Số 61, Ngày 15-10-2005

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Luyện Hình và Sám Hối Nhân Chuyện Lần Hạt Mân Côi Bửu Sao

Sức Mạnh Cứu Rỗi Của Tràng Chuỗi Mân Côi Sr J. B. Minh Nguyệt dịch

Linh Đạo Mẹ Têrêxa Calcutta - Hoàng Văn Phúc

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D.

Có Những Bài Giảng Không Lời Cư Sĩ Xuân Thái

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa quý độc giả,

 

Những ngày này, thế giới xôn xao về tin dịch cúm gà đang lan tràn từ Châu Á đến Châu Âu, và chính phủ Hoa Kỳ cũng có kế hoạch để ngăn ngừa bệnh dịch nguy hiểm này vì khả năng của căn bệnh gây tử vong rất khó lường. Thêm vào đó, những tin tức về thiên tai: sau những mất mát của trận cuồng phong Katrina và Rita tại một số tiểu bang miền tây Hoa Kỳ thì cơn bão số 7 lại tàn phá nặng nề một số tỉnh miền bắc và miền trung Việt Nam; cơn động đất lớn 6.7 xảy ra trong tuần qua tại Pakistan và miền bắc Ấn Độ vẫn là nỗi bàng hoàng kinh hãi cho dân chúng ở đây vì những cơn hậu chấn, con số tử vong đếm lên hơn 30,000 và ước lượng còn nhiều hơn. Theo dõi hình ảnh và tin tức thế giới, chúng ta không thể dửng dưng trước những nỗi đau thương và mất mát, bất lực của thân phận con người.

Giữa những khó khăn thách đố của thiên tai, mất mát, chúng ta thường tự hỏi đâu là hình ảnh của một Thiên Chúa công bằng, quyền năng và rất mực yêu thương? Nhưng Thiên Chúa trong sự quan phòng tuyệt đối cho chúng ta hình ảnh người Mẹ dịu hiền, chân dung tương phản nhưng cũng rất trọn vẹn hài hòa, đó chính là Mẹ Maria luôn sáng ngời trong lòng các tín hữu. Vào cuối thế kỷ 20, tên gọi của một người Mẹ rất thường được nhắc đến với lòng yêu mến ngưỡng mộ, người mẹ dịu dàng của những người sầu khổ thời hiện đại, được gọi là thánh ngay khi còn sinh thời: Mẹ Têrêxa thành Calcutta. Ngày 19 tháng10 sắp đến đây sẽ là lễ kỷ niệm 2 năm ngày Mẹ được tôn phong Chân phước. Một cách nào đó, người-Mẹ-nữ-tu nhưng cũng là một tín hữu để lại bài học gì cho chúng ta? Maranatha mời quý độc giả tìm hiểu linh đạo của Mẹ cho những ai đang đau khổ trong cõi nhân sinh theo hướng đi của Tin Mừng.

Khi đối diện với những câu hỏi và vấn nạn của cuộc đời, của sự sống con người mà không lời giải đáp, phải chăng chúng ta chỉ biết nhìn lên Mẹ như mẫu gương của những người tin: đứng lặng người dưới chân thập tự (Ga 19, 25). Cùng với Mẹ chúng ta tiếp tục suy tư về những biến cố cuộc đời và thế giới trong Tháng Mười với tràng chuỗi Mân Côi. 

Cùng với nhịp sống của Giáo Hội, chúng ta hiệp thông cầu nguyện cho Thượng Hội Đồng Giám Mục đang nhóm họp tại Vatican từ ngày 2 đến ngày 23-10-2005 vù đây là biến cố quan trọng trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo. Theo các bản tin chính thức từ Tòa Thánh cho biết, hiện nay có khoảng 250 nghị phụ tham dự Hội nghị để họp bàn về những vấn đề thiết yếu cho Giáo Hội trong thế kỷ mới. Ngoài các Giám mục đại diện Hội Đồng Giám Mục các quốc gia là đại biểu chính thức, có một số chuyên viên trong hàng giáo phẩm đang giữ trách nhiệm các Văn Phòng, các Bộ, Tòa án và Hội Đồng Giáo hoàng của giáo triều Rôma cũng được mời tham gia Hội Nghị. Trong dịp này, Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI cũng mời một số các nam nữ giáo dân và tu sĩ có khả năng đóng góp vào các thảo luận của Thượng Hội Đồng. Mặc dù đây là Hội Nghị Chung của hàng giáo phẩm, đặc biệt của các giám mục có trách nhiệm trong vai trò mục tử đề đạt đường hướng cho Giáo hội, nhưng trong quá trình chuẩn bị, Hội Nghị Chung lần này đã được nhiều giáo dân khắp nơi, nhất là từ Âu Châu và Mỹ Châu nhiệt thành tham gia góp ý và chuẩn bị. Giáo Hội đã thực sự nhìn nhận sