Số 59, Ngày 24-9-2005

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Mất Mà Vẫn Được Lm. Vũ Xuân Hạnh

Căn Tính Đời Tu -  Hoàng Văn Phúc

Xét Đoán – Đoán Xét Xuân Thái

Thánh Piô: Chứng Nhân Trong Thời Khủng Hoảng - Đỗ Trân Duy

Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện - Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D.

Đón Nhận  - Hoa Nắng

Giải Đáp Thắc Mắc - Maranatha

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa Quý độc giả,

 

     Tết Trung Thu năm nay trôi qua với trăng tròn, nắng ấm của mùa thu mới chớm… Tết Trăng năm nào cũng thế..Trăng sáng trên cao. Hồn trẻ thơ sáng mặt đất. Nhưng Tết trăng năm nay có chút gì đó nhẹ nhàng hơn, đằm thắm hơn, có lẽ vì những khó khăn của cuộc sống thường ngày, hay vì ở quê nhà đây đó thiên tai cũng rình rập chực chờ. Tin thời tiết dự đoán cơn bão số 7 đang từ phía đông bắc Biển Đông ập tới một số nơi trong vùng. Việt nam ta chưa có được trang bị hệ thống phòng thủ hay cứu nạn, và rồi hậu quả có thể sẽ nặng nề hơn. Ở Hoa Kỳ, những mất mát khốn khổ mà cơn bão Katrina gây ra ở Louisiana chưa kịp lắng dịu thì cơn bão Rita lại đe dọa cả Louisiana lẫn Texas. Hằng trăm ngàn người đang di cư trong chờ đợi lo âu. Số người chết phát hiện tại New Orleans đã vượt con số 1000. Cái tên thành phố New Orleans với những đổ vỡ vừa qua làm sống lại mấy câu hát nức nở của The Animals trong thập niên 60:

 

There is a house in New Orleans
They call the Rising Sun.
And it's been the ruin of many a poor boy,
and God, I know, I’m one

 

Hiện nay cư dân New Orleans không ai biết The House of the Rising Sun tọa lạc ở nơi đâu, nhưng ngôi nhà ấy đã trở thành ngôi nhà của bao nhiêu người hiện nay đã mất mát quá nhiều qua một cơn bão lịch sử. Và cũng chính trong những ngày này, người ta nhớ đến một ngôi nhà khác, tu viện San Giovanni Rotondo ở Ý, nơi mà thánh Piô thành Pietrelcina đã sống gần như suốt đời mình để chia sẻ cuộc tử nạn của Chúa Kitô, trước khi về với Ngài ngày 23 tháng 9 năm 1968, để rồi được phong thánh vào ngày 16-6-2002.

 

Padre Pio nổi danh vì đã được ghi năm dấu thánh của Chúa Kitô trên chi thể của mình, từ năm 1918. Các vết thương ở bàn tay và bàn chân thường rướm máu vào ngày thứ sáu và nhất là vào ngày thứ sáu tuần thánh. Nhưng ngài được phong thánh không phải vì mang trên hình hài mình thương tích của Chúa Kitô mà vì ngài đã yêu mến Chúa một cách đặc biệt. Đức ái là nguyên tắc hướng dẫn cuộc sống của ngài: Yêu mến Chúa và làm cho mọi người yêu mến Chúa. Ưu tư hàng đầu của ngài là thăng tiến và làm cho mọi người thăng tiến trong Đức Ái. Ngài thể hiện đời sống bác ái đối với tha nhân bằng cách tiếp đón rất đông người đến với tòa giải tội của ngài, trong suốt 50 năm. Ngài phục vụ tất cả mọi người, khơi dậy đức tin, phân phối ân sủng, tỏa chiếu ánh sáng. Tuy nhiên ngài nhìn thấy rõ ràng hình ảnh Chúa Kitô trong những người nghèo, những người đau khổ hay bệnh hoạn, và ngài chăm sóc họ một cách đặc biệt. Suốt đời, ngài chỉ tìm kiếm vinh quang cho Thiên Chúa và thiện ích cho các linh hồn. Ngài đối xử với mọi người một cách công bình, chính trực và tôn trọng. Đức ái rạng ngời ấy, ngài múc lấy từ thánh lễ hằng ngày mà, với tư cách là một Alter Christus, ngài cùng hiến tế với Chúa Kitô.

 

Một hôm, có người hỏi ngài: Thưa cha, thánh lễ là gì đối với cha?

Ngài trả lời: Một sự kết hiệp trọn vẹn giữa Chúa Giêsu và cha.

- Chúng con phải tham dự thánh lễ như thế nào?

- Như Đức Mẹ và các phụ nữ thánh thiện dưới chân thập giá, với tình yêu và thương cảm. Như thánh Gioan tham dự bữa tiệc Tạ Ơn và Lễ Hy Sinh đổ máu trên Thập Giá.

 

Mừng lễ thánh Padre Piô ngày 23 tháng 9, Maranatha số 59 này sẽ dừng lại lâu hơn để học hỏi nơi ngài qua bài “Thánh Piô Năm Dấu.” Tuy nhiên, vì ngài là một linh mục đã sống trọn vẹn ơn gọi của mình với ba lời khấn Phúc Âm, nên Maranatha cũng dành nhiều trang để suy nghĩ về những đòi hỏi và hy sinh của đời tu, qua đó, chẳng những các linh mục tu sĩ cần nhìn lại con đường mà Chúa gọi mình, mà những ai sống trong bậc giáo dân cũng xem đấy là những đòi hỏi trọn lành của mọi Kitô hữu. Cũng vì thế mà từ số này, Maranatha bắt đầu loạt bài “Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện,” bởi vì con đường kết hiệp với Chúa không chỉ dành riêng cho các thánh nhân hay những bậc tu trì.

 

Và muốn được như thế, chúng ta cùng hướng lòng lên Chúa Kitô và lặp lại một đoạn kinh mà Thánh Piô đã từng cầu nguyện: Maranatha, lạy Chúa xin ngự đến.

 

"Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con cần có Chúa hiện diện bên mình để con không quên Chúa. Chúa đã biết con dễ bỏ Chúa đến chừng nào.

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con yếu đuối, con cần Chúa đỡ nâng để con khỏi ngã quỵ. Không có Chúa, con đâu còn nồng nhiệt hăng say.

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì trời đã xế, và ngày sắp tàn, cuộc đời qua đi, vĩnh cửu gần đến. Con cần thêm sức mạnh để khỏi dừng lại dọc đường.

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con cần Chúa trong đêm tối cuộc đời. Con không dám xin những ơn siêu phàm, chỉ xin ơn được Ngài hiện diện.

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con chỉ tìm Chúa, yêu Chúa và không đòi phần thưởng nào khác ngoài việc được yêu mến Chúa ngày càng hơn. Maranatha: Lạy Chúa, xin ngự đến!

MARANATHA



   Trở về mục lục >>


 

 

MẤT MÀ VẪN ĐƯỢC

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Đó là điều mà ai trong chúng ta cũng kinh nghiệm không ít. Bởi được và mất không thiếu trong đời người. Đang mất bỗng dưng lại được. Vừa mới được thì lại mất. Người đời hay nói, trong cái mất có cái được. Được và mất là hai phạm trù đối nghịch nhau hoàn toàn, nhưng có khi lại lồng trong nhau. Bởi có khi được mà lại mất. Hoặc chính lúc mất lại là lúc được. Có khi đã mất thực sự, nhưng ta lại khám phá ra có một thực tại nào đó mà ta vừa đạt được ẩn chứa bên trong cái đã mất.

Nếu gọi những đau khổ nhấn chìm con người, làm cả loài người hoang mang là mất mát, thì cái mất mát ấy, chưa hẳn đã là mất, hoặc chưa hẳn đã mất thực sự.

I. NHỮNG MẤT MÁT CỦA NHÂN LOẠI.

Đã thành thông lệ, kể từ sau biến cố giết chóc và phá hủy kinh hoàng ngày 11.9.2001, hàng năm, đúng vào ngày ấy, nước Mỹ tưởng niệm khoảng 3.000 nạn nhân của cuộc tấn công khủng bố tại Tòa Tháp Đôi Nữu Ước, vừa nhắc lại tội ác của những kẻ say máu giết người tàn nhẫn và gây rối loạn nền hòa bình thế giới, vừa như nhắc lại bài học cảnh giác cao đối với sự dữ do lòng người gây ra. Đó cũng là một bản án cần phải nhắc đi, nhắc lại để sự sống con người, nhất là của người vô tội phải được tôn trọng trên mọi thứ cần phải tôn trọng.

Năm nay, càng đau lòng hơn, khi nước Mỹ tưởng niệm lần thứ tư biến cố lịch sử và tội ác này trong thảm cảnh của cơn bão xoáy Katrina tàn phá đến ba tiểu bang: Louisiana, Mississippi và Alabama. Người ta ước tính, nạn nhân của trận bão này có đến 10.000 người chết và vô số các gia đình loạn lạc, nhà cửa, của cải mất trắng. Hy vọng con số 10.000 người bị hủy diệt chỉ là con số ước đoán. Nhưng dù sao đi nữa, đó vẫn là một đại họa kinh hoàng rất đỗi thương tâm.

Sự giận dữ của thiên nhiên quả là đáng sợ. Nó đáng sợ không cùng. Người ta chưa thể quên được trận cuồng phong động đất và sóng thần vào ngày 26.12.2004, đã bất ngờ ập đến, cùng lúc giết chết đến mười mấy vạn người và làm thiệt hại vật chất vô cùng lớn tại Nam Á. Nỗi đau của nhân loại bởi khủng bố và cuồng phong của những năm cũ gây nên hết sức kinh hoàng, vẫn còn đó những vết cắt chưa phai trong tâm hồn, chưa thể nguôi ngoai, thì nhân loại lại tiếp tục gánh chịu những tổn thất, những mất mát lớn lao mới của trận cuồng phong Katrina vừa qua. Nỗi đau cứ dồn dập kéo theo nỗi đau. Vì thế nỗi đau càng lớn, vết khắc của nỗi đau trong lòng người càng sâu, càng trở nên quá thương đau và sợ hãi.

Và đang khi tôi viết những điều này, cũng chính là lúc những tin tức đau thương về những hình ảnh mà bão Katrina vừa quét qua miền Đông Hoa Kỳ đã để lại, không ngừng được loan đi. Trong khi tàn dư của sự dữ vẫn chưa đến hồi kết thúc, thì lại được tin cơn bão mới, bão Ophelia đang trên đường kéo về tiểu bang South Carolina. Người ta cũng đang báo động về một cơn động đất lớn có thể sẽ tàn phá tiểu bang California. Dân chúng nước Mỹ hoang mang. Cả thế giới hướng về đó mà cứ phập phồng sợ hãi.

