|
|
Số 60, Ngày 01-10-2005
Lời Kinh Bình An – Lm. Vũ Xuân Hạnh Việc Lần Chuỗi Mân Côi - Lm. Trần Đức Phương Nguyện Vọng Bên Nhà Tạm - Lm. Trần Anh Thụ Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện - Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D. Ý Niệm: Tên Lừa Bịp hay Người Dẫn Đường - Khổng Nhuận Đọc Kinh Tối Chung Trong Gia Đình – Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt dịch Kho Tàng và Niềm Vui – Sưu Tầm Nghệ Thuật Sống – Sưu Tầm Thìa Muối – Sưu Tầm Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa Quý độc giả,
Tháng 9 qua đi với những trận thiên tai khủng khiếp. Vừa tạm dừng ở miền nam Hoa Kỳ, thì cơn bão số 7 tàn phá bốn tỉnh miền bắc Việt Nam. Trong những ngày này, khi các nơi đang khắc phục những tàn phá của trận bão thiên nhiên, thì Giáo Hội giúp chúng ta nhìn lại một trận ‘bão lòng’ nơi một nữ tu tại Lisieux, thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu, mà lễ kính được cử hành vào ngày 1 tháng 10. Bước vào dòng Carmel năm 15 tuổi, thánh Têrêxa về với Chúa năm 24 tuổi (1873-1897). Vỏn vẹn 9 năm trong một dòng kín, nhưng với đời sống nội tâm phong phú, dù tràn đầy bão táp và với những hy sinh âm thầm, chị thánh trở thành vị tiến sĩ Giáo Hội và bổn mạng các xứ truyền giáo. Sở dĩ như thế, ấy là vì chị nên thánh bằng cách trọn vẹn dâng hiến đời mình cho Tình Yêu. Chị đã khám phá ra con đường thơ ấu thiêng liêng và đi sâu vào mầu nhiệm Giáo Hội thông qua tình yêu đối với Chúa Kitô. Chính vì thế mà chị sống chiều kích tông đồ và truyền giáo ngay trong lòng nội cấm, khiến chị có khả năng lôi cuốn mọi người đến gặp gỡ Chúa Kitô. Trên con đường thập giá đưa đến cái chết trong hình hài, chị biết rằng chị đang đi vào sự sống. Ngày cuối cùng trên trần gian, 30-9-1897, chị viết cho cha Bellière: “Con không chết đâu, con đang đi vào sự sống,” và những lời tóm lược cuộc đời chị được thốt lên trong giây phút cuối cùng: “Lạy Chúa... Con yêu mến Chúa!” Cũng đầu tháng 10, Giáo Hội mừng lễ một gương mặt thần bí khác, thánh Phanxicô Assisi. Bằng một con đường riêng, thánh nhân đã sống lời mời gọi Tin Mừng theo sát mặt chữ. Đời của thánh nhân là một cuộc hành trình trong khó nghèo để trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô. Về cuối đời, thánh nhân đã ẩn lên núi Alverne để trở nên một với Đấng-Chịu-Đóng-Đinh, đến độ năm dấu thánh thể hiện trên chi thể của ngài. Thế nhưng trong hình hài đớn đau và hầu như mù lòa, thánh nhân vẫn ca ngợi Thiên Chúa với tâm tình tạ ơn, đặc biệt qua Bài Ca Vạn Vật, một tuyệt tác của con người thần bí đã nhìn thấy dấu vết của Thiên Chúa trong mọi tình huống của cuộc đời. Ngài về nhà Cha ngày 3-10-1226, ở tuổi 44, nhưng ảnh hưởng của ngài kéo dài mãi cho đến ngày nay. Nhưng trên hết, tháng 10 là tháng Mân Côi. Maranatha 60 dành nhiều trang để nói về giáo huấn của Giáo Hội về chuỗi Mân Côi cũng như suy tư về việc cầu nguyện bằng kinh Mân Côi. Tuy nhiên, những trang ấy cũng là một cố gắng để nói lên mối tương quan giữa những người con đối với Mẹ mình, bởi vì Đức Maria là Mẹ Giáo Hội và là Mẹ đích thực của mỗi một chúng ta. Điều mỗi người cảm nhận về Mẹ thì không ngôn từ nào nói ra cho hết, kể mãi cho vừa.
Trên bàn của một nhà văn có một cuốn
sách dày tựa đề là: Mẹ.
Vâng, toàn bộ giáo huấn của Giáo Hội về Kinh Mân Côi, toàn bộ tâm tình được gợi lên trong mọi hình thức cầu nguyện được đề ra trong số này, cũng chỉ là một vài nét chấm phá cho mỗi người có thể thốt lên với Đức Maria một chữ duy nhất: Mẹ. Cuối cùng, bởi lẽ cầu nguyện với Mẹ là con đường ngắn nhất để đến với Chúa Kitô, nên chúng ta cùng hiệp lời với Thánh Phanxicô Assisi để dâng lên Mẹ lời cầu xin của ngài: Lạy Mẹ Thiên Chúa, Mẹ tuyệt mỹ và dịu hiền, xin Mẹ cầu với Đức Vua bị xử án, là Con rất mực nhân từ của Mẹ, Chúa Giêsu Kitô, để nhờ lòng nhân từ và quyền năng nhập thể thánh thiện và tử nạn đắng cay, Ngài ban cho chúng con ơn tha thứ mọi tội lỗi mình. Và bấy giờ, chúng ta vững tâm để hợp ý cùng Mẹ mà nguyện xin: Maranatha: Lạy Chúa, xin ngự đến! MARANATHA
SUY NIỆM Lm. Vũ Xuân Hạnh
Nhân dịp lễ Đức Mẹ Mân Côi, cũng là những ngày đầu tháng Mân Côi, tôi muốn điểm qua những giáo huấn của Giáo Hội trong hai năm gần cận nhất có liên quan đến kinh Mân Côi đi liền với lòng sùng kính Đức Maria của Huấn quyền và của cả Giáo Hội. Qua đó giúp chúng ta cảm nhận tầm quan trọng của kinh Mân Côi. Giữa thảm trạng của nền hòa bình thế giới bị đe dọa, là người yêu chuộng sự hiếu hòa, Đức Cố Thánh Cha Gioan Phaolô II tìm đủ mọi cách mong cứu vãn những bất ổn liên tục xảy ra trên thế giới. Một trong những phương thế mà Đức Thánh Cha thực hiện, đó là cầu nguyện với Kinh Mân Côi và kêu gọi mọi thành phần con cái Giáo Hội hãy siêng năng cầu nguyện cho hòa bình bằng lời kinh hiệu nghiệm và thánh thiện này. Chẳng hạn, trưa ngày 29.9.2002, trong giờ đọc kinh Truyền Tin trước đông đảo khách hành hương đang hiện diện, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ngỏ lời với họ về tầm quan trọng và chiều sâu của kinh Mân Côi để khuyến khích: Mỗi người hãy đọc kinh Mân Côi, mỗi gia đình và các cộng đoàn Công giáo đọc chung với nhau mỗi lần nhóm họp. “Tôi tin tưởng hòa bình sẽ tái lập khi kinh Mân Côi được đọc và suy gẫm. Chúng ta đang đứng trước một thế giới đầy nguy cơ về nhiều phương diện.” Nhưng ai có thể đem lại hòa bình? Chỉ một mình Chúa mà thôi! Hãy cầu nguyện liên lỉ cho hòa bình thế giới nhờ Chúa Giêsu Kitô. Trên phương diện này, kinh Mân Côi đáp ứng rất hữu hiệu. Khi đọc kinh Mân Côi là kêu cầu Chúa ban ân sủng, là gieo rắc mầm mống sự tốt, mà kết quả là công bình và đoàn kết giữa cá nhân và tập thể như chúng ta mong muốn. “Hòa bình sẽ đến trong gia đình, khi gia đình đó