nhìn Chúa Giêsu, Mẹ nhìn bà Isave, nhìn Gioan, nhìn đôi tâm hồn ở Cana... Con hãy có cái nhìn của Mẹ: nhìn Chúa, nhìn người" (ĐHV. Số 948).

Nhất là dưới chân thập giá, Mẹ đã vững tin và vâng phục thánh ý Chúa cho đến cùng : "Nỗi đau khổ càng gia tăng khi cảm thấy mình bất lực; dưới chân thánh giá, Mẹ nhìn con thân yêu, Mẹ bất lực hoàn toàn; càng yêu thương, lòng Mẹ càng tan nát. Nhưng Mẹ đứng vững, để Mẹ ấp ủ con những khi con cảm thấy bất lực trước đau khổ" (ĐHV. Số 944).

"Dưới chân thánh giá, con thấy Mẹ Maria đạt đến mức độ anh hùng của mọi nhân đức : hiền lành, khiêm nhượng, thinh lặng, nhẫn nại, tin tưởng, cậy trông, yêu mến. Mẹ nghèo trơ trọi vì mất cả con ruột là Giêsu, Thiên Chúa làm người. Mẹ mến Chúa đến hiến dâng cả mạng sống mình và máu Con để cứu chuộc nhân loại. Mẹ chết tử đạo vì không được chết theo con. Mẹ tin cậy vững vàng trước điều thiên hạ cho là thất bại sụp đổ hoàn toàn: Chúa chết !" (ĐHV. Số 945).

Là con cái của Mẹ, người tín hữu phải:

- Tin tưởng chạy đến với Mẹ: "Đứa con có bệnh tật, xấu xí, người mẹ vẫn thương yêu. Dù con nguội lạnh, tội lỗi, phản bội, con hãy phó mình trên tay Mẹ. 'Chúa Giêsu trối: Đây là Mẹ con !' Nỡ nào Mẹ bỏ con" (ĐHV. Số 914).

"Lúc ngã sa, con hãy khiêm tốn, khóc lóc với Mẹ, vì con đã giết chết con Mẹ, Mẹ sẽ đón nhận con. Gioan Mẹ cũng nhận, người trộm lành, Mđalêna, Mẹ cũng nhận làm con Mẹ" (ĐHV. Số 915).

- Siêng năng lần chuỗi Mân Côi: "Chuỗi Mân Côi là giây ràng buộc con với Mẹ, là cuốn phim kỷ niệm con đường hy vọng của Mẹ: âu yếm như Bêlem, khắc khoải như Ai Cập, trầm lặng như Nazareth, lao động như xưởng mộc, sốt sắng như đền thờ, cảm động lúc Chúa giảng, đau khổ bên thánh giá, vui mầng lúc phục sinh, tông đồ bên thánh Gioan. Tóm tắt lại, Chúa sống trong Mẹ, Mẹ trong Chúa, hai cuộc đời chỉ là một. Đừng bỏ chuỗi Mân Côi Mẹ đã trao và nhắn nhủ con sống như Mẹ, với Mẹ, nhờ Mẹ, trong Mẹ" (ĐHV. Số 922).

- Noi gương Mẹ cưu mang và đem Chúa đến cho mọi người: "Bất cứ chỗ nào con cũng noi gương Mẹ Maria, cho thế gian Chúa Giêsu. Điều kiện không phải là nơi chỗ, vì lần đầu tiên, trong chuồng bò, Mẹ đã cho các mục tử Chúa Giêsu. Điều kiện là con phải sống bác ái, hiệp nhất vì lúc ấy mới có Chúa Giêsu ở giữa con. Đời con phải là một lễ Giáng Sinh liên lỉ, mang Chúa Giêsu đến cho mọi người" (ĐHV. Số 940).

Sống như Mẹ đã sống, người lữ khách trần gian sẽ đến được bến bờ bình an.

ààà

Cuộc đời là một chuyến đi, đi về vĩnh cửu thiên thu là Nhà Cha dấu yêu. Trần gian chỉ là quán trọ, là nơi nghỉ chân bên đường. Nhưng nhiều khi người lữ khách trên đường hy vọng lại đam mê, vấn vương với bụi trần, khó lòng siêu thoát để nhẹ nhàng tiến bước. Đức cố Hồng y F.X đã đi trước chúng ta và đã đạt đến cùng đích của mình cũng là cùng đích của nhân loại. Từ những suy tư và kinh nghiệm sống, ngài đã chỉ ra cho chúng ta những nẻo đường tuy "chật hẹp" nhưng lại an toàn dẫn đưa chúng ta tiến vào Quê Trời. Đó là Linh Đạo Hy Vọng, là con đường tươi sáng, mang lại hy vọng cho mọi người, cho cả thế giới.

Ước gì Linh Đạo Hy Vọng này ngày càng tỏa sáng nơi con người, nơi cuộc sống chứng nhân của mỗi người chúng ta, là những người con, những môn sinh của ngài, để thế giới hôm nay đang lầm lủi bước đi trong đêm tối của chủ nghĩa bất tín, duy vật, hưởng thụ, của nền văn minh sự chết được chiếu sáng và sưởi ấm bằng ngọn lửa tin yêu, ngọn lửa Thần Khí mà Đức Giêsu đã đem đến trong trần gian và ước mong cho nó được cháy sáng lên (x. Lc 12, 49).

Và đó cũng là mong ước của Đức cố Hồng y F.X       

Trở về Muc Lục