Kể từ sau cuộc khủng bố đẫm máu 11.9.2001, nước Mỹ nói riêng đã không có bình an, người Mỹ luôn phải sống trong sự cảnh giác cao, luôn luôn nơm nớp lo sợ, thế giới nói chung, cảm thấy bình an của chính mình bị đe dọa bất cứ lúc nào, thì bây giờ, sự mất bình an lại càng tiến tới xa hơn, lại càng làm cho người ta hoảng loạn và sợ hãi. Người ta không còn chỉ khiếp sợ lòng người độc ác mà bây giờ còn phải cảnh giác cả với thiên nhiên.

II. NHƯNG CHƯA HẴN ĐÃ MẤT.

Kinh nghiệm của mỗi người cho thấy, trong mọi biến cố, mọi hoàn cảnh xem như mất mát, chưa hẳn đã hoàn toàn mất. Nhìn thấy cảnh tương tàn, ta đau xót lớn, bởi nó chính là những trái ngang cắt xé lòng người. Đó là thực tế xót xa. Nhưng đàng sau cái thực tế mất mát mắt phàm nhìn thấy, lại là những cái được có khi còn lớn hơn, sâu sắc hơn, mạnh mẽ hơn cái đã mất.

1. KINH NGHIỆM TỪ NHỮNG TRANG KINH THÁNH VÀ LỊCH SỬ GIÁO HỘI.

Biết bao nhiêu những kinh nghiệm chưa hẳn đã mất sau những mất mát mà Thánh Kinh đã để lại.

Chẳng hạn, ngày Giacob bị mất tích Giuse, đứa con yêu quý nhất đời mình, do các anh của Giuse ghen ghét và bán cho lái buôn Aicập, Giacob chỉ thấy đó là bất hạnh, là thương đau. Ông đâu ngờ rằng, Thiên Chúa đã sử dụng hoàn cảnh bất hạnh của ông, của chính Giuse và tội ác của các anh em Giuse để cứu cả gia đình ông bởi cơn đói cùng cực hoành hành mấy chục năm sau ngày Giuse bị bán.

Hay cuộc thoát ly Aicập đầy những chông gai và cuộc thử thách nơi sa mạc ngàn dặm suốt bốn mươi năm trường sau đó, tưởng chỉ có chết chóc, đói rét, và mọi nguy hiểm khác, lại là cả một bài học lớn để dân Thiên Chúa tinh luyện đức tin của mình. Qua muôn vàn thử thách, Chúa dạy dân bài học của lòng trung thành và lòng yêu mến Chúa. Cũng từ những đau thương thử thách ấy, dân Chúa càng ngày càng lớn dần trong đời sống nội tâm, biết nội tâm hóa mọi biến cố trong cuộc đời, trong lịch sử của mình.

Rồi những năm tổ quốc Israel bị phân tranh, đến hai cuộc lưu đày chẳng bao lâu sau đó, là tất cả những nỗi nhục nhã, lầm than mà từ vua chúa đến thứ dân phải gánh lấy, cả một thời gian dài, đất nước không có vua, chừng như chỉ là thảm bại và nô lệ. Nhưng không hoàn toàn như thế. Chính trong cảnh lầm than khốn khổ của kiếp đày đọa nơi xứ lạ quê người, dân Chúa lại nhận được không biết bao nhiêu lời an ủi của Thiên Chúa. Rõ ràng Thiên Chúa không quay lưng lại với dân, ngược lại, nhưng một lần nữa đã lặp lại lời hứa cứu độ do Đấng Cứu độ của Thiên Chúa thực hiện. Đặc biệt hình ảnh Người Tôi Tớ đau khổ của Thiên Chúa, Đấng gánh lấy tội muôn dân, được tiên tri Isaia trình bày hết sức đậm nét và đáng kính phục.

Sau này trong Tân Ước, Đấng Cứu độ của lời hứa ấy là chính Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô đã đến gánh lấy tội muôn dân, làm trọn những gì mà tiên tri Isaia đã khắc họa nơi Người Tôi Tớ đau khổ của Thiên Chúa. Thời gian khổ nạn của Chúa Kitô, cứ nhìn theo con mắt loài người, đó chính là ô nhục, là bi đát, là tất cả sự thất bại của Thiên Chúa và của chính bản thân Chúa Kitô. Nhưng điều mà loài người không thể ngờ tới đó chính là, Thiên Chúa đã sử dụng chính cái chết bi ai của Chúa Kitô, cái chết do hành vi độc ác của loài người gây nên, quay lại cứu độ chính loài người. Từ trong cái chết của Chúa Kitô, bất cứ ai tin, bất cứ ai đón nhận Người đều được thanh tẩy, được sống trong sự sống của chính Thiên Chúa.

Cũng vậy, Giáo Hội thời sơ khai, kể từ sau ngày Chúa Giêsu về trời, gặp không biết bao nhiêu khốn khó từ các cơn bắt đạo trải dài hàng thế kỷ, lại là lúc Giáo Hội khẳng định đức tin của mình cách tuyệt vời, một đức tin chói lọi đến muôn đời sau. Bởi càng trốn chui, trốn nhũi để tìm mọi cách bảo toàn đức tin, Giáo Hội lại càng biểu lộ một năng lực sống lạ thường, một tình yêu đối với đức tin dũng mãnh, một sự bền vững trường tồn mà không có bất cứ thế lực có thể giết chết. Và chính trong điều kiện khó khăn như thế, mọi Kitô hữu đều cảm nhận rằng ơn Chúa ban như chạm đến được.

Tiếp theo tuyền thống đức tin của cha ông từ muôn thuở của mình, dọc dài lịch sử hai ngàn năm qua, Giáo Hội không ngừng đương đầu và vượt qua bao nhiêu thử thách từ bên trong lẫn bên ngoài. Nhưng chính trong những giai đoạn Giáo Hội phải chiến đấu và chiến thắng mọi khốn khó, lại chính là những giai đoạn Giáo Hội viết nên những trang lịch sử hùng hồn nhất, oanh liệt nhất.

Những gì được kể đến để chứng minh cho bài học từ cái mất và cái được chưa phải đã hết, chưa là tất cả. Nơi Thánh Kinh và lịch sử Giáo Hội vẫn còn không biết bao nhiêu những tấm gương lớn vô cùng như những kinh nghiệm thiêng liêng quý báu vun đắp cho chính niềm hy vọng của chúng ta. Suy nghĩ từ những trang Thánh Kinh và lịch sử Giáo Hội, để tìm những cái được từ trong cái đã mất sẽ cho ta thêm nghị lực, thêm ý chí, giúp ta vững vàng hơn, tin tưởng hơn, đủ sức mạnh vương lên xây dựng lại cuộc sống của mình, dù lắm lúc phải xây dựng lại từ đầu. Biết suy nghĩ để tự thắp lên trong lòng niềm lạc quan cũng chính là lúc ta tự tặng cho mình món quà ý chí để ta kiên vững mà chấp nhận thực tế mất mát, không nghi nan, nhưng dám sống đức tin.

2. CÁI ĐƯỢC TỪ NHỮNG ĐỔ NÁT CỦA HÔM NAY.

Đứng trước cả một thực tế ê chề mất mát mà lòng người và thiên nhiên tàn nhẫn gây nên, lại bảo rằng chưa hẳn đã mất, xem ra nói ngược, nói không thật, chí ít là nói để tự tìm niềm an ủi cho mình. Dù sao đó vẫn là sự thật. Đó vẫn là điều mà ta có thể tìm thấy nếu biết lắng đọng tâm hồn, biết suy nghĩ thấu đáo, và nội tâm hóa mọi biến cố, mọi hoàn cảnh xảy ra quanh ta. Và hôm nay, khi mà những tan thương mất mát đang diễn ra đây đó trong thế giới, chúng ta lại nhìn thấy những cái được còn đọng lại thuộc về tinh thần hơn, quý giá hơn những gì đã mất. Cái được đó chính là:

Con người biết khiêm tốn và ý thức phận mình. Phận người mong manh yếu đuối, có lẽ ai ai cũng biết thế. Nhưng cuộc sống thường nhật với tất cả những bộn bề của nó, dễ làm ta quên. Có khi ta để cho niềm ý thức về sự bất tất của kiếp người ấy, ngủ quên bằng một giấc ngủ rất sâu, rất dài trong một góc tâm hồn. Chỉ khi đối diện những đau thương mất mát, ta mới có dịp đánh thức niềm ý thức trên chính thân phận và cuộc đời mình. Vì thế, nỗi mất mát dễ giúp ta nhận ra thân phận mình mong manh, yếu ớt hơn là cuộc sống bình lặng ngày ngày cứ êm ả trôi đi. Ngay cả khi cuộc sống ấy đã có lần nào pha lẫn đôi chút ngọt bùi hay bất hạnh, dù vậy vẫn chưa đủ thấm để dọn đường cho một niềm ý thức sâu lắng về thân phận, hay một lòng khiêm tốn thẳm sâu cần phải có. Vì thế, chính lúc mất mát càng lớn, sự hủy diệt càng tàn nhẫn, thương đau càng oằn nặng, người ta càng dễ ý thức mình hơn, càng dễ đưa người ta về với sự khiêm tốn.

Ơn đức tin và ơn biết cầu nguyện. Chính lúc người ta nhận ra sức người chẳng là gì, họ sẽ tin tưởng hơn, biết sống bám vào đức tin hơn. Và chính lúc như chẳng còn biết cậy dựa vào ai, thì lòng tin sẽ chắp cánh cho lời cầu nguyện của con người. Họ sẽ biết cầu nguyện và cầu nguyện tha thiết. Chẳng hạn, sau cuộc đổ nát ngày 11.9.2001, người dân Mỹ biết cầu nguyện nhiều hơn và đông hơn. Nhiều thông tin cho biết, Chúa nhật thứ 24 thường niên của năm 2001, là Chúa nhật đầu tiên ngay sau ngày 11.9, dân chúng Mỹ đã tham dự thánh lễ đông hơn bao giờ hết, để cầu nguyện cho các nạn nhân, cho gia đình, cũng như cho sự hòa bình của quốc gia và thế giới. Họ tìm đến nhà thờ để lắng nghe Lời Chúa và tìm thấy nơi Lời ấy sự bình an cho tâm hồn của mình.