đọc chung Kinh Rất Thánh Mân Côi.” Trong những ngày vui mừng kỷ niệm tròn 24 năm phục vụ Giáo Hội trên tòa thánh Phêrô của mình, tháng 10.2002, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II long trọng tuyên bố một năm kinh Mân Côi (10.2002-10.2003), để tạ ơn Thiên Chúa và tôn kính Đức Trinh Nữ Maria. Đức Thánh Cha sung sướng reo lên: “Lạy Mẹ rất thánh, con tin cậy Mẹ và con tuyên bố với Mẹ: Tất cả con là của Mẹ! Tất cả con là của Mẹ! Amen!” (lời cầu nguyện nhân dịp về thăm quê hương Balan tháng 10.2002). Nhân dịp năm Thánh Mẫu Mân Côi, ngày 16.10.2002, Đức Thánh Cha ban hành Tông thư về kinh Mân Côi. Như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt Tông thư, Đức Thánh Cha chỉ xoay quanh một trục chính là Chúa Kitô. Từ đó cho thấy kinh Mân Côi có tầm quan trọng trong đời sống người tín hữu, trong thế giới và trong Giáo Hội: - Giữa thế giới đầy hận thù và khủng bố, kinh mân Côi là vũ khí đem lại hòa bình. - Giữa cả một não trạng tẩy chay đời sống cầu nguyện, coi thường việc lần chuỗi, kinh Mân Côi là cách thế hữu hiệu để nên thánh. - Giữa những trào lưu chống đối Thiên Chúa, đẩy Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình, kinh Mân Côi là cách thế hữu hiệu chiêm ngắm các mầu nhiệm Kitô giáo, đặc biệt là mầu nhiệm Chúa Kitô. - Giữa những đổ vỡ, những rạn nứt của biết bao gia đình, kinh Mân Côi là vũ khí để các gia đình tìm lại sự bình an cho mình. Lần khác, tại Castel Gandolfo, Đức Thánh Cha nhắn nhủ: “Kinh Mân Côi là một sự chiêm ngưỡng gương mặt Chúa Kitô hiện thực, qua con mắt Đức Maria. Do đó đây là một kinh nằm trong chính trung tâm Tin Mừng.” Bởi vậy, để bắt đầu đi vào chiều sâu của ngàn năm mới, Giáo Hội hãy nhìn ngắm khuôn mặt của Chúa Kitô nhờ lời kinh thuộc về trung tâm Tin Mừng này. Ngoài ra, từ hàng trăm năm, cả đến ngàn năm, Giáo Hội vẫn không ngừng mời gọi con cái mình hãy siêng năng lần chuỗi. Vì đó là lời kinh thấm đẫm tinh thần Tin Mừng. Đó cũng là lời kinh huyền nhiệm mà tất cả những ai yêu mến và sống với nó, nó sẽ làm cho người đó càng yêu mến Chúa nồng nàn và cũng sẽ dễ dàng nhận lãnh tình yêu vô cùng của Người. Đó là giáo huấn thuộc về Giáo Hội hoàn vũ. Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng đề cao việc sống chuỗi Mân Côi cùng với lòng yêu mến Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi, vì thế đã cho phép cử hành lễ Đức Mẹ Mân Côi vào ngày Chúa nhật (mặc dù chỉ ở bậc lễ nhớ). Các vị thánh trong Giáo Hội đã để lại cho chúng ta những tấm gương tuyệt vời về đời sống gắn liền với chuỗi Mân Côi và sống các mầu nhiệm của kinh Mân Côi. Ta không thể hiểu được khi nếu có ai nói đến một vị thánh nào đó, không bao giờ lần chuỗi mà lại gọi là thánh. Nói như thế để thấy rằng, các vị thánh luôn luôn gắn liền đời mình với chuỗi Mân Côi. Dĩ nhiên, không phải chỉ có chuỗi Mân Côi mới là phương tiện giúp ta nên thánh. Cùng với nhiều phương tiện khác nhau như: chuyên chăm suy niệm và học hỏi Lời Chúa, sốt sắng tham dự Phụng vụ, siêng năng lãnh Bí tích, bố thí, hy sinh, chay tịnh, học giáo lý, chuỗi Mân Côi góp phần đưa ta đến đời sống thánh thiện như Chúa đã mời gọi: “Các con hãy thánh thiện như Cha các con trên trời là Đấng Thánh.” (Mt 6, 48). Chuỗi Mân Côi giúp ta chiêm ngắm và học tập các nhân đức của Đức Mẹ: khiêm nhường, yêu thương, suy tư, vâng phục, sống nội tâm, bác ái, chấp nhận nghịch cảnh, tin tưởng, phó thác. Đó là những nhân đức Mẹ đã thể hiện qua từng giai đoạn của cuộc đời Chúa Cứu Thế mà các mầu nhiệm: Vui, Sáng, Thương, Mừng gợi lên trong ta khi suy niệm. Chuỗi Mân Côi còn là con đường dẫn ta đến cái nhìn nội tâm chiêm ngưỡng Chúa Giêsu nhờ kết hợp cùng Đức Maria. Cùng Mẹ, ta chiêm ngắm Chúa Giêsu trong suốt cuộc đời trần thế của Chúa. Bởi đã không ai chiêm ngưỡng Người cách say sưa như Mẹ. Mẹ là một gương mẫu lớn lao về việc trung thành chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Giêsu. Mẹ hướng về Người ngay từ lúc truyền tin, khi cưu mang Người nhờ Chúa Thánh Thần, hạ sinh Người tại Bêlem, hoang mang khi tìm Người thất lạc có đến ba ngày liền. Mẹ như xuyên thấu tâm tư của Người khi cầu nguyện tại tiệc cưới Cana. Trong đau khổ đến quay quắt và quặn thắt nỗi lòng, Mẹ chứng kiến cuộc khổ nạn và cái chết tan thương của Người trên thánh giá. Mẹ cũng đã tỏ rạng niềm vui phục sinh khi Người từ cõi chết sống lại. Sự chiêm ngưỡng ấy càng trở nên rực cháy vì được tràn đầy Thánh Thần trong ngày lễ Hiện Xuống. Mẹ vẫn tiếp tục đồng hành cùng Hội Thánh để làm cho Người lớn lên trong lòng thế giới. Học lấy cái nhìn chiêm ngắm của Mẹ nơi các mầu nhiệm Mân Côi, ta sẽ thêm lòng yêu mến Chúa Giêsu và yêu Chúa như Mẹ. Được diễm phúc sống cùng Chúa Con, sinh dưỡng, bồng bế, dõi theo Người suốt cả đời, do đó chỉ có Mẹ mới là người hiểu Chúa hơn ai hết. Vì thế qua chuỗi Mân Côi, ta đến với Mẹ, nhờ Mẹ đưa ta đến cùng Người Con Một yêu quý ấy là điều quý giá và khôn ngoan. Chắc chắn đó cũng là cách làm đẹp lòng Chúa, vì Chúa rất mực yêu quý Đức Mẹ. Hơn thế, Chúa đã ban tặng Mẹ của Người cho ta, đặt Mẹ trên địa vị cao trọng là vì ta, nhằm mang lại lợi ích cho ta. Chúng ta hãy gởi gắm mọi nỗi sướng vui, buồn phiền, cả vận mạng đời đời của mình cho Mẹ qua việc sống kinh Mân Côi. Giữa một thế giới vẫn còn những loạn lạc. Đây đó còn khủng bố, chiến tranh, chém giết, bắt cóc làm con tin, nổ bom tự sát, người tín hữu càng được mời gọi dấn thân hơn nữa trong đời sống cầu nguyện. Và lời kinh Mân Côi vẫn là lời kinh thích hợp để người tín hữu kêu cầu Mẹ nhân từ của mình, Đức Nữ Vương ban sự bình an, tuôn đổ ơn hòa bình cho thế giới, giúp nhân loại sống trong trật tự mới của lòng yêu thương và xóa bỏ hận thù, nâng đỡ mọi người trong an vui hạnh phúc. Cũng vậy, hòa bình trong lòng mỗi cá nhân vẫn thường xuyên bị đe dọa do mang nhiều nỗi sợ hãi khác nhau, do vắng bóng tình yêu, nghèo đói, bất ổn trong cuộc sống, chia rẻ và ly tán trong gia đình, hoặc ngay cả do giàu có, do tham vọng, tham lam, hưởng thụ đến mức đánh mất ý nghĩa của đời sống, hụt hẫng và chao đảo vì mải miết chạy theo thói đời. Vì thế mỗi cá nhân hãy nhờ đến kinh Mân Côi mà trút bớt gánh nặng và bao nhiêu nỗi khốn khó của riêng mình. Hãy tìm về ơn bình an nơi lời kinh Mân Côi, vì lời kinh ấy chất chứa niềm an ủi vô biên, sâu lắng cả một tình yêu vời vợi mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể trao ban. Sau cùng để kết thúc những gì muốn chia sẻ, tôi muốn nói với bạn về một hình tượng. Mỗi lần có dịp đi ngang hoa viên nhà thờ Đức Bà Chánh tòa Sài Gòn, không biết bạn thế nào, riêng tôi, khẽ cúi đầu trước tượng đài Nữ Vương Hòa Bình, mà nghe lòng mình ấm áp đến lạ kỳ. Gương mặt của tượng Đức Mẹ hiền hậu và nhân từ quá. Đăm đăm nhìn về trời phía trước mà lòng bàn tay vẫn ôm chặt, ôm trọn, giữ khư khư cả địa cầu. Đôi mắt của tượng Đức Mẹ như nói lên tất cả niềm phó thác đoàn con mến thương mà Mẹ hằng che chở trong cánh tay mình, để đoàn con mãi mãi sống trong chiếc nôi tình yêu của Chúa. Hướng về trời cao, Mẹ không sống cho riêng mình, nhưng lưu chuyển nguồn bình an của tình trời đến người trần thế. Mẹ, Nữ Vương Hòa Bình là thế! Nghĩ như thế mà thấy dạ cứ vui. Cảm nhận như thế mà càng yêu hơn tràng chuỗi Mân Côi. Xin được tiến dâng Đức Nữ Vương Hòa Bình những lời kinh thắm đượm tình yêu. Ước mong lòng luôn mãi bình an● ¶ Theo Tinh Thần Tông Thư “Kinh Mân Côi Kính Đức Trinh Nữ Maria” (Rosarium Virginis Mariae) Lm. Anphong Trần Đức Phương
Khi viết bài này tôi nhớ lại khi tôi còn làm ‘phó xứ’ tại một giáo xứ Hoa Kỳ khá lớn và có một họ lẻ (Mission). Lần đầu tiên đến lượt tôi đi dâng Lễ Chúa Nhật tại họ lẻ này, Cha xứ người Mỹ cẩn thẩn dặn tôi: “Đó là một vùng gần bờ sông, toàn là dân nhà giàu, có nghề nghiệp vững chắc như Bác sĩ, Giám đốc, Giáo sư đại học ... Trong số đó có một số gia đình Công Giáo, và họ đóng góp làm một Nhà Nguyện ở một sườn đồi. Nhà Nguyện tuy nhỏ, nhưng rất khang trang. Sau đó, Cha xứ cười và nói ‘…nếu Cha đến sớm được mà cùng lần chuỗi Mân Côi với họ trước giờ Thánh Lễ thì họ thích lắm.’ Ngay Chúa Nhật hôm sau, tôi đến lúc 7g30 sáng, trước giờ Lễ nưả tiếng, số giáo dân đi theo từng gia đình đã đến gần đầy đủ; sau đó tất cả đều quì lần tràng chuỗi 50, để kịp chuẩn bị giờ Lễ lúc 8g00 sáng. Tôi hỏi ra thì họ nói đó là thói quen từ lâu, khi cha ông họ lập họ đạo đó, và cứ tiếp tục cho đến bây giờ, quanh năm như vậy, dù vào mùa hè hay mùa đông, trời nắng hay trời mưa (rain or shine). Lúc đó tôi tự nghĩ trong lòng: “Như vậy việc lần chuỗi Mân Côi đâu phải là việc đã lỗi thời, hoặc chỉ dành cho các cụ già, hoặc người bình dân...”
Việc đọc kinh Mân Côi là một việc đạo đức đã có lâu đời trong Giáo Hội Công Giáo. Trong các chủng viện, tu viện thường có thói quen lần chuỗi Mân Côi chung hàng ngày. Nhiều giáo dân cùng lần chuỗi Mân Côi hàng ngày. Qua các thời đại, các Đức Giáo Hoàng đều cổ võ việc lần Chuỗi Mân Côi trong gia đình. Đặc biệt vào tháng Mười năm 2002, nhân dịp kỷ niệm 25 năm trong Triều Đại Giáo Hoàng của Ngài (ngày 16 tháng 10), Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã ra Tông Thư ‘Kinh Mân Côi Kính Đức Trinh Nữ Maria’ (nguyên văn tiếng La tinh là ‘ROSARIUM VIRGINIS MARIAE’) để khai mạc Năm Mân Côi (từ Tháng 10, 2002 đến Tháng 10, 2003) kính Đức Trinh Nữ Maria và để cầu nguyện cho hòa bình trong gia đình và trên thế giới. Trong Tông Thư này, Đức Thánh Cha cũng ban huấn dụ thành lập thêm ‘Mầu Nhiệm Ánh Sáng’ (cùng với Mầu Nhiệm Vui, Thương và Mừng đã có sẵn). Sau đó, nhân dịp cuối Năm Thánh Mân Côi và chuẩn bị bước vào Tháng Mân Côi 2003, trong dịp Lễ Sinh Nhật Đức Mẹ (ngày 8/9/03), Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng đã gửi đến các tín hữu toàn thế giới lời mời gọi hãy siêng năng cầu nguyện với Đức Mẹ qua tràng chuỗi Mân Côi, trong khi suy ngắm các mầu nhiệm qua Mùa Vui, Mùa Ánh Sáng, Mùa Thương, và Mùa Mừng. Trong Tông Thư ‘Kinh Mân Côi Kính Mẹ Maria’ nói trên đây, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhấn mạnh đặc biệt điều này là: “Tự bản chất, Kinh MÂN CÔI LÀ LỜI KINH CẦU HÒA BÌNH.” Trước hết là Hoà Bình Thế Giới: “Kinh Mân Côi đã được các vị tiền nhiệm của tôi và chính tôi nhiều lần đề nghị như một lời kinh cầu cho Hòa Bình. Vào lúc khởi đầu Ngàn Năm Mới, với biến cố tấn công kinh hoàng vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 (tại New York, Hoa Kỳ), chúng ta chứng kiến mỗi ngày, tại nhiều nơi trên thế giới, những cảnh đổ máu và bạo lực, thì việc khám phá lại kinh Mân Côi có nghĩa là đi sâu vào việc chiêm ngưỡng Mầu Nhiệm Chúa Kitô, là Bình An của chúng ta; bởi vì Người đã liên kết đôi bên thành một, và phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù hận (Thơ Ephêsô 2,14). Vì thế chúng ta không thể đọc Kinh Mân Côi mà không cảm thấy sự thôi thúc dấn thân một cách cụ thể để xây dựng hòa bình…” Rồi đến Hòa Bình và Hạnh Phúc Trong Gia Đình: “Gia Đình là nguyên tố xây dựng xã hội, mà ngày nay gia đình đang càng ngày càng bị những sức mạnh hủy diệt đe dọa, cả về phương diện ý thức hệ cũng như thực hành. Điều này đem đến nỗi lo cho tương lai của gia đình là nền tảng xã hội cũng như mối lo cho tương lai của toàn thể xã hội. Do đó, việc làm sống lại kinh Mân Côi trong gia đình công giáo là một công việc mục vụ rộng lớn, sẽ là một sức trợ giúp rất hữu hiệu để chống lại những tác động có tính cách hủy diệt qua các cuộc khủng hoảng của thời đại chúng ta.” Và Bình An Trong