Sự trưởng thành. Không ai trong chúng ta lại muốn đối diện với đau khổ. Đau khổ là nỗi khiếp đảm của đời người. Vì thế nó ám ảnh ta bởi những thương tích hằn trong tâm mình. Càng khắc sâu vào tâm bao nhiêu, nó càng nên những ngọn roi tàn nhẫn nhất quất thẳng vào đời mình bấy nhiêu. Thế nhưng chính lúc những đau khổ làm ta trăn trở nhất, khó quên nhất, sẽ dạy ta nhiều kinh nghiệm sống nhất. Chính trong đau khổ, ta trưởng thành hơn, biết suy nghĩ chính chắn hơn, biết xoay sở hơn, vững vàng hơn, dám quyết đoán và kiên cường. Không biết tôi có tự mâu thuẫn hay suy nghĩ ngược với mọi người không khi cho rằng, nếu ai đó suốt cả một đời chỉ toàn sống trong nhung lụa, không hề nếm biết sự lo âu khắc khoải, chưa chắc đó đã là hạnh phúc. Vì như thế, cuộc sống của họ xem ra khá đơn tẻ. Bởi phải có mùa đông giá lạnh, ta mới hiểu hết thế nào là vẻ đẹp của mùa xuân. Đúng là đau khổ, trước sau vẫn chỉ là đau khổ. Nhưng cũng chính nó là phương cách tốt trao tặng ta sự trưởng thành cần thiết.

Bất hạnh tạo tình đoàn kết. Giữa cuộc sống bon chen đời thường, mấy khi ta dừng chân nghĩ đến anh chị em quanh mình. Chẳng hạn, một lúc nào đó, người ăn xin, em bé rách rưới, một phụ nữ bị bỏ rơi đang chìa tay chờ đợi ta, cầu xin ta ban cho một chút lòng thương xót, chẳng những không thèm nhìn đến, có khi ta còn coi đó là sự quấy rầy, gây bực mình, khó chịu. Ngược lại, những lúc phải rơi vào bấp bênh, phải đứng bên bờ vực của cái chết, những lúc phải chìm trong sự sợ hãi, người ta mới biết nắm tay nhau chặt hơn.

Trong những ngày này, sau khi cơn bão Katrina tàn phá miền Đông nước Mỹ, giữa lúc mà con người chới với, chứng kiến hay cũng chẳng kịp chứng kiến cái chết của người thân và rất nhiều anh chị em quanh mình, người ta mới cảm thấy cần tới nhau, cần tới tình người, cần cả tập thể những con người quanh mình. Giữa lúc mà người ta không còn gì, thì người ta lại biết thương nhau, biết đưa mắt nhìn sang nguời bên cạnh. Chính trong cái nghèo, nghèo đến cùng cực của tai bay vạ gió, người ta lại dám chia sớt cho nhau. Bất hạnh là nỗi đau. Nhưng bất hạnh cũng sẽ là bài học dạy con người tình yêu, sự đoàn kết.

Nhân loại liên đới. Trong những tai họa xảy ra, dù bất cứ ở quốc gia nào, dân tộc nào, cả nhân loại vẫn thấy như nỗi đau ấy là nỗi đau của chính mình. Sau những cuồng phong bão táp, nhất là trong những ngày đổ vỡ như hiện nay, chúng ta đang chứng kiến những bàn tay con người đang vươn ra hết sức để cố nắm lấy nhau trong tình liên đới đại đồng. Cả thế giới như xiết tay nhau để cứu vớt, để tương trợ, để cùng nhau gầy dựng lại. Hình như ai ai cũng thấy mình muốn làm, hay phải làm một điều gì đó, để chỉ nhắm mỗi một điều, đó là cố gắng xoa dịu hết sức có thể, nỗi đau của anh em mình.

III. TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA VẪN SÁNG NGỜI.

Bị nhấn chìm trong đau khổ, thói thường lòng người dễ bất mãn, dễ để cho mình thua buồn và thua cuộc. Có người không thể chấp nhận hoàn cảnh, lên tiếng trách móc, oán than cho số phận, hoặc trách móc, oán than cho bằng được một ai đó, một cái gì đó. Có người không còn tha thiết với đức tin, thậm chí trách móc Thiên Chúa.

Tuy nhiên đau khổ có hai khuôn mặt. Mỗi khuôn mặt được thể hiện như thế nào là tùy vào suy nghĩ và thái độ sống của bản thân mỗi người. Vì thế, nếu ai biết để chính mình tắm trong tình yêu của Chúa bằng đời sống cầu nguyện, bằng tất cả nỗ lực khám phá đức tin, thì đau khổ là cách tốt nhất trui rèn đức tin, sự cậy trông và lòng mến của mình đối với Thiên Chúa. Ngược lại, nếu ai không dễ chấp nhận hiện thực mà mình phải gánh chịu, chắc chắn sẽ càng bức bách hơn, khốn cùng hơn, dễ lên tiếng oán than trách móc và lấy làm cay đắng cho số phận của mình. Chắc chắn, nơi khuôn mặt thứ hai này của đau khổ, sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy Thiên Chúa, chẳng bao giờ khám phá tình yêu của Người nơi những gì mình phải chịu.

Đó là khía cạnh con người. Về phía Thiên Chúa thì khác. Trong phong ba, tình yêu Chúa vẫn sáng ngời. Đức tin cho ta biết, sau những ngày Tuần Thánh u uất, sẽ đến Chúa nhật Phục Sinh rạng ngời. Bởi thế, bạn và tôi hãy nhìn vào tử thần để thấy sự sống. Nhìn vào thù hận để thấy ngọn lửa của yêu thương. Hãy nhìn vào cái mất để khám phá cái được. Chúng ta không được chết trong thất bại. Không được chết vì bi quan.

Thật ra con người không mất Thiên Chúa. Đúng hơn phải nói, Thiên Chúa mất con người. Chỉ có chúng ta từ bỏ Thiên Chúa ra đi (Lc 15, 13). Trong khi đó, Người lại cất công đi tìm ta từ trong mất mát. Dụ ngôn về con chiên lạc, đồng bạc bị mất, Người cha nhân hậu trong Tin Mừng đều cho thấy nỗi lòng yêu thương lớn lao đến mức tuyệt diệu của Thiên Chúa. Hơn ai hết, Thiên Chúa biết rất rõ, con người cần tình yêu của Người, vì thế, Người vẫn mãi mãi trung thành với tình yêu ấy.

Trong ba đào sóng cả, ta vẫn cảm nhận đến vô cùng tình yêu của Thiên Chúa nơi những việc làm hết sức cụ thể của mỗi con người. Ta vẫn thấy Thiên Chúa nơi bàn tay của những người cha, người mẹ, dù nguy hiểm đến đâu, vẫn quyết cứu con mình đến cùng. Ta vẫn thấy những bàn tay nối những bàn tay tương trợ dù là thân nhân hay cả những anh chị em chưa hề quen biết.

Những anh chị em bất chấp nguy nan, không màng danh lợi, quên cả sự sống của bản thân, lao vào nguy hiểm đang ngùn ngụt dâng cao để giải cứu các nạn nhân cũng là phản ảnh lớn lao của tình yêu Thiên Chúa. Người đang hiện diện nơi những cá nhân, những cộng đoàn, những tập thể mở rộng vòng tay đón nhận anh chị em gặp nguy nan, phải sống cảnh cơ bần đến ở với mình, chia sớt cùng mình từng chén cơm, bát nước. Thiên Chúa đang đến trong thế giới của nỗi khổ tâm của chúng ta qua những con người ngày đêm miệt mài tìm kiếm các nạn nhân bị bỏ quên, hay còn sót lại.

Tình yêu Thiên Chúa đang hoạt động ngày đêm nơi những anh chị em bỏ ăn bỏ ngủ để bới móc khắp nơi tìm lại xác của bao người đã chết vì tai nạn, đưa về cho thân nhân của họ. Hoặc nếu không tìm được thân nhân, chính họ đã chôn cất những người xấu số ấy ở nơi tử tế. Hay tình yêu của Thiên Chúa đang diện nơi rất nhiều tâm hồn hy sinh miệt dọn dẹp những tàn dư của cả một đống đổ nát kinh hoàn, và cố gắng xây dựng lại những gì đã mất mát.

Bởi đó, cái được lớn nhất mà con người nhận lãnh trong nỗi mất mát bi ai chính là, họ vẫn có bên mình Một Thiên Chúa là Cha đầy từ ái. Thiên Chúa đã yêu. Người vẫn yêu. Trong sóng gió kinh hoàng, tình yêu của Người lớn đến vậy!

            Trở về mục lục >>

š¶›

 

 


TU ĐỨC

CĂN TÍNH ĐỜI TU

Thư gởi một người bạn tu sĩ

Hoàng Văn Phúc

Dẫn nhập

Bạn thân mến,

Để sống đời dâng hiến một cách trọn vẹn, tốt đẹp và sinh nhiều hoa trái, cũng như để vượt qua được những khó khăn, thử thách trong bậc sống này, một trong những điều kiện đầu tiên, theo tôi nghĩ, là cần phải xác định rõ đâu là căn tính của người tu.

Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu… Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ” (Mt 8, 18-22). Đoạn Tin Mừng này, phải được hiểu theo tinh thần của bài giảng về sứ mệnh truyền giáo (Mt 10). Đức Giêsu đòi hỏi người muốn theo sát Ngài phải quyết liệt từ bỏ mọi tiện nghi đời sống, cũng như mọi tình cảm làm phân tâm. Từ bỏ chứ không phải phủ nhận, để trở nên khó nghèo. Khó nghèo về vật chất, về tinh thần, về tình cảm. Khó nghèo không phải là vì khổ hạnh cá nhân, nhưng vì sự tự do tâm linh, để người môn đệ, cũng như Thầy chí thánh, sống và hành động hoàn toàn cho Nước Trời. Người theo sát Chúa ở đây là ai  nếu  như  không phải là tu sĩ ? Như thế, căn tính của đời tu là: hoàn toàn hiến thân để sống Tin Mừng một cách trọn vẹn và triệt để. Ước muốn này được bộc lộ bằng ba lời khấn công khai được Giáo Hội chuẩn nhận một cách hợp pháp: khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục.

Xin được chia sẻ và trao đổi với bạn một vài nét cơ bản của ba lời khấn này.

ccc

Nếu căn tính của đời tu là muốn sống trọn vẹn và triệt để Tin Mừng, hay nói khác đi, là muốn theo sát Đức Giêsu Kitô, thì khi muốn tìm hiểu về ba lời khấn, điều cần thiết trước tiên là phải quy chiếu vào Người, xem Người đã sống ba nhân đức này như thế nào ?