Tâm Hồn, Cũng Như Sự Kiến Tạo Hòa Bình Thế Giới: Kinh Mân Côi gìn giữ hạnh phúc, sự bình an cho tâm hồn chúng ta và giúp chúng ta trở nên những ‘khí cụ bình an của Chúa’: “Kinh Mân Côi đem lại sự bình an nơi người cầu nguyện ( bằng kinh Mân Côi) … và giúp họ gieo rắc chung quanh mình hòa bình đích thực, vốn là quà tặng đặc biệt của Chúa Giêsu Phục Sinh (Tin Mừng theo Thánh Gioan 14,27; 20, 21)… Bằng cách hướng con mắt tâm hồn chúng ta về Chúa Kitô, Kinh Mân Côi cũng biến chúng ta thành NHỮNG NGƯỜI KIẾN TẠO HÒA BÌNH THẾ GIỚI.. Kinh Mân Côi cho phép chúng ta hy vọng rằng, ngay trong thời buổi này, công cuộc chiến đấu cho hòa bình sẽ dành phần thắng lợi… Kinh Mân Côi không hề là một cơ hội để chúng ta tránh né những vấn đề của thế giới, trái lại kinh Mân Côi thúc đẩy chúng ta nhìn thẳng vào những vấn đề của thế giới với con mắt của những con người có tinh thần trách nhiệm và quan tâm; đồng thời ban cho chúng ta nghị lực để đối phó với những vấn đề đó…”
Kinh Mân Côi còn giúp chúng ta biết nghĩ đến và ra tay giúp đỡ những con người nghèo khó và đau khổ trên thế giới này. Đức Thánh Cha viết: Khi biết suy ngẫm đích thực, Kinh Mân Côi dẫn chúng ta đến gặp gỡ Chúa trong mầu nhiệm của Người, và vì thế, chúng ta không thể không quan tâm đến diện mạo Chúa Kitô nơi những người khác, nhất là những người đau khổ nhất. Làm sao chúng ta có thể chiêm ngưỡng mầu nhiệm Chúa Hài Nhi ở Bêlem trong Năm Sự Vui, mà lại không có lòng khao khát đón nhận, bảo vệ và cổ võ Sự Sống, và mang lấy gánh nặng của các trẻ em đang đau khổ trên thế giới này? Làm sao chúng ta có thể bước theo Chúa Kitô, Đấng Mạc Khải trong Mầu Nhiệm Sự Sáng, mà không cương quyết làm chứng cho các mối Phúc Thật của Người trong đời sống hàng ngày? Làm sao chúng ta chiêm ngưỡng Chúa Kitô vác Thánh Gía và chịu đóng đinh mà không nhận thấy cần phải hành động như Ông Simon thành Xirênê để nâng đỡ những anh chị em đang quằn quại đau đớn trong ê chề thất vọng? Cuối cùng, làm sao chúng ta có thể chiêm ngắm vinh quang của Chúa Kitô Phục Sinh và của Đức Mẹ Maria, Nữ Vương thiên đàng, mà không khao khát làm cho thế giới này tốt đẹp hơn, công bằng hơn, và theo sát hơn kế hoạch của Thiên Chúa?” Đáp lời mời gọi của Đức Thánh Cha, chúng ta hãy siêng năng dâng kính Mẹ những Tràng Hoa Mân Côi để cầu nguyện cho hòa bình nơi các gia đình, các cộng đồng, các dân tộc và trên toàn thế giới. Tất nhiên không phải chúng ta chỉ lần chuỗi Mân Côi vào Năm Mân Côi hay tháng Mân Côi, nhưng là hàng ngày, trong suốt cuộc đời. Hơn nữa khi lần chuỗi Mân Côi, không phải chúng ta chỉ đọc ngoài miệng, nhưng vừa đọc để tôn vinh Mẹ và cầu nguyện với Mẹ qua các kinh ‘Kính Mừng Maria... Thánh Maria...’, vừa suy ngắm các nhân đức của Mẹ qua các Mầu Nhiệm ‘Vui’, ‘Thương’, ‘Mừng’, ‘Ánh Sáng’, và đem áp dụng vào đời sống hàng ngày trong gia đình và xã hội. Chúng ta có thể cùng đọc chung trong gia đình, hoặc riêng tư một mình, hoặc chung các gia đình trong cùng một xóm (liên gia); cũng có cách lần Chuỗi Mân Côi ‘liên kết’, mỗi người một ngắm trong năm Mầu Nhiệm cùng với ‘Kinh Lạy Cha’, mười ‘Kinh Kính Mừng’, một ‘Kinh Sáng Danh’. Đọc hàng ngày. Như vậy cần 20 người cùng liên kết thành một nhóm, để hàng ngày cùng liên kết lời Kinh Mân Côi với nhau qua các Mùa Vui, Thương, Mừng và Ánh Sáng. Nhờ cách lần chuỗi liên kết như vậy, những người dù ở cách xa nhau ‘ngàn trùng’, cũng vẫn có thể liên kết với nhau qua lời kinh Mân Côi, để cùng cầu nguyện chung cho nhau và tạ ơn Chúa qua sự chuyển cầu của Mẹ Maria. Có người ngày nào cũng lần chuỗi và suy ngắm cả bốn mầu nhiệm ‘Vui, Ánh Sáng, Thương, Mừng’. Những người khác thường ngắm ‘Một tràng chuỗi Năm Mươi’ mỗi ngày.Theo truyền thống, thì Ngày Thứ Hai ngắm Mùa Vui, ngày Thứ Ba: mùa Thương, Ngày Thứ Tư: Mùa Mừng, Ngày Thứ Năm: Mùa Vui (nhưng bây giờ là Mùa Ánh Sáng), ngày thứ Sáu: Mùa Thương, ngày Thứ Bảy: Mùa Mừng, Ngày Chúa Nhật: Mùa Mừng. Như vậy qua việc đọc Kinh Mân Côi, chúng ta có dịp suy ngắm suốt cuộc đời của Chúa Giêsu liên kết với Mẹ Maria trong Năm Mầu Nhiệm Cứu Chuộc. Bắt đầu từ giờ phút vô cùng trọng đại ‘Thiên Thần Truyền Tin’ qua các biến cố ‘Viếng Thăm Bà Elizabeth’, ‘Sinh Chúa nơi hang đá Bêlem’, ‘Dâng Chúa vào Đền Thờ’, ‘Tìm thấy Chúa trong Đền Thờ’ (Mùa Vui)... Tiếp theo là các biến cố chính trong cuộc đời Truyền Giáo của Chúa (Năm Ngắm Sự Sáng): Chúa Giêsu chịu Phép Rửa tại sông Gio-đan; Chúa Giêsu làm phép lạ đầu tiên tại tiệc cưới Cana do lời xin của Mẹ Maria; Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng Tin Mừng qua lời mời gọi cải thiện đời sống ‘Thống Hối; Chúa Giêsu ‘hiển dung’ (biến hình) trên núi Tabor; Chúa Giêsu thành lập Bí Tích ‘Mình Máu Thánh Chúa’ (Thánh Thể) trong bữa Tiệc Ly trứơc khi bước vào cuộc khổ nạn... Sau đó là các biến cố đau thương của Chúa trong Năm ngắm ‘Mùa Thương’: Cầu nguyện trong thống khổ tại Vườn Cây Dầu (Giêsimani); Chịu đánh đòn; Phải đội mũ làm bằng gai nhọn (Mão gai); Vác Thánh giá lên ‘Núi Sọ’ (Gôn-gô-ta); Chết đau đớn trên thánh giá… Sau cùng các Mầu Nhiệm trong ‘Mùa Mừng’: Chúa Giêsu sống lại; Chúa Giêsu lên Trời; Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông Đồ; Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời; Đức Mẹ được Vinh Thưởng trên Nước Trời. Như vậy, khi chúng ta lần chuỗi Mân Côi, là chúng ta đã lần lượt suy ngắm ‘Tin Mừng’ một cách tổng quát (như Đức Thánh Cha nói trong Tông Thư Kinh Mân Côi: “Kinh Mân Côi là bản tóm lược toàn bộ sách Tin Mừng... Dù việc lần Chuỗi Mân côi không thể thay thế việc đọc Kinh Thánh, và đọc các giờ ‘Kinh Phụng Vụ’ của các Linh Mục và tu sĩ”). Đồng thời với việc suy ngắm các ‘Mầu Nhiệm’ cuộc đời của Chúa Giêsu nơi trần gian, chúng ta cũng dâng lên Thiên Chúa và Mẹ Maria những lời kinh trọng đại ‘Lạy Cha’, ‘Kính Mừng’, ‘Sáng Danh’ cũng được lấy ra từ ‘Tin Mừng’. Do đó khi chúng ta cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi, chúng ta vừa thờ phượng Chúa, vừa tôn vinh và cầu nguyện với Đức Maria và tu luyện đời sống đạo đức của chúng ta để mỗi ngày nên tốt hơn, xứng đáng là những người con của Chúa và Mẹ Maria. Khi Đức Mẹ hiện ra tại Fatima (1917), Đức Mẹ đã nhắc nhở chúng ta hãy siêng năng lần Chuỗi Mân Côi và cải thiện đời sống. Điều đó càng quan trọng hơn trong thế giới hôm nay mà mỗi ngày mỗi trở nên suy đồi hơn về vấn đề đạo đức và luân lý, cùng với những chủ trương đi ngược với lương tâm con người lương thiện và phá hủy nền tảng giá trị gia đình (family values) như: luyến ái tự do, ly dị, phá thai, và coi hôn nhân như sự kết hợp giữa hai người bất kể nam, nữ (same sex marriage)... Một điều rất quan trọng mà chúng ta cần lưu ý là khi Lần Chuỗi Mân Côi, chúng ta phải đọc thong thả, vừa đọc vừa suy ngẫm các Màu Nhiệm mà chúng ta đã xướng trước mỗi chục Kinh Kính Mừng. Vì thế Đức Gioan Phaolô II cũng nhắc nhở chúng ta trong Tông Thơ về Kinh Mân Côi: “Kinh Mân côi phát xuất chính từ kinh nghiệm riêng của Đức Maria, nên là một lời kinh chiêm ngưỡng sâu sắc. Không có sự suy ngẫm sâu xa, kinh Mân côi sẽ như một cái xác không hồn, như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nhấn mạnh: ‘Không có sự chiêm ngẫm, kinh Mân Côi trở thành một cái xác không hồn, và việc lần chuỗi trở nên một việc nhai đi nhai lại một số công thức có tính cách máy móc, và như thế là vi phạm Giáo huấn của Chúa Kitô: ‘Khi cầu nguyện chúng con đừng lại nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng, cứ nói nhiều là được nhận lời (Mt. 6, 7). Tự bản chất, việc đọc kinh Mân Côi đòi hỏi một nhịp điệu thanh thản và kéo dài, để giúp mọi người chiêm ngắm các Mầu Nhiệm trong cuộc đời của Chúa như được nhìn thấy bằng đôi mắt của Mẹ Maria, người đã sống hết sức gần gũi với Chúa. Bằng cách đó, sự phong phú khôn ví của các Mầu Nhiệm được bày tỏ …” Ở một đoạn khác, Đức Gioan Phaolô viết: “Việc suy ngẫm các Mầu nhiệm Chúa Kitô trong kinh Mân Côi được thực hiện bằng một phương pháp đã lập ra để giúp ta đồng hóa với Mầu Nhiệm. Đó là phương pháp dựa trên việc lập đi lập lại. Việc lập đi lập lại trước tiên được áp dụng cho kinh Kính Mừng, được lập đi lập lại 10 lần trong mỗi Mầu Nhiệm. Nếu lời kinh này được lập đi lập lại một cách hời hợt, chắc chắn người ta sẽ có cám dỗ xem kinh Mân Côi như một việc đạo đức khô khan, nhàm chán. Trái lại, người ta sẽ không cảm thấy khô khan, nhàm chán nếu xem kinh Mân Côi, như một sự trao dâng của tình yêu không ngừng, hướng về Đấng mình yêu mến, với những cách diễn tả, tuy giống nhau về nội dung, nhưng luôn luôn mới mẻ về phương diện cảm hứng.” Nếu vừa đọc vừa suy ngẫm các Mầu nhiệm, thì việc lần chuỗi Mân Côi sẽ giúp chúng ta hợp với Mẹ Maria để đi sâu xa hơn vào Đời Sống và Tin Mừng của Chúa Giêsu, Đấng Cứu chuộc và là con đường đưa chúng ta đến Chân Lý và Sự Sống đời đời. Vì thế Đức Thánh Cha Gioan Phalô II cũng nhắc nhở chúng ta: “Một điều rõ ràng là: cho dù lời Kinh Kính Mừng được lập đi lập lại trực tiếp dâng Đức Mẹ Maria, nhưng hành vi yêu thương rốt cuộc lại HƯỚNG VỀ CHÍNH CHÚA KITÔ, với Mẹ và qua Mẹ. Việc lập đi lập lại được nuôi dưỡng bởi lòng khát khao trở nên giống Chúa Kitô một ngày một hơn, và đó là mục đích nhắm tới của đời sống mỗi Kitô hữu. Thánh Phaolô diễn tả điều đó bằng những lời đầy lửa yêu mến: ‘Đối với tôi, sống là Chúa Kitô, và chết là một mối lợi’ (Thơ Philipphê 1,21); ‘Tôi sống nhưng không phải là tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi’ (Thơ Galat 2, 20). Như vậy kinh Mân Côi giúp chúng ta trở nên giống Chúa Kitô một ngày một hơn cho đến khi chúng ta đạt tới sự thánh thiện thật sự viên mãn.” Sau đây chúng tôi xin gửi đến qúy vị và các bạn Năm Ngắm của ‘MÙA ÁNH SÁNG’ mà tôi thấy đã được dùng ở nhiều nơi: · Thứ Nhất: Đức Chúa Giêsu chịu Phép Rửa tại sông Gio-đan. Ta hãy xin cho được sống đẹp lòng Đức Chúa Trời. · Thứ Hai: Đức Chúa Giêsu làm phép lạ hóa nước thành rượu tại Cana. Ta hãy xin cho được vững tin vào quyền năng của Đức Chúa Trời. · Thứ Ba: Đức Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời và ơn thống hối. Ta hãy xin cho được ơn sửa tâm hồn. · Thứ Bốn: Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor. Ta hãy xin cho được lắng nghe Lời Người. · Thứ Năm: Đức Chúa Giêsu lập Phép Thánh Thể. Ta hãy xin cho được siêng năng rước Mình Máu Thánh Người. Xin Thiên Chúa là Cha nhân lành, nhờ lời Mẹ Maria Mân Côi chuyển cầu, ban muôn ơn lành cho mỗi người, mỗi gia đình, cho toàn thể Giáo Hội và thế giới, cũng như cho Quê Hương và Giáo Hội Việt Nam. Trở về mục lục >> ¶
GƯƠNG THÁNH NHÂN
NGUYỆN VỌNG BÊN NHÀ TẠMThánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu Lm. Giuse Têrêsa Trần Anh Thụ
(1896, Xuân Thu dịch từ "Mes desir près du Tabermacle")
Khởi đi từ 'lòng tham' rất trẻ thơ: "Em chọn tất cả!..." cô bé Têrêxa Hài Đồng Giêsu - đã sống trọn vẹn cuộc lữ hành trần thế của mình. Đỉnh cao ‘lòng tham’ của Têrêxa chính là chiếm lấy Chúa Giêsu. Nói cách khác, gạch nối giữa Chúa Giêsu Thánh Thể và Têrêxa chính là khát khao cháy bỏng của Con Đường Thơ Ấu Thiêng Liêng. 1. No thỏa hôm nay từ cơn khát của trẻ thơ hôm quaĐói khát là một trong những nhu cầu căn bản mà con người cần được thỏa mãn để được sống. Nhưng, không chỉ dừng lại ở thứ cơm bánh đời thường, Chúa Giêsu mời gọi con cái Ngài sống bằng 'lương thực' của Thiên Chúa trao ban (x. Ga 6). Bé Têrêxa đã tìm về tận nguồn để thỏa mãn cơn đói khát của trẻ thơ bằng thứ lương thực Chúa Giêsu trao ban.