I. Đức Khó Nghèo

Chúa Giêsu là gương mẫu về đức khó nghèo. Người đã xuất hiện như Đấng Mêssia của những người nghèo, Đấng được xức dầu thánh hiến để mang Tin Mừng đến cho họ (Lc 4, 18; x Mt 11, 5). Hơn nữa, chính Đấng Mêssia của người nghèo cũng là một người nghèo. Bêlem (Lc 2, 7), Nagiarét (Mt 13, 55), đời sống công khai (Mt 8, 20), thập giá (Mt 27, 35), bao nhiêu hình thức khó nghèo đó, Chúa Giêsu đã nhận lấy và thánh hiến đến độ hoàn hảo trần trụi.

Thánh Phaolô đã tóm tắt tất cả điều này trong Pl 2, 5–8: Chúa Giêsu đã hủy mình ra không, chia sẻ thân phận của người nghèo, và nâng cao phận người khi mời gọi họ đón nhận ơn cứu độ được thực hiện nhờ sự vâng phục của Người cho đến chết trên thập giá.

Từ chính cuộc đời Chúa Giêsu và những lời Người giảng dạy, chúng ta có thể xác định rằng cái nghèo mà người tu nguyện sống theo không phải chỉ là cái nghèo trong sở hữu mà còn phải là cái nghèo trong chính hiện hữu (nghèo trong hiện hữu là chẳng những không có mà còn không ham muốn tiền bạc, của cải, chức quyền, địa vị, tiện nghi, lợi lộc…); không phải chỉ là cái nghèo vật chất mà còn phải là cái nghèo tinh thần, nghèo tình cảm nữa (nghèo tình cảm không phải là không có tình cảm mà là tương đối hóa tất cả mọi tình cảm nhân loại, để chỉ quy chiếu về một tình yêu tuyệt đối, đó là tình yêu Thiên Chúa); không phải chỉ là cái nghèo vì lợi ích cá nhân, mà còn phải là cái nghèo vì lợi ích cộng đoàn, vì mục đích tông đồ (một người chỉ lo hoàn thiện bản thân mà không quan tâm hoàn thiện người khác cũng không phù hợp với tinh thần Tin Mừng).

Cái nghèo hiểu một cách toàn thể như thế chính là cái nghèo trong hiện hữu, trong thể tính. Cái nghèo đích thực này sinh ra nhiều hoa trái tốt đẹp.

Tự do: Cái nghèo như thế giúp chúng ta không bị nao núng, chao đảo, khi bị người ta hiểu lầm, bị người ta sỉ nhục, bị đối xử bất công… Nó giúp ta không đặt quá nhiều hy vọng vào con người, để rồi bị thất vọng về con người. Trái lại, chỉ nương tựa vào một mình Chúa mà thôi. Chúng ta được tự do, không bị chi phối bởi nết xấu, bởi tự ái; không bị tác động bởi dư luận, thị phi.

Bình an: Khi chúng ta chợt khám phá ra những khuyết điểm, giới hạn, yếu đuối, tội lỗi của mình thì chúng ta cũng chẳng ngạc nhiên mà cũng chẳng ngã lòng, bởi vì chúng ta là như thế, chúng ta không có ảo tưởng tốt đẹp về con người chúng ta. Chúng ta khiêm tốn sống thật con người mình trong sự phó thác vào ân sủng Chúa.

Sự thật: Một khi đã ý thức rõ về con người của mình với tất cả những yếu kém của nó, chúng ta sẽ thành thật, không giả hình, không gian dối, không tìm cách khiến người ta hiểu tốt cách không đúng về mình.

Cái nghèo hiện hữu là điều kiện quyết định để hình thành đức khó nghèo đích thực theo tinh thần Phúc Âm.

Phải có cái nghèo hiện hữu trước thì mới có thể có cái nghèo vật chất và cái nghèo tinh thần. Đối tượng của cái nghèo vật chất là tiền bạc, của cải, tiện nghi, lợi lộc… Đối tượng của cái nghèo tinh thần là những giá trị tinh thần như quyền lực, địa vị, uy tín, ảnh hưởng… Rất nhiều người, kể cả những người không thực sự nghèo về vật chất, vẫn ao ước sự giàu có vật chất hay luôn cố gắng làm sao cho có được nhiều của cải, nhất là của cải tinh thần. Đó là một khuynh hướng, một cám dỗ thường xuyên của con người. Cần phải có cái nghèo hiện hữu làm nền tảng vững chắc cho cái nghèo vật chất. Nếu không con người sẽ bực bội, khổ sở trong cảnh thiếu thốn, khó khăn hay người ta chỉ làm bộ tỏ ra nghèo túng như vậy để tăng thêm uy tín cho mình. Và chỉ khi nào người ta vui lòng chọn lấy cái nghèo hiện hữu trước, thì sau đó người ta mới có thể có được cái nghèo tinh thần, nghĩa là không còn ao ước giàu sang, quyền lợi, danh vị…

Ở chiều kích tông đồ cũng vậy, người tu phải có cái nghèo trong chính hiện hữu của mình mới có thể thực sự hòa mình với người nghèo, không chỉ để giúp họ thoát khỏi cảnh đói nghèo, dốt nát mà còn làm cho họ thoát khỏi mặc cảm thua kém và thăng tiến cả nhân phẩm và cuộc sống của họ. Chúa Giêsu đã hủy mình ra không, cắm lều giữa người nghèo để thăng tiến nhân phẩm của con người.

Tuy nhiên cũng cần lưu ý một điều là người tu phải sống cái nghèo hiện hữu một cách thực tế, một cách “nhập thể” chứ không phải là một cái nghèo trừu tượng, hoàn toàn không liên đới với những người nghèo chung quanh. Chúng ta phải lao động thực sự, phải có óc sáng tạo, phải chia sẻ sự quan tâm lo lắng về kinh tế, tài chánh với cộng đoàn, với những người nghèo chung quanh trong tinh thần phó thác vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Và nhất là, đừng bao giờ tuyệt đối hóa những của cải tự nhiên đến nỗi coi chúng là nền tảng của cuộc sống, của hạnh phúc, của uy thế mình trước mặt người khác. Chiến thắng được khuynh hướng bẩm sinh này, chúng ta mới đạt đến cái nghèo thực sự của lời khấn khó nghèo.

II. Đức Khiết Tịnh

Một khuynh hướng bẩm sinh khác của con người là muốn tuyệt đối hóa tình yêu nhân loại. Đặc điểm của khuynh hướng này là tính ích kỷ khiến cho con người một mặt, muốn chiếm hữu, muốn làm chủ cho được người mình yêu, coi đó là hạnh phúc cao nhất của đời mình. Mặt khác, con người không thể nào hiểu nổi điều này là có thể sống tình yêu bằng một lối sống hoàn toàn quên mình và không cần thể hiện bằng hành vi tính dục.

Chính Chúa Giêsu, qua cuộc sống trinh khiết như Gioan Tẩy Giả (Ga 3, 29) và Mẹ Maria (x Lc 1, 26-38), đã mạc khải đầy đủ ý nghĩa và đặc tính siêu nhiên của đức khiết tịnh. Nhân đức này không phải là một huấn lệnh (1 Cr 7, 25-30) nhưng là lời Thiên Chúa mời gọi từng người, là một đoàn sủng (1 Cr 7, 7). “Có những người là hoạn nhân do họ tự ý sống như thế vì Nước Trời” (Mt 19, 12). Chỉ có Nước Trời mới biện minh được cho đức khiết tịnh Kitô giáo và như Chúa Giêsu đã từng nói với các môn đệ: “Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy (đừng lấy vợ còn hơn), nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu” (Mt 19, 10). Vì thế, trước trào lưu tục hóa, duy vật, hưởng thụ và tháo thứ về luân lý của con người thời đại hôm nay, người sống đời tận hiến có thể minh chứng bằng chính đời sống của mình rằng: có thể sống phục vụ tha nhân bằng một tình yêu chân thực, bền bỉ mà không cần chiếm hữu đối tượng mình yêu thương và do đó, không cần những hình thức tính dục để biểu lộ tình yêu. Chúa Giêsu không những đã tuyên bố mà còn đã sống trọn vẹn chọn lựa này. Và đó cũng chính là nội dung của lời khấn khiết tịnh. Vậy khiết tịnh là gì ?

Khiết tịnh không phải chỉ là giữ mình trong sạch về phương diện luân lý. Khiết tịnh phải là một sức mạnh giải phóng giúp cho người tu biết yêu thương thực sự và yêu thương nhiều hơn.

Trong sạch là không làm gì vi phạm đến luật lệ, đạo đức và luân lý. Còn khiết tịnh luôn luôn giả thiết phải có trong sạch, nhưng còn vươn cao hơn, khiến cho sự trong sạch có được sức sống, có được sinh khí.

Trong sạch có thể đi đôi với kiêu ngạo, tự mãn và không biết yêu thương. Còn khiết tịnh, như thánh Phanxicô đã ca ngợi, giống như một dòng nước khiêm nhu, quý giá và trong ngần. Khiết tịnh là tình yêu dâng hiến nhưng không.

Cũng như tình yêu, khiết tịnh thì nhẫn nhục và dịu dàng, không gây gỗ, không ghen tị, biết vui vì sự thật, biết cảm thông, tin tưởng, hy vọng, chịu đựng. Cũng như tình yêu, khiết tịnh giả thiết phải có sự từ bỏ, nhưng không phải chỉ có từ bỏ, mà còn có khẳng định và hiện diện.

Vậy có thể nói đức khiết tịnh là đức yêu thương. Thiên Chúa là nguồn mạch mọi sự. Thiên Chúa là tình yêu, tình yêu lý tưởng, mẫu mực, bao la.

Người khiết tịnh là người hiểu được giá trị tuyệt vời của tình yêu Thiên Chúa, nên hiến trọn đời mình, cả xác và hồn cho tình yêu ấy. Đồng thời, bằng chính cuộc sống tận hiến, người khiết tịnh mạc khải cho người khác cũng hiểu được tình yêu tuyệt vời đó.

Người có gia đình hiểu được Thiên Chúa tình yêu nhờ và qua tình yêu vợ chồng. Tu sĩ độc thân hiểu được Thiên Chúa tình yêu không qua trung gian của tình yêu loài người.

Nếu bản chất của khiết tịnh là tình yêu, mà tình yêu là phải trọn vẹn, yêu cả xác lẫn hồn, thì khiết tịnh cũng liên quan đến con người toàn vẹn. Khiết tịnh bao gồm tất cả mọi khía cạnh của con người: thể lý, tâm lý, tình cảm, tình dục. Không là khiết tịnh nếu chỉ cố gắng giữ mình trong sạch trong lãnh vực cảm xúc. Khiết tịnh cũng bao gồm mọi chiều kích của cuộc sống: chiều kích cá nhân và chiều kích cộng đoàn.

Nếu sự lựa chọn sáng suốt là cần thiết trong bước đầu đời dâng hiến, thì sự trưởng thành chín chắn là rất quan trọng trong suốt cuộc đời tu trì. Vì vậy, đức khiết tịnh sẽ được tôi luyện qua những hoàn cảnh, những khó khăn cụ thể, qua cách nhận định và giải quyết những khó khăn ấy nhờ ơn soi sáng của Chúa. Tiến trình này là một tiến trình lâu dài trong suốt cuộc đời. Để thực hiện tốt tiến trình này, để có thể vững vàng trước mọi thử thách và có sinh khí tông đồ, tu sĩ phải luôn luôn ý thức về tính toàn vẹn và tích cực của đức khiết tịnh mà mình phải đào luyện mãi :

Toàn vẹn: Sống khiết tịnh không phải chỉ lo bảo vệ đức trong sạch, mà chủ yếu là phát triển tình yêu. Yêu Chúa và yêu tha nhân, yêu bằng cả con người toàn vẹn với cả xác hồn.

Tích cực: Là không phải chỉ lo thủ thế, lo giữ mình, lo chống chọi với khó khăn. Nhưng là rộng mở con tim, rộng mở tình thương của mình ra, làm cho tình yêu lan tỏa, giúp cho mọi người quanh mình biết yêu Chúa và yêu nhau nhiều hơn.

Vì khiết tịnh là yêu thương, yêu thương thì phải hiệp thông, nên sống khiết tịnh là còn phải hiệp thông với Chúa và với (anh) chị em trong cộng đoàn.

Người tận hiến khiết tịnh cần phải biết dành một khoảng thời gian và một khoảng không gian nội tâm cho Chúa. Chính sự cầu nguyện giúp chúng ta thực hiện sự hiệp thông với Chúa. Nhờ đắm mình và nuôi dưỡng mình trong cầu nguyện, chúng ta mới có thể thấy được Chúa trong đời sống và trong tha nhân; hiểu được Chúa muốn nói gì với chúng ta qua tha nhân và Chúa muốn chúng ta làm gì cho tha nhân.

Sự hiệp thông với Chúa là nền tảng cho sự hiệp thông trong cộng đoàn. Chính sự hiệp thông thực sự giữa (anh) chị em trong cộng đoàn mới làm cho đời ta bớt nặng nề, khô cằn và khó chịu.

Nhờ có hiệp thông với Chúa và với (anh) chị em trong Dòng, đức khiết tịnh sẽ giúp con người triển nở trọn vẹn, đạt tới sự tự do trong sáng và quang tỏa niềm vui ra chung quanh. Đức Maria là mẫu gương của con người khiết tịnh: chọn lựa sáng suốt, bản chất giản dị, ý thức rất phong phú về đức nghèo, tâm hồn rộng mở đối với Chúa, luôn sẵn sàng phục vụ người khác, suy gẫm sâu sắc về thánh ý Chúa, yêu thương nồng thắm thánh Giuse, can đảm khi đứng dưới thập giá và hiệp thông với Giáo Hội non trẻ mới sinh.

Sau hết, sống khiết tịnh không phải là nhằm mục đích giúp người tu thảnh thơi để chu toàn các nhiệm vụ, mặc dù đây là một thuận lợi như thánh Phaolô đã đề cập. Nhưng cuộc sống khiết tịnh có sứ mạng là mạc khải cho loài người hiểu rằng: tất cả tình yêu nhân loại đều xuất phát từ tình yêu Thiên Chúa, rằng không có tình yêu nhân loại nào là tuyệt đối, cho nên mọi tình yêu nhân loại đều có thể thắng vượt, vì có thể yêu thương thực sự mà không cần đến một biểu hiện tuy phong phú nhưng cũng là tương đối của tình yêu đó là tình dục.

Như vậy lời khấn khiết tịnh vừa tương đối hóa mọi tình yêu nhân loại, lại vừa mở ra cho tình yêu nhân loại một hướng siêu thăng với niềm hy vọng cánh chung là sẽ được thông hiệp trọn vẹn với tình yêu tuyệt đối là Thiên Chúa.

III. Đức Vâng Phục

Cuộc đời Chúa Giêsu “từ khi bước vào thế gian” (Dt 5, 10) “cho đến khi chết trên thập giá” (Pl 2, 8), luôn là sự vâng phục, nghĩa là gắn bó với Thiên Chúa xuyên qua một loạt trung gian : các nhân vật, các biến cố, các định chế, văn tự của dân tộc Người, các thế quyền. Đến “không phải để thi hành ý muốn của mình nhưng là ý muốn của Đấng đã sai mình” (Ga 6, 38), trong suốt đời sống, Người đã thi hành những bổn phận thông thường như vâng lời cha mẹ (Lc 2, 51) và tuân phục quyền bính hợp pháp (Mt 17, 27). Lúc chịu thương khó, Người vâng lời tuyệt đối, tự nộp mình không phản kháng những quyền lực bất công và bất nhân, “thực tập đức vâng lời qua các đau khổ của Người” (Dt 5, 8), chịu chết để làm hy tế quý trọng nhất dâng lên Thiên Chúa, chính là hy tế của sự vâng lời (Dt 10, 5-10; x 1 Sm 15, 22).

Sự vâng phục của Chúa Giêsu không phải chỉ là một nhân đức trong số các nhân đức, mà là một tâm tình toàn diện chi phối chính sự hiện hữu của Người trong thân phận Con Thiên Chúa làm người. Người đến trong thế gian để thi hành thánh ý Cha. Và suốt cuộc đời Người đã luôn thực thi điều đó.

Bước theo Đức Kitô, tu sĩ được mời gọi hướng đến một mục đích là tiếp tục thực hiện ý Chúa trong cuộc sống của mình hôm nay. Người tu khấn vâng phục phải ý thức rằng mình đang nối dài sự hiện diện và sứ mạng của Đức Kitô giữa trần gian, và phải ý thức rằng mình thực hiện điều đó trong khuôn khổ cộng đoàn, bởi vì cả cộng đoàn cũng như từng phần tử trong cộng đoàn đều phải thực thi ý Chúa và đều là sự hiện diện của Chúa giữa trần thế. Như thế, vâng phục không phải là một nhân đức cá nhân, không phải là một phương thế để sống khổ hạnh, hãm mình (đối với người dưới) hoặc để kiểm soát hay để bắt mọi người phải theo lệnh của mình (đối với người trên). Đức vâng phục cũng không phải chỉ để tạo ra một trật tự chung hay để điều hành, tổ chức những sinh hoạt đối nội và đối ngoại. Đức vâng phục của đời tu độc đáo và sâu xa hơn nhiều. Đó là tìm kiếm ý Chúa, làm theo ý Chúa, để Chúa đến hiện diện trong môi trường sống của mình.

Nếu hiểu đức vâng phục theo chiều hướng là tiếp tục và tham dự vào sứ mạng của Đức Kitô thì tất cả mọi người và từng người, bề dưới và bề trên, cá nhân và cộng đoàn đều phải vâng phục, bởi vì cá nhân và cộng đoàn đều có sứ mạng tìm kiếm và thi hành ý Chúa. Chúa Thánh Linh luôn hiện diện một cách sinh động trong mỗi người và trong mọi người. Người có thể thổi đâu tùy ý nhưng chắc chắn không phải là thổi không mục đích. Vì thế phải lưu tâm lắng nghe và tìm hiểu ý Chúa qua mọi thành viên trong cộng đoàn, cho dù đó là một người hèn kém nhất.

Do đó vâng phục đòi hỏi phải có tinh thần đối thoại và tinh thần đồng trách nhiệm.

Để đối thoại chúng ta phải có ý kiến của chính mình. Mỗi người đều là một huyền nhiệm. Mỗi người đều có một “mã số riêng” của mình. Cụm từ này diễn tả toàn bộ những cái gì làm thành con người đó: tính tình, khuynh hướng, khả năng, giá trị, quá trình giáo dục, kinh nghiệm, quan điểm, lập trường… Tất cả những yếu tố này tạo nên một mảnh đất riêng biệt đời ta (không giống ai), trên đó Chúa gieo hạt giống Lời Chúa; và cũng trên nền tảng ấy, chúng ta có thể có những lối hiểu ý Chúa theo cách riêng của mình.

Muốn tìm ý Chúa qua nhận thức riêng, mỗi người phải có sự biện phân chính xác. Sự biện phân này đòi phải có ba điều kiện sau :

1. Phải có tự do trong tâm hồn: Tâm hồn chúng ta phải hoàn toàn thuộc về Chúa, không bị tác động bởi tội lỗi, thói xấu, thành kiến hay thiên kiến.

2. Phải biết lắng nghe người khác: Chúa có thể nói với ta qua người khác. Phải khiêm tốn lắng nghe, đừng tự mãn về sự khôn ngoan của mình, đừng khinh chê hay đàn áp ý kiến kẻ khác.

3. Phải thực tế: Mọi suy nghĩ và quyết định phải dựa trên hoàn cảnh thực tế, cụ thể. Xem Chúa muốn nói gì với ta qua hoàn cảnh cụ thể ấy.

Đến đây ta đã có sự biện phân cá nhân. Nhưng việc biện phân này cần phải xác minh lại một lần nữa bởi việc biện phân cộng đoàn. Cộng đoàn có thể giúp ta thấy rõ hơn, hiểu rõ hơn đủ mọi khía cạnh của vấn đề. Đây là giai đoạn đối thoại thể hiện tinh thần đồng trách nhiệm trong sự vâng phục. Tu sĩ vâng phục cởi mở mình ra với Chúa và với mọi người khác trong tinh thần lắng nghe, đón nhận, trao đổi, tin cậy lẫn nhau.

Bề trên lắng nghe, tìm hiểu, tham khảo giúp mỗi người nhận ra ý Chúa và thi hành ý Chúa trong hoàn cảnh riêng của họ; trao cho họ sứ mạng phù hợp với mã số riêng con người họ. Mỗi người trong cộng đoàn phải đóng góp bằng sự trình bày, đối thoại, trao đổi để bề trên nhận biết ý Chúa đối với cộng đoàn, đối với mỗi người. Bề trên giúp cộng đoàn vâng phục ý Chúa và ngược lại nhờ cộng đoàn giúp, bề trên thấy rõ ý Chúa hơn để vâng phục và thi hành. Sứ mạng thi hành ý Chúa cần có nhiều sự phân công phục vụ khác nhau, người ra mệnh lệnh và người thi hành mệnh lệnh, nhưng những công tác này không làm cho nguời này đứng cao hơn người kia mà mỗi người chỉ là một thành phần của cộng đoàn, bình đẳng với nhau với những công tác khác nhau của một sứ mạng chung mà thôi.