Phần con đây, đứa bé của trần gian, (La Rosée Divine ou Le Lait Virginal de Marie - 2/2/1893) Cơn khát của Têrêxa không chỉ là một ngày nhưng là cơn khát của một đời. Để có thể nhận được thứ "Sữa trinh nguyên", chị đã phải trải qua thời gian dài của chờ đợi trong đói khát: 4 năm dài chờ đợi để rước lễ lần đầu, từng ngày tiếp tục đợi chờ để được ăn. Chị tâm sự: “. . . chỉ có Chúa Giêsu mới làm cho con được thỏa mãn, con khao khát mong mỏi được rước Chúa lần thứ hai. Chừng một tháng sau vào dịp lễ Chúa Thăng Thiên, con đi xưng tội và cả gan xin phép rước lễ. Thật quá lòng mong ước, cha giải tội đã cho con toại nguyện. . . Từ lần ấy trở đi, càng ngày con càng khao khát rước Mình Thánh Chúa và con được phép rước lễ trong tất cả các lễ trọng. . . “ (Tự thuật). Chính khát khao Thánh Thể của Têrêxa đã thôi thúc chị cầu nguyện để thúc đẩy Giáo Hội quay trở về với tận Nguồn của Đấng đã trao ban: “Chúa bỏ trời xuống thế hằng ngày không phải để ở trong bình vàng, nhưng để tìm một Thiên đàng khác mà Chúa yêu quý hơn ngàn lần: Thiên đàng ấy là linh hồn chúng ta được dựng nên theo hình ảnh của Ngài, đền thờ sống động của Chúa Ba Ngôi đáng tôn thờ yêu mến” (Tự thuật). Sau thời gian dài, việc không cho rước lễ mỗi ngày đã được thay đổi với sắc lệnh của Đức Lêô XIII ngày 17/12/1890, nhưng trong Dòng kín Carmen, mãi sau khi chị Têrêxa qua đời lời tiên báo "không thiếu bánh ăn hàng ngày" mới có hiệu lực. Và có lẽ, quyết định cho trẻ em rước lễ lần đầu sớm hơn của Đức Piô X cũng khởi đi từ những khát khao chảy bỏng của trẻ thơ Têrêxa. 2. Từ cơn đói cơm bánh đến no thỏa Tình yêuThỏa mãn nhu cầu căn bản được no thỏa cơm bánh, con người cần một thứ nhu cầu khác cao hơn: yêu và được yêu. Bé Têrêxa cũng đã trải qua hành trình đó: khát cơm bánh và khát tình yêu:
Bánh Hằng Sống, bánh trời, là Mình
Thánh, Kinh nghiệm của hòa quyện cũng chính là kinh nghiệm của tình yêu. Tình yêu thúc đẩy Têrêxa - người đang yêu -đi đến chỗ sống như Đấng là Tình yêu:
Sống vì yêu là sống đời của Chúa, (Trích: Vivre d'amour-Sống vì yêu). Trong tự thuật nhiều lần chị cũng đã kể lại những kinh nghiệm sống ẩn mình bên Thánh Thể: “Mỗi buổi chiều con đều đi dạo với ba một lát; hai cha con đi viếng Thánh Thể, nay viếng nhà thờ này, mai viếng nhà thờ khác, . . . chả ai để ý đến con, nên con trèo lên gác nhà nguyện và chầu Mình Thánh Chúa cho đến lúc ba đến đón con. Con tìm thấy nìêm an ủi ở đây mà thôi, vì Chúa Giêsu chẳng phải là người bạn duy nhất của con đấy ư? Con chỉ biết nói chuyện với Chúa thôi, nói chuyện với người thế gian, thì dù nói chuyện đạo đức, con cũng thấy mệt lòng lắm. . . con thấy rằng nói chuyện với Chúa hơn la nói chuyện với nhau về Chúa, và trong những câu chuyện đạo đức cũng pha phôi nhiều tự ái lắm!” No thỏa tình yêu của Chúa Giêsu trao ban, Têrêxa còn đi xa hơn nữa: yêu mến và gắn bó với Nhiệm thể Ngài. Một cô bé 11 tuổi đã sống kinh nghiệm hiệp thông trong bí tích Thánh Thể vượt xa các nhà thần học. Cuộc hiệp thông không chỉ dừng lại ở các chi thể trong Giáo hội tại thế nhưng là cuộc hiệp thông với cả Giáo hội vinh thắng. Chị kể: “Niềm vui quá dạt dào quá, bao la quá lòng nó chưa chẳng hết, nên giòng lệ vui mừng lã chã tuôn rơi làm chị em bỡ ngỡ. Đến sau các chị hỏi nhau: "tại sao nó khóc thế nhỉ? Phải chăng lương tâm nó có đìêu gì áy náy đó?. . . không có, không phải đâu, chắc là nó tủi thân; vì hôm nay không có má, hay là tại chị nó ở trong dòng kín rồi đi không được. . . chị em bạn con không hiểu rằng ơn trời đổ xuống trong một tâm hồn lưu đày này, thì làm sao nó chịu được mà chẳng khóc. . . Ồ không, sự vắng mặt của má trong ngày con rước lễ lần đầu không hề làm con buồn, cả thiên đàng không ở trong tâm hồn con sao, mà Má thì chẳng ở trong thiên đàng ấy từ lâu rồi sao? Bởi vậy trong khi con rước Chúa Giêsu, con cũng tiếp rước cả má. Người đã chúc phúc cho con và vui mừng khi thấy con được hạnh phúc. . . con cũng không khóc vì xa vắng chị Pauline, dĩ nhiên là nếu có chị ở bên con thì hạnh phúc hơn, nhưng con đã dâng hy sinh ấy cho Chúa từ lâu rồi, hôm ấy con được vui mừng hoàn toàn. Con kết hợp cùng chị là người đã hiến trọn đời cho Đấng đã hiến thân mình cho con một cách âu yếm dịu dàng!. . .” (Tự thuật) 3. Từ cơn khát Thánh Thể đến cơn khát Thánh GiáTừ nhu cầu căn bản là cơm bánh Thánh Thể, Têrêxa đi đến chỗ khát khao sống tình yêu như một ơn gọi riêng biệt của chị giữa lòng Hội Thánh; và để rồi, khát khao của Têrêxa đi đến đỉnh của sự toàn thiện: khát khao thánh giá. Chị tâm sự rằng: “Tối hôm trước những ngày trọng đại ấy, chị Marie đặt con lên đầu gối và giúp con dọn mình như khi con rước lễ lần đầu; con còn nhớ có một lần chị nói về sư đau khổ và bảo con rằng: chắc Chúa sẽ bồng con trên cánh tay như bồng đứa con nhỏ, chứ không để con đi trên đường đau khổ đâu. . . Sáng hôm sau, khi rước lễ rồi, con lại nhớ đến lời chị nói hôm trước; tâm hồn con bỗng cảm thấy khát khao chịu đau khổ và đồng thời con tin rằng Chúa Giêsu sẽ dành cho con rất nhiều thánh giá. Con cảm thấy lòng tràn ngập an ủi đến nỗi coi những thánh giá ấy như những ân huệ lớn lao nhất của đời con. Đau khổ đã trở thành một hấp lực làm con say mê mà con vẫn chưa hiểu thấu cái sự tuyệt diệu của nó. Từ ngày ấy về trước con đã chịu đau khổ, nhưng không hề yêu đau khổ; còn từ nay về sau, con cảm thấy yêu đau khổ thật sự. Con cũng cảm thấy yêu một mình Chúa và tìm hoan lạc trong Người mà thôi. Thường trong lúc rước lễ con lặp lại lời sách Gương Phúc 26, 3: "Ôi Chúa Giêsu, Chúa chính là Đấng Dịu hiền khôn tả xin hãy biến đổi mọi an ủi ở đời thành những chua xót đắng cay cho con.” (Tự thuật). Chúng ta có thể không cảm nghiệm được đau khổ của chị trong khuôn viên của đan viện. Và nếu có chăng, chúng ta có cảm giác một Têrêxa "bất bình thường" vì đam mê đau khổ. Khát khao Thánh Thể làm cho Têrêxa khát khao đau khổ, nhưng chắc một điều, Têrêxa không bao giờ tìm kiếm đau khổ vì đau khổ mà chỉ vì nó là phương thế để chị thể hiện tình yêu với Chúa Giêsu. Ước vọng chịu đau khổ của Têrêxa luôn luôn là ước vọng tuân hành thánh ý Chúa: “Em không ước muốn chịu đau khổ cũng như chết chóc nhưng em vẫn yêu quý cả hai. Lúc này chỉ còn lòng lòng phó thác hướng dẫn em, ngoài việc xin thánh ý Chúa thực hiện trọn vẹn trên em, thì em không biết nguyện cầu gì khác nữa.” (Tự thuật). 