Nhờ sự cởi mở rộng rãi như thế trong đối thoại với Chúa và với nhau, chúng ta mới có thể đọc thấy sự thật, sự thật của chúng ta, của cộng đoàn và của thế giới chúng ta đang sống. Nhờ đó chúng ta mới hiểu được những dấu chỉ của thời đại và nghe được những tiếng gọi mới của Chúa. Điều đó giúp chúng ta sửa đổi cái cũ kỹ và tiến bước về phía trước vì Nước Trời.

Tóm lại, luôn lấy ý Chúa làm tiêu chuẩn cho mọi việc làm trên bình diện con nguời cũng như trên bình diện cộng đoàn và tự ý chọn tương đối hóa quyền tự lập của mình để thực hiện ý Chúa đối với bản thân và đối với cộng đoàn. Đó là hai trục chính làm thành chân tính của đức vâng phục của người tu.

Tuy nhiên, quan tâm đến con người và quan tâm đến sứ mạng cũng là hai thái cực khác của đức vâng phục. Phải luôn giữ được thế quân bình của hai thái cực này. Vì nhấn mạnh vào con người, sẽ sinh ra chủ nghĩa cá nhân, mỗi người tự vạch ra một sứ mạng riêng, cộng đoàn sẽ mất tính cộng đoàn. Còn nếu nhấn mạnh vào cực thứ hai, tức là chú trọng đến sứ mạng, không lưu tâm đến hoàn cảnh riêng (mã số) của con người thì cuối cùng cả con người và sứ mạng đều tổn hại, thánh ý Chúa không thực thi trọn vẹn được.

Đức vâng phục của tu sĩ chỉ có thể thực hiện được một cách hữu hiệu trong sự hiệp thông sâu xa với Chúa và với (anh) chị em cùng ơn gọi. Nó đòi hỏi sự rèn luyện liên tục trong tình thương, trong sự thật, trong ân sủng của Thánh Thần. Nếu sống được như thế, đức vâng phục sẽ làm cho nhân phẩm của tu sĩ được trưởng thành và tự do của tu sĩ sinh nhiều hoa trái phong phú theo tinh thần Phúc Âm.

Cuối cùng trong trường hợp, sau khi đã khiêm nhường cầu nguyện và suy nghĩ kỹ lưỡng, có sự biện phân chính xác, có sự đồng tình và ủng hộ của nhiều (anh) chị em, có sự chân thành trao đổi với bề trên trong tinh thần trách nhiệm, mà ý kiến của chúng ta vẫn bất đồng với quyết định của bề trên thì sao ? Khi đó phải chấp nhận quyết định của bề trên vì đức vâng phục. Đây là vâng phục trong đêm tối của đức tin. Vâng phục, không phải vì chúng ta cho rằng quyết định đó phù hợp với ý Chúa, nhưng chúng ta vẫn chấp nhận vì quyết định đó được đề ra bởi một người đã được trao quyền phục vụ và là người thay mặt Chúa.

Câu hỏi cần đặt ra trong trường hợp này: Chúa muốn gì nơi chúng ta khi Người đòi chúng ta phải có hành động vâng phục này? Câu trả lời ít khi có ngay. Nó sẽ đến với thời gian, và có thể nó không đến trong khi chúng ta còn sống. Nhưng chắc chắn thái độ vâng phục của chúng ta có được một tầm ảnh hưởng trên chúng ta và trên những người khác. Ảnh hưởng ấy thế nào, Chúa sẽ lượng định chứ không phải chúng ta. Nhìn trong nhãn giới đức tin, những thái độ vâng phục trong hoàn cảnh như thế được xem như là một sự can thiệp của Chúa vào cuộc đời chúng ta: đó là một ơn Chúa ban mà chúng ta phải đón nhận và sống nó trong an bình nội tâm và trong niềm vui của Thánh Linh mặc dù chúng ta thấy đau khổ, nặng nề.

Lời kết

Bạn thân mến, bậc sống nào cũng có những khó khăn, thử thách đặc thù của riêng mình, ngoài những khó khăn, thử thách của thân phận con người nói chung, vốn dĩ yếu đuối và bất toàn. Hơn nữa cũng không có những con đường rộng thênh thang để chúng ta có thể thoải mái tiến về Nước Trời. “Chỉ có thể qua cửa hẹp và đường chật mới tìm thấy sự sống muôn đời.” (x. Mt 7, 14). Đức Giêsu còn khẳng định rất dứt khoát : “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” (Mt 16, 24). Như thế đã rõ, là tín hữu, là tu sĩ, chúng ta phải vác thập giá mình mà theo Thầy chí thánh.

Nhưng thập giá là gì? Là tất cả những cái gì, sự gì, việc gì trái với ý riêng chúng ta, làm cho chúng ta đau khổ và đòi hỏi chúng ta phải hy sinh. Thập giá của đời tu còn là những phấn đấu, hy sinh, rèn luyện mỗi ngày để thực hiện một chọn lựa căn bản: tương đối hóa những của cải và những giá trị trần thế (lời khấn khó nghèo); tương đối hóa mọi tình cảm nhân loại (lời khấn khiết tịnh); và tương đối hóa tự do và ý riêng mình (lời khấn vâng phục).

Thập giá thì không thể tránh khỏi. Vậy làm sao để vác cho nổi, cho trọn, cho đến tận đỉnh đồi Calvê những thập giá đời mình? Tôi muốn bạn lưu ý điều này. Chúa Giêsu nói rõ: phải từ bỏ chính mình trước rồi mới vác thập giá mình sau. Từ bỏ mình chính là hủy mình ra không, là làm cho tâm hồn mình trở nên trống rỗng, là không đòi hỏi điều gì cho chính mình, là hư vô hóa bản thân theo gương mẫu của Đức Giêsu (x. Pl 2, 5-8). Một con người như thế mới có khả năng vác nổi thập giá đời mình. Bởi vì tâm hồn họ trống rỗng, không chất chứa tham sân si, nên họ mới có thể đón nhận được chính Chúa, sống với Người, sống trong Người và nhờ ân sủng của Người, họ có thể vững vàng trước mọi khó khăn thử thách. Và bởi vì họ hủy mình ra không, không chiếm hữu, không qui chiếu mọi sự về mình, nhưng luôn luôn qui hướng về trung tâm điểm là Đức Kitô, nên sự đối kháng giữa ý riêng họ và những nghịch cảnh trong đời đã bị triệt tiêu, nhờ đó cõi lòng và cuộc sống của họ trở nên nhẹ nhàng thanh thoát, bình an tĩnh lặng, dễ dàng đón nhận mọi sự thật của chính mình, của cuộc sống trong niềm cậy trông phó thác, cho dù thập giá, khó khăn thử thách vẫn còn đó cho đến cuối đời.

Như thế, rõ ràng sự hủy mình ra không và để Chúa sống trong ta với một tương giao yêu thương sâu đậm là điều không thể thiếu để có thể vác thập giá đi theo Chúa. Đó cũng là điều cần thiết để có thể sống trọn vẹn căn tính của đời tu qua ba lời khấn Tin Mừng. Và đó cũng là cách thế duy nhất để có thể vượt qua những khó khăn, thử thách, cám dỗ trong cuộc đời Kitô hữu hay cuộc đời thánh hiến.

Đường thập giá là đường hy sinh. Nhưng đường thập giá cũng là đường giải thoát. Vì đường thập giá là đường yêu thương mà Đức Kitô đã chọn lựa đi qua để cứu độ chúng ta. Bước theo Thầy Giêsu trên con đường này, chúng ta mới có thể hoàn thành ơn gọi và sứ mạng của một tu sĩ.

Lạy Chúa, chúng con xin cảm tạ Chúa vì đã ban cho Giáo Hội và thế giới nhiều ơn gọi sống đời thánh hiến. Xin Chúa cho những người dám dâng hiến đời mình để theo sát Chúa, luôn biết sống triệt để ba lời khấn Tin Mừng và làm mọi việc với Chúa, trong Chúa và nhờ Chúa, để qua cuộc sống chứng nhân của họ, nhiều lương dân được nhận biết Chúa, nhiều kẻ lầm lạc biết sám hối trở về, nhiều tâm hồn sầu muộn khổ đau được nâng đỡ ủi an, nhiều người đói nghèo, bệnh tật, cô đơn, bị bỏ rơi, bị đối xử bất công tìm lại được nhân phẩm và niềm hy vọng… ngõ hầu tất cả chúng con, mỗi người trong bậc sống của mình, có thể cùng nhau kiến tạo một nền văn minh tình thương và tôn trọng sự sống; một thế giới hòa bình, công bằng, huynh đệ và liên đới, chuẩn bị cho Nước Chúa trị đến. Amen.

Xin chúc bạn ngày càng xác tín hơn về căn tính đời tu của mình và luôn được dồi dào ân sủng và bình an của Đức Kitô, để có thể sống trọn vẹn cho đến cùng, ơn gọi cao quý của mình được thể hiện qua ba lời khấn Tin Mừng.

Thân ái trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta

Tài liệu tham khảo :

1. Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh -  Giáo Hoàng Học Viện Piô X.

2. Tu  Sĩ,  Ơn  Gọi  Và  Sứ  Mạng - Marcello De Carvalho Azevedo, SJ.

            Trở về mục lục >>

š¶›

                                                                

 

 

 

 SỐNG ĐẠO

XÉT ĐOÁN - ĐOÁN XÉT.

Xuân Thái

 

      “Anh em chớ đoán xét - để khỏi bị xét đoán.” (Mt 7,1; Lc 6, 37). Một lời dạy vô cùng quen thuộc của Đức Kitô, mà đã là người công giáo thì ai cũng biết.

      Đoán và xét, nếu tách riêng hai từ này thì tùy theo mạch văn, mỗi từ trong cả hai đều có thể là một danh từ, nhưngø cũng có thể là một động từ. Một cách nôm na bình dân có thể hiểu, đoán là ước đoán, là phỏng chừng, là không chắc chắn tuyệt đối. Xét là nhận xét, là quan sát, là kết luận. Vậy đoán xét là những kết luận được rút ra từ sự ước lượng phỏng chừng, nên tất nhiên, không thể có kết quả hoàn toàn và luôn luôn chính xác.

      Dầu vậy, nếu thiếu khả năng nhận xét và đoán hiểu thì con người và các sinh vật sống không thể tồn tại. Con chim đã một lần bị mũi tên bắn phải, lần sau thấy cành cây cong cũng sợ, do đó mới có thành ngữ “kinh cung chi điểu.” Tất nhiên, đây chỉ là một ý nghĩa tượng trưng mang tính ước lệ, nhưng không vì thế à mà mất đi chút giá trị nào. Còn hàng đống những ca dao tục ngữ nói lên các xét đoán qua kinh nghiệm dân gian,từ trong thiên nhiên, thú vật đến con người : chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa. Nhưng thực tế đôi khi, đã có chớp đông nhay nháy, nhưng chờ đến gà gáy vẫn không có mưa. Xem mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo thì lòng mới ngon. Nhưng có nhiều khi, lợn thì béo thật, nhưng là béo do mọng và giữ nước nên thịt đầy bã gạo, còn lòng thì đầy giun sán độc. Do đó, tiết canh lòng heo là một món mà nhiều người rất hảo, nhưng chỉ riêng những tay giết thịt heo thì lại thường rất kỵ vì chê là dơ bẩn và dễ bị nhiễm trùng. Họ chỉ ăn món này, khi chính tay họ làm thịt  và biết rõ về con heo đó. Những người thắt đáy lưng ong, vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con. Nếu hoàn toàn tin vào xét đoán này thì thật là vỡ nợ, vì biết bao đại mỹ nhân trong lịch sử chỉ mang lại những tai họa, dù cái tiêu chuẩn của các đại mỹ nhân này còn hơn cả thắt đáy lưng ong rất nhiều lần.

      Dẫu thường có sai lầm như thế, nhưng xét đoán vẫn luôn là một thuộc tính bẩm sinh của con người, vì chính nhờ nó con người ngày một tiến bộ và thăng hoa. Nếu thiếu xét đoán, tôi có thể đón kẻ cướp vào nhà mà cứ tưởng đang đón nhận hiền nhân. Thiếu xét đoán, tôi sẽ nhìn ác quỷ ra thiên thần. Thiếu xét đoán, tôi rất có thể lầm lẫn biết bao điều trong đời sống, cả những lầm lẫn có thể dẫân chính tôi, hoặc các người thuộc trách nhiệm, mà Chúa đã giao cho tôi trông nom quản lý bị nguy hại hoặc tử vong. Những đoán xét ấy, có thể nhiều khi không chính xác hoàn toàn, nhưng lại rất cần thiết vì nhờ đó, tôi  được an tâm và biết rõ mình đang làm chủ vận mệnh đời mình. Không thể đoán xét, nếu không biết suy luận. Không thể suy luận nếu không nhờ có trí khôn, trí biết. Mà trí khôn, trí hiểu đều do Chúa  ban để nhờ đó con người biết xét đoán. Vậy tại sao Chúa lại nói: Chớ đoán xét, để khỏi phải bị xét đoán (Mt 7,1; Lc 6, 37). Một lời nói có vẻ trái tai, với nhiều mâu thuẫn và nghịch tự nhiên đến thế ??? Một lời nói thật khó hiểu.

      Thực ra, lời dạy của Chúa không bao giờ là quá khó hiểu. Có khó hiểu chăng, chỉ vì có lúc tôi đã vận dụng lời Chúa theo nhu cầu của mình, để từ đó, gây ấm ức và thắc mắc khó hiểu cho nhiều người khác. Một minh họa nhỏ: Đời sống của tôi đôi khi đã có những lôi thôi, khiến kẻ khác phải xầm xì bàn  tán . Vì thế, tôi thường phải dùng lá bùa chớ xét đoán  để hóa giải tất cả. Tôi đã yếu đuối và thiếu khiêm tốn để chịu đựng, hoặc không đủ dũng cảm để thẳng thắn đối đầu, nên đã dùng lá bùa chớ xét đoán như một lá chắn an toàn một cách tùy tiện dễ dãi.

      Lời dạy của Chúa khi đó đã bị chặt cụt và bẻ cong. Vì bị chặt cụt nên đã thiếu câu tiếp theo: vì anh em xét đoán thế nào thì cũng sẽ bị Thiên Chúa đoán xét như vậy; và anh em đong bằng đấu nào thì Thiên Chúa cũng sẽ đong cho anh em đấu ấy (Mt 7,1-2). Như  thế, rõ ràng tôi sẽ được hay bị Thiên Chúa xét xử, do chính cách xét đoán của tôi đối với tha nhân. Nói cách khác, tôi đang tự xây dựng đời mình bằng những chất liệu do chính tôi kiến tạo. Quảng đại vị tha hay hẹp hòi ích kỷ, khoan dung độ lượng hoặc bới lông tìm vết khi xét đoán người khác.

      Xét đoán là một quà tặng quí giá của Thiên Chúa, nhưng món quà tặng ấy sẽ biến ngay thành gánh nặng đè bẹp trước tiên chính người có nó, nếu không biết xử dụng cho nên. Quà tặng hay gánh nặng, đều hoàn toàn do thái độ của mình tạo nên. Vì thế, Hồng Y Nguyễn văn Thuận đã viết đại ý rằng: “Có một sáng suốt đáng buồn, khi chỉ nhìn thấy những điều xấu nơi người khác. Cũng có một xét đoán đầy yêu thương, khi đã nhìn thấy những điểm sáng tốt đẹp, ngay từ nơi bóng tối những điều không tốt đẹp của anh em mình.” Kết tội một tên ăn cắp là một điều dễ dàng, ai làm cũng được. Nhưng để hiểu rõ từ hoàn cảnh và nguyên nhân nào, đã khiến một người bình thường biến thành một kẻ cắp, thì không phải ai cũng làm và dễ dàng cảm thông được. Phải có một trái tim nhân hậu đích thực mới có được một xét đoán đầy yêu thương như thế.

      Xét đoán rất gần với xét xử. Vì xét đoán là một khả năng trời ban tự nhiên như thế, nên mọi người thường có khuynh hướng tự phong để ngồi ghế Chánh án xét xử người khác. Tôi xét đoán người. Người xét đoán tôi. Mọi người xét đoán lẫn nhau; Khi ấy trần gian sẽ biến thành hỏa ngục. Hiểu rõ các tạo vật của mình, nên Chúa đã ngăn đe chớ xét xử và một khi có trách nhiệm và bổn phận đòi buộc phải xét xử , thì đã có một Kim chỉ Nam của bảng chỉ dẫn: đong đấu nào sẽ nhận lại đấu nấy. Rồi nhớ lại câu đầu của Lời dạy: Chớ xét đoán để khỏi bị đoán xét. Quả thật, Lời Chúa mới nghe thì có vẻ nghịch lý chói tai, nhưng càng nghiệm càng thấy thật thâm sâu, vì những lời này đã thấu suốt mọi cõi lòng con người. Không ai muốn bị xét xử, và khi bị xét xử , ai cũng muốn được xét xử khoan dung thông cảm. Mà muốn được khoan dung thương xót, thì trước hết, chính mình cũng phải biết thương xót khoan dung.

**********

      Đọc Tam quốc, ai cũng nhớ đoạn một lần Tào tháo thua trận. Cùng một số tàn binh chạy đến một khu rừng vắng thì trời sập tối. Tào tháo và đám bại quân vừa đói lả vừa kiệt sức, tất cả lần theo ánh đèn đang leo lét phía xa xa, thì gặp được một nóc nhà. Sau nhiều đắn đo thận trọng, Tào Thừa tướng bèn trình bày hoàn cảnh thật của mình và xin được tá túc qua đêm. Gia chủ vui mừng và lấy làm vinh dự được đón tiếp, rồi sau đó, cùng gia đình dọn nơi cho Tháo và tùy tùng ngơi nghỉ.

      Đang nghỉ ngơi Tháo chợt nghe: Trói nó lại. Tháo liền giật bắn cả người. Lại nghe tiếp: Giết nhỏ hay lớn. Có tiếng đáp lại: Giết lớn. Thế là Tháo lập tức vùng dậy và cùng với quân lính giết hết cả nhà gia chủ. Khi giết xong hết, mới té ngửa vì biết mình đã lầm lẫn ghê gớm. Thì ra, gia chủ đang cùng người nhà trói con heo lớn để giết thịt đãi khách, nhưng Tháo lại cho rằng, họ đang muốn trói và giết chính mình, nên đã ra tay trước. Một xét đoán sai lầm gây hậu quả kinh khủng.

      Những ai thích đọc Hán - Sở tranh hùng, chắc đều còn nhớ chuyện một Pháp quan đã xử chặt chân một phạm nhân. Rồi thời thế thay đổi, giặc giã nổi lên chiếm luôn cả thành của Pháp quan nọ. Vị Pháp quan phải bỏ thành chạy trốn, nhưng lúc ấy mọi cửa thành đều đã đóng kín. Đang cơn nguy khốn, thì có một người giúp đỡ. Không quản hiểm nguy và bao nhiêu tai họa, người này đã đưa pháp quan về nhà và còn ân cần thù tiếp. Khi biết rõ người này là phạm nhân năm xưa mà mình đã xử tội chặt chân, vị pháp quan hỏi: “Tại sao anh không oán giận mà còn ân cần với tôi như thế?” Người nọ bèn trả lời: “Lúc đó, tôi biết ông rất thương tôi, muốn tìm cách giảm nhẹ và đã tìm hết cách gỡ tội cho tôi mà không được. Xử tội chặt chân tôi, nhưng ông rất đau lòng và chỉ làm theo phép nước. Tấm lòng của ông trong sáng và nhân từ đến thế, làm sao mà tôi oán giận cho được. Vì vậy, việc giúp đỡ ông trong lúc này là một chuyện tự nhiên, có gì đâu để ông nghĩ ngợi.”

      Lòng nhân từ của một quan tòa đã tỏa sáng để cảm hóa tha nhân, lịch sử đã ghi lại những giòng thật đẹp như một tấm gương cho mọi người hậu thế.

********

      Cũng có một phiên tòa gồm đủ các chất Bi, Hài, Thương và đầy kịch tính cảm động. Phiên tòa đã được Thánh Kinh kể lại :

      Vừa tảng sáng. Người trở lại đền thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. Lúc đó, các kinh sư và Pharisiêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang phạm tội ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, rồi nói với Người : Thưa thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môisê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thày, Thầy nghĩ sao ? Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng chứng tố cáo Người. Nhưng Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi. Rồi người lại cúi xuống viết trên đất. Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ đứng ở giữa. Người ngẩng lên và nói : Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao ? Người đàn bà đáp; “Thưa ông, không có ai cả.” Đức Giêsu nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu ! Thôi! Chị cứ về đi và đừng phạm tội nữa.”