4. Thánh Thể - hành trình của trẻ thơCon đường trẻ thơ của Têrêxa không phải được hình thành trong nhà kín, nhưng đã là cả một hành trình khởi đi từ khi chị có trí khôn. Chính tâm hồn khát khao gắn bó với Thánh Thể đã làm nên hành trình của con đường thơ ấu của chị. Khởi đi từ một thái độ rất trẻ thơ với Thánh Thể - Bánh phép - mà bé Têrêxa vẫn được chị Céline cho ăn mỗi lần sau khi chị đi dự lễ về, Têrêxa bắt đầu đi vào trong tiến trình thơ ấu bằng việc chuẩn bị đón nhận hồng ân Thánh Thể. Tuần cấm phòng 3 ngày trước đó đã để lại trong chị một kỷ niệm êm đềm khôn tả của hạnh phúc mong chờ Chúa Giêsu. Chị cảm nghiệm được rằng: “Chúa nhân lành không nỡ để sợi mây buồn nào làm vẩn đục tâm hồn con. . . Ngày con rước lễ lần đầu, con lại được vui mừng không vương chút ưu phiền, có lẽ con đã dọn mình kỹ lưỡng đến thế là cùng, và mọi đau đớn phiền muộn tan biến trong vòng gần một năm. Chúa Giêsu muốn cho con được nếm một thứ hoan lạc tinh ròng nhất ở dưới vũng châu lệ này. . . Đối với chị, việc chuẩn bị đó chính là "rắc vào lòng những cánh hoa mới cho Chúa Giêsu đến ngự được vui lòng. . . mỗi ngày con làm được rất nhiều việc hy sinh hãm mình, đó là những đóa hoa, . . . dốc quyết tập tành nhân đức.” (Tự thuật). Những đóa hoa mà ngay từ thời thơ ấu, chị đã thích thú tung lên khi đi kiệu Thánh Thể: “Con thích nhất là đi kiệu Thánh Thể, còn vui sướng nào được bằng tung hoa dưới đường Chúa qua! nhưng trước khi cánh hoa rơi xuống đất, con phải tung thật cao chừng nào có thể và con vui sướng khi thấy những cánh hồng của con chạm tới hào quang.” Đối với Têrêxa, không chỉ là những cánh hoa tung lên chạm tới hào quang, nhưng còn là cả cánh hoa cuộc đời - những cánh hoa bé nhỏ để được Chúa Giêsu Thánh Thể ghé môi hôn và làm cho nó tan biến. Chị kể lại cảm nghiệm của mình ngày rước lễ lần đầu: “Ôi ngọt ngào thay cái hôn đầu tiên Chúa Giêsu tặng cho linh hồn con. . . đó là cái hôn làm con cảm thấy Chúa yêu con quá, bất giác con thưa cùng Người: "Lạy Chúa con yêu Chúa và con xin tận hiến đời con cho Chúa." Chúa không đòi con phải chiến đấu hay hy sinh gì cả, vì Chúa Giêsu và bé Têrêsa đã nhìn ngắm nhau, đã hiểu nhau từ lâu lắm rồi. . . hôm ấy không phải chỉ là nhìn ngắm, nhưng là kết hợp cùng nhau, hai người đã trở nên một. Têrêsa đã tan biến đi như giọt nườc r?t xuống đại dương, rồi tan biến trong đại dương, chỉ còn lại mình Chúa Giêsu là Chúa và là vua. Têrêsa đã xin Chúa đừng để cho nó còn tự do, vì tự do làm cho nó sợ hãi. Nó cảm thấy mình yếu đuối quá, mỏng manh quá, nên muốn đời sống đời kết hợp cùng Chúa là sức mạnh vô biên!. . .” (Tự thuật). Chính kinh nghiệm kết hợp, hòa tan giúp Têrêxa khám phá ra sự thật của mình và bắt đầu bước đi vào trong tiến trình trẻ thơ cách trọn vẹn hơn bằng sự khiêm nhường, cậy trông và phó thác suốt cuộc đời. Cho tới những giây phút cuối cuộc hành trình, chị vẫn quả quyết: “Nếu tôi có làm lại cuộc đời, thì tôi chỉ muốn là một con trẻ bé nhỏ luôn giơ tay bám chặt lấy "Giêsu Hài Nhi". Và chính trong khát khao cháy bỏng ấy mà trong từng ngày sống, chị vẫn đang tiếp tục nài xin: “Ôi! Con không được chịu Mình Thánh Chúa nhiều lần như lòng khao khát, nhưng lạy Chúa, Chúa không là Đấng Tòan Năng sao?. . . Xin Chúa ở lại trong con như trong nhà tạm. Xin Chúa đừng bao giờ lìa xa tấm bánh nhỏ của Chúa đây. . . “(Kinh dâng mình)● Trích Người Tín Hữu ¶
NGUỜI GIÁO DÂN VÀ ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN (tiếp theo Maranatha_59) Giám mục Pier Giorgio Falciota, O.C.D. - Maranatha dịch
1- Kinh thánh, trưỜng dẠy cẦu nguyỆn : Ta có thể khẳng định chắc chắn rằng ta học cầu nguyện khi ta cầu nguyện, tương tự như ta học vẽ khi ta vẽ, học ngôn ngữ mới khi ta học nói, học đàn khi ta chơi đàn, bởi lẽ thực tập sẽ dẫn đến dễ dàng hoá và hoàn thiện hoá một khả năng, một nghệ thuật hay một hoạt động nào đó. Ngay từ buổi đầu của nhân loại mọi sư không phải như thế, vì lúc bấy giờ, đối với con người, thụ tạo ưu tuyển, việc đối thoại với Thiên Chúa là điều hoàn toàn tự nhiên. Sách Khởi Nguyên kể rằng các tổ phụ đã nhận ra sự hiện diện và nghe tiếng của Thiên Chúa trong vườn địa đàng, Adong đã được giúp đỡ để đọc được cuốn sách lớn vũ trụ và ông đã đặt tên cho mọi thứ mọi vật xung quanh ông. Chính khi tổ phụ chúng ta không còn muốn nghe tiếng Chúa làm hạn chế tự do của mình (Ngươi sẽ không ăn trái cây hiểu biết) chính khi ấy là lúc họ không muốn nhìn nhận mình tùy thuộc Đấng Tối Cao (không chấp nhận tôn thờ), họ đã nổi loạn một cách kiêu căng và những lời cuối cùng họ nghe được Chúa nói lại là lời kết án họ. Rồi sau đó là im lặng tuyệt đối, chia rẽ, mất hiệp thông; những thứ ấy thay thế tương quan tự nhiên và vui tươi với đấng Trọn Lành, với chính Thiên Chúa. Cuộc đối thoại đã bị gián đoạn. Lời kêu van của kẻ tội lỗi trở thành một cuộc độc thoại. Một sự độc thoại hướng lên cái bí mật dày đặt nhất và không thể chọc thủng, và tùy theo văn minh và văn hóa khác nhau, cuộc độc thoại ấy mang lấy những hình thức khác nhau trong các niềm tin tôn giáo; cuộc độc thoại mà con người gởi kèm với mọi lễ tế, đôi khi dã man (kể cả tế sát con người) hòng lấy lòng những thần linh, thường thường là những nhân vật tưởng tượng, giận dữ cuồng nộ, và con người mong nhận nơi họ được một vài lợi lộc. Tuy nhiên, bởi lẽ lòng thương xót Người vô biên, nên Thiên Chúa không bỏ mặc loài thọ tạo của Người; thế là, ngay từ ngày đầu tiên sa ngã thảm hại, một đóm sáng cứu độ đã bùng lên trong đêm tối chiếu soi một nhân loại đang dò dẫm bước đi, một ngọn lửa nhỏ được Dân Chúa Chọn nuôi dưỡng qua dòng thời gian và bừng sáng lên vào thời sau hết khi Đức Kitô đến. Chính Israel, dân mà Thiên Chúa đã “chọn giữa mọi dân tộc trên trái đất để làm dân của Người,” trước thời kỳ phổ quát được loan báo trong thời đại của đấng Cứu Độ Messia, chính Israel đã tiếp tục đối thoại với Thiên Chúa. Thật vậy, toàn bộ Cựu Ước là một trường dạy cầu nguyện. Ví dụ ta hãy nhớ lại các tổ phụ và các tiên tri xem; trong cô tịch, họ lắng nghe tiếng của Đấng Tối Cao, trò chuyện với Chúa và bày tỏ Thánh ý Chúa cho dân Người. Trước tiên là Môsê. Ông trò chuyện với Thiên Chúa “mặt đối mặt, như một người trò chuyện với bạn mình”; còn Elia thì cũng chiêm ngắm vinh quang Thiên Chúa; cũng chính họ đã chứng kiến Đức Kitô biến hình trên núi Tabor, cuộc thần hiển vĩ đại trong Tân Ước. Và chính Môsê đã lãnh nhận Lề luật và đem về cho