      Trước mắt các thày thông luật khi ấy, Đức Giêsu chỉ là một kẻ phá rối cần phải triệt hạ. Họ tự xem mình là các quan án đích thực và đã ngầm lên án Đức Giêsu rồi. Họ đang tìm mọi cách để ám hại Ngài, và đây chính là một cơ hội may mắn hiếm có. Trao quyền xử án cho Đức Giêsu, chỉ là một cách đưa cho Ngài sợi dây thòng lọng để Ngài sẽ bị treo cổ kết liễu đời mình. Một cái bẫy vô cùng hiểm độc nhưng đã được ngụy trang hết sức tự nhiên và đầy tinh vi.

      Nhưng cuối cùng, mọi toan tính trong âm mưu của họ đã hoàn toàn thất bại. Cách xử lý của Đức Giêsu đã gây những bất ngờ mà các kinh sư và biệt phái không thể hình dung: Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi. Nghe vậy, họ bỏ đi hết, bắt đầu từ người lớn tuổi.

      Tôi không lên án chị đâu. Chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa .

      Câu nói với chị phụ nữ của Đức Giêsu lúc đó, đã giải phóng chị ngay lập tức. Chị đã được cứu sống, thay vì bị chết ném đá. Cái đám đông Biệt phái Kinh sư đã có dịp mở ra con mắt tâm hồn của mình, dù trong số đó, chắc chắn sẽ không thiếu những hậm hực và thất vọng, vì âm mưu và dự định của mình đã bị hoàn toàn phá sản và thất bại ê chề.

**********

      Tôi không lên án chị đâu .

      Thầy Chí thánh của con ơi! giữa những ồn ào huyên náo trong chợ đời hôm nay, con e ngại rằng, lời của Thày sẽ bị mờ nhạt chìm khuất rồi xem nhẹ lãng quên. Đang khi, những lời này chính là chiếc chìa khóa mở cửa hạnh phúc đích thực đời con. Hạnh phúc thật và hạnh phúc giả rất giống nhau, nên con thường bị lầm lẫn, như đã từng lầm lẫn nhiều lần trước đây trong quá khứ .

Tôi không lên án chị đâu .

Xin giúp con biết nắm lấy hạnh phúc thật để  không xét đoán ai, dù chỉ là những xét đoán trong tâm tưởng mình. Amen

Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 

 

THÁNH NHÂN THỜI ĐẠI
 

THÁNH PIÔ NĂM DẤU

CHỨNG NHÂN TRONG THỜI KHỦNG HOẢNG

                                                                                                                        Đỗ Trân Duy

Khi chúng ta sinh ra, Chúa Cha trìu mến gửi đến một thiên thần bản mệnh để cầu nguyện cùng ta. Khi chúng ta nhận phép rửa, Chúa Cha ban cho ta một thánh quan thầy để ngài nâng đỡ ta. Khi chúng ta chịu phép thêm sức Chúa Cha cử Thánh Linh đến để thánh hóa ta. Khi chúng ta biết xưng tội, Chúa Cha gửi Ngôi Hai đến hòa giải tội lỗi cho ta. Tuy nhiên trong thời đại “nguyên tử” này ít có ai nhớ đến thiên thần bản mệnh. Thánh quan thầy chỉ còn là danh xưng mơ hồ của dĩ vãng.

          Thánh Linh trở thành một ý niệm trừu tượng xa lạ. Ngôi Hai Thiên Chúa rơi vào hố thẳm chứa đầy mối ngờ vực trước những vấn nạn duy lý của thời đại. Theo cha Merton, trong thời nguyên từ này, đạo Kitô đối diện với nỗi đau đớn lớn. Nỗi đau thương không phải do kẻ thù chống Chúa hãm hại. Kể cả việc hành quyết Đức Giêsu cũng không tạo nên cuộc khủng hoảng đến vậy. Đó là sự phá sản niềm tin trong tâm hồn tín đồ. Những người ý thức bổn phận yêu Chúa nhưng bất lực không làm được trọn vẹn… Thế giới của thời đại chúng ta như mặt đất khô cằn khiến hạt đạo của Chúa không thể nảy mầm. Dĩ nhiên con người không thể yêu Thiên Chúa khi họ xa lạ với Chúa. Bây giờ, vào thời điểm hoài nghi này, Kitô hữu chúng ta cần phục hồi đức tin để gặp lại Thiên Chúa.

          Sự thật tuy con người yếu đuối, hoài nghi, và lạc lõng nhưng lương tâm con người luôn luôn tiềm ẩn một sức kháng cự chiến đấu với chính mình. Sức kháng cự ấy sẽ lớn mạnh bởi lực đẩy của bậc thiên sứ. Nếu đức tin của chúng ta chưa đủ mạnh, chúng ta hãy sống trong hào quang của vị thánh mà bạn gọi là thầy. Bằng lời cầu nguyện chúng ta nương vào phẩm hạnh của thầy và thầy cũng cầu nguyện với chúng ta. Thiên Chúa đã và đang sai những vị thầy đến với con ngưởi để nhờ đó mà họ nhận ra ngài. Họ là những thiên sứ của Thiên Chúa. Thiên sứ dẫn ta về với Đức Giêsu. Đức Giêsu đưa ta đến với Đức Chúa Cha.  Một trong những thiên sứ của thời đại mới là thánh Piô Năm Dấu Thánh. Lễ kính của thánh nhằm ngày 23 tháng chín.

Thánh Piô (1887-1946) tên thật là Francesco Forgione sinh ra tại tỉnh Pietrelcina, huyện Benevento, nước Ý. Francesco vào dòng tu Phanxicô từ năm 14 tuổi với danh xưng là Piô để vinh danh thánh Piô V (vì vậy sau này ngài có danh hiệu là thánh Piô Pieltrelcina.)  Luật nhà dòng rất nghiêm khắc. Các chủng sinh không được bước ra khỏi khuôn viên phòng ốc. Nếu bắt buộc phải ra ngoài như đến lớp học, các thầy phải cúi mặt nhìn xuống đất không được liếc ngang dọc. Có thầy đã than, “Thật tôi chẳng biết ở đây có cây cối gì.” Nhưng thầy Piô còn tự đặt cho mình những luật khắc kỷ hơn. Thầy ăn chay hãm mình, hằng đêm hành xác, thức khuya quì trên sàn nhà lạnh cứng để cầu nguyện đền tội. Chẳng bao lâu lối sống cực khổ đã khiến thầy bị bệnh lao. Một lần cha mẹ thầy tới dòng tu thăm con. Ông bà hết hồn thấy con tiều tụy hầu như sắp chết. Đôi mắt thầy u ám ẩn trong hốc mắt sâu hoắm trên khuôn mặt xương xẩu, gò má nhô cao, và nước da xám xịt. Họ sợ hãi bắt thầy bỏ dòng tu về nhà. Thầy năn nỉ cha mẹ nghĩ lại và nhờ cha bề trên dòng can thiệp. Nể lời cha bề trên, ông bà Forgione đồng ý cho thầy tu tiếp với điều kiện thầy phải ăn uống đầy đủ.

Khi cha mẹ về rồi, thầy Piô vẫn sống kham khổ như trước. Năm 1910 thầy Piô dược thụ phong linh mục khi mới có 23 tuổi. Từ đó người ta gọi ngài là Padre Piô (cha Piô). Ngày 20 tháng 9 năm 1918, trong một đêm tối kinh hoàng và thống khổ cùng cực, Padre Piô nhận lãnh năm dấu thánh trên mình. Đó là những vết thương tương tự như những dấu đinh đóng vào hai mu bàn tay, hai mu bàn chân và vết giáo đâm vào cạnh sườn của Đức Giêsu. Những vết thương này rất mới, miệng mở rộng, luôn luôn rỉ máu, và rất đau buốt. Cả tuần lễ đầu cha Piô lánh mặt trong phòng để che dấu những vết thương, nhưng rồi cả dòng tu đều biết. Cha bề trên dòng nói, “Khi Padre Piô tháo băng tay ra và đặt trên bàn có phủ bằng một tờ báo, tôi thấy có lỗ thủng rõ ràng xuyên qua bàn tay. Tôi đọc được chữ trên tờ báo qua lỗ thủng của vết thương ấy.” Sau đó tin tức của sự kiện lan rộng ra khắp nơi đến tận Vatican. Một nhóm khoa học gia, bao gồm các bác sĩ về tâm bệnh, tâm lý, thần kinh và y khoa, đến khảo sát hiện tượng lạ lùng ấy. Các bác sĩ cố gắng chữa lành vết thương. Cha Padre Piô bảo họ, “Các ông không thể chữa lành những vết thương này được.” Quả nhiên những vết thương của cha thách đố nền y khoa. Chúng rất tươi và luôn luôn mở miệng. Không có cách nào cầm máu hay chữa lành chúng. Sau nhiều lần khám nghiệm các nhà khoa học chỉ chứng nhận được một điều: những vết thương và sự đau dớn của Padre Piô là xác thật. Ngoài ra họ không thể hiểu và làm sáng tỏ được gì khác hơn. Để che dấu vết thương và để cử hành thánh lễ, cha Padre Piô đã phải dùng vải và bao tay bọc những vết thương lại. Tuy nhiên người ta vẫn thấy máu chảy xuyên qua lớp bao tay. Cha Piô mang những vết thánh tích Chúa Giêsu từ năm 31 tuổi cho tới ngày qua đời, tổng cộng là 50 năm. Lạ một điều các vết thương giữ nguyên tình trạng ban đầu, không thay đổi, không khá hơn, không tệ hơn, không làm mủ. Lạ hơn nữa thông thường những vết thương xông ra mùi máu tanh, nhưng vết thương của của Padre Piô và cả những miếng vải bọc vết thương đều tỏa ra hương thơm của hoa hồng và hoa huệ. Bác sĩ Lui Romanelli viết bản báo cáo trong đó có câu: “Không thể nhờ khoa học để giải thích tại sao lại có những vết thương kì dị này.”

Hiện tượng mang năm dấu thánh đã khiến cha Piô trở nên nổi tiếng. Bệnh nhân khắp nơi đến với ngài để xin chữa bệnh. Cha Piô đã chữa bệnh cho rất nhiều người hoàn toàn bằng những lời cầu nguyện với Thiên Chúa. Ngoài ra cha Padre Piô còn có những quyền năng huyền bí vượt ra khỏi những định luật về vật lý về ba phương diện: thời gian, không gian, và tự nhiên. Vượt thời gian vì ngài có thể biết những việc xảy ra trong quá khứ. Ngài thường xuyên nhắc những tội trong quá khứ của những người đến xưng tội với ngài mà họ quên