anh em, bản lề luật mà mệnh lệnh đầu tiên là thờ lạy Thiên Chúa duy nhất và đích thực, ngợi khen Chúa, Vua vũ trụ, bằng cách tránh xúc phạm Người, cùng với mệnh lệnh phải tôn trọng “Ngày của Chúa” dành để thờ phượng Người. Khi đức Giêsu Kitô đến, - Ngài là vị tiên tri tột đỉnh và đấng mặc khải trọn vẹn về Cha - ba giới răn đầu tiên sẽ tương ứng với phần đầu của kinh Lạy Cha. Cùng một thể thức như vậy, những giới răn còn lại, xác định tương quan giữa chúng ta với đồng loại và là rường cột của lề luật, thì cũng được Đấng Cứu Thế nhắc lại trong khi tuyên bố về Giới luật Phúc Âm về Bác Ái. Nhưng tổng hợp tuyệt vời nhất về cảm thức tôn giáo trong Cựu Ước, ta gặp trong các Thánh Vịnh; tác phẩm do chính Thiên Chúa linh hứng cho Con Cái Người những lời lẽ, những tình cảm và thái độ mà mọi người cần phải có đối với Người, và Người muốn mỗi người phải có. Đấy là những lời cầu nguyện thực sự có âm vang phổ quát, những lời thờ lạy, ngợi khen, van nài và cảm tạ. Khi sắp đến ngày viên mãn của công cuộc mặc khải, chúng ta có bài Chúc tụng (Benedictus) của Zacaria và bài Ngợi khen (Magnificat) của Đức Mẹ. Khi Mẹ cưu mang trong lòng - như một nhà tạm thực sự - Ngôi Lời Nhập Thể, Mặc Khải của Chúa Cha, Mẹ được tràn đầy Thánh Thần và ca lên bài thánh ca ngợi khen Thiên Chúa hay nhất mọi thời, bài ca của Đức Mẹ Đồng Trinh, người con gái của Con Trai Mẹ. Nhưng lời cầu nguyện cao vời nhất, chúng ta sẽ tiếp nhận được từ môi miệng của Chúa Giêsu: ấy là lời kinh chuyển cầu và hiến tế mà Đức Kitô dâng lên Cha trên trời, và đó cũng là lời kinh mà, trước khi đến đỉnh đau thương ở Giết sê ma ni - “non mea sed tua voluntas fiat” (đừng theo ý con mà theo ý Cha) - và giai đoạn “consumatum est” (mọi việc đã hoàn tất) ở Núi Sọ, lời kinh thăng hoa cả cuộc đời Ngài, mà cuộc đời ấy lại là một cuộc đối thoại liên lỉ với Chúa Cha. Ấy là một lời cầu nguyện, nghĩa là một cuộc đàm đạo, của con người và của Thiên Chúa, mà Ngài đề ra cho bản thân Ngài, cho các môn đệ mà Ngài đã phái đi trong thế gian ở mọi thời đại - “Như Cha đã sai con vào thế gian, con cũng sai họ vào thế gian” - và cho Giáo Hội, Nhiệm thể của Ngài, với viễn cảnh của một cuộc hiệp nhất - hiệp thông tuyệt hảo: “hầu cho họ trở nên một như Chúng Ta, con ở trong họ và họ ở trong con, để họ trở nên trọn lành trong hiệp nhất” hầu cho sự hiệp nhất khêu dậy đức tin “và thế gian biết rằng Cha đã sai con”● (còn tiếp) ¶
Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA THÁNG 10 NĂM 2005
Ý Chung: Cầu cho các Kitô hữu biết làm chứng cho đức tin trong một xã hội trần tục hóa: Xin cho các Kitô hữu đừng nản lòng trước những thách đố của xã hội trần tục hoá, nhưng đem hết lòng tin tưởng mà làm chứng cho đức tin và niềm hy vọng của mình. Ý Truyền Giáo: Cầu cho các tín hữu dâng lời cầu nguyện và đóng góp cho việc truyền giáo: Xin cho các tín hữu vừa tha thiết cầu nguyện cho việc truyền giáo, vừa cố gắng đóng góp cả về mặt tài chánh cho công cuộc này.
¶
SỐNG ĐẠO
Ý NIỆM: TÊN LỪA BỊP HAY NGƯỜI DẪN ĐƯỜNG Khổng Nhuận
Ý niệm là gì? Đó là tất cả những gì chúng ta tô vẽ cho thực tại dựa vào cá tính, sở thích của mỗi người. Nó được hình thành từ những gì chúng ta thu lượm được do xã hội, văn hoá, tôn giáo nhồi nhét vào đầu chúng ta thành những công thức đóng khung, khô cứng. Ý niệm là một yếu tố vô cùng quan trọng trong cuộc sống thường ngày đặc biệt là về khoa học kỹ thuật, nhờ đó con người ngày càng tiến bộ vượt bậc. Điển hình là trong lãnh vực vi tính. Trong lãnh vực giao tiếp, ý niệm mang nhiều dáng vẻ: Ý niệm mang đôi mắt hình viên đạnLinh mục Mello kể một câu chuyện đáng tiếc như sau. Một chị nữ tu nổi tiếng là khó tính khó nết, chẳng mấy ai ưa chị. Trước khi chị đi tĩnh tâm, mọi người xầm xì dè bỉu: Đi tỉnh tâm cũng vô ích, có thay đổi gì đâu. Không ngờ, sau một tuần tĩnh tâm chị đã thay đổi khá nhiều, những người cùng khoá tĩnh tâm ai cũng nhận ra vẻ vui tươi trên khuôn mặt, nét rạng ngời trong ánh mắt, nét tươi hồng trên đôi môi kèm theo thái độ nhã nhặn, dịu dàng. Nhưng khi chị trở chị trở về cộng đoàn, các chị em vốn có những định kiến không tốt về chị, vẫn cứ tiếp tục nhìn chị bằng những ấn tượng nghi ngờ. Họ bàn tán: “Trông cô ta cũng có vẻ đỡ hơn chút xíu, nhưng cứ chống mắt lên mà xem, ba bảy hai mươi mốt ngày thì đâu lại hoàn đấy!!!” Quả thực, chỉ vài tuần sau, chị ta đã trở về tình trạng cũ: Đó là cách phản ứng lại cách đối xử của các chị em trong nhóm. Và họ được thể la toáng lên: “Đấy đã bảo mà, đợi tết Công gô, may ra cô ấy mới thay đổi được.” Thế nhưng bi kịch vừa diễn tiến ra trong lòng chị nào ai có hay. Đúng là ý niệm thiên kiến mang đôi mắt hình viên đạn đã bắn ngã gục một người muốn đứng dậy, làm lại cuộc đời. Đôi khi ý niệm làm cho ta tẽn tò!!.Sau bao năm xa cách, gặp lại người bạn thân, tôi mừng quýnh hét lên: Hùng! mười năm rồi không gặp. Rồi ôm chầm lấy anh bạn quý. Tôi đang ôm ai? Hùng hay hoài niệm của tôi về Hùng? Tôi đang nghĩ rằng anh ta vẫn dễ mến như xưa. Nhưng chừng 15 phút sau, tôi mới nhận ra Hùng đã thay đổi quá nhiều và tôi không còn thích anh ta nữa. Tôi đã ôm lầm người!! Ý niệm đã trở thành tên lừa bịp thật khéo léo khiến ta phải tẽn tò!!! Thỉnh thoảng, trước khi gặp một người mà ta được giới thiệu, ý niệm thường vẽ trong trí ta một hình ảnh nào đó, nhưng khi gặp mặt, ta mới té ngửa và thất vọng khi mẫu người trong ý niệm của ta không giống như người mà ta gặp gỡ. Và thay vì ta vui vẻ tiếp chuyện, ta lại tỏ ra thờ ơ lạnh nhạt Ý niệm mê hoặc con tim.Thường thường, khi lớn lên mỗi ngưòi chúng ta hình thành trong tâm trí mình một mẫu người lý tưởng và bất chợt gặp được một người mang một vài nét thôi cũng đủ ta bị mê mẩn bởi tiếng sét ái tình. Ta tô vẽ cho người ta yêu bằng đủ mọi thứ hào quang và trao vào tay họ toàn bộ quyền lực khiến ta trở thành một tên nô lệ tình yêu một cách tự nguyện. Trong khi những người khác thắc mắc: Không hiểu anh chàng ấy thấy cái quỷ gì nơi cô ta? Thực ra, chàng đâu có thầy gì nơi cô ta, bằng chứng là có những trường hợp: Trước đây, chàng gặp nàng hàng ngày, chàng có thấy gì đặc biệt đâu. Ấy thế mà, chỉ trong một buổi chiều tím, chiều nhớ thương ai... , tâm hồn chàng lâng lâng nhè nhẹ như gió, bồng bềnh trên cánh mây lang thang cuối trời, thấy tóc nàng bay trong gió thật lãng mạn, chàng ta lập tức bị mê hồn và sau đó là những tháng ngày thần tiên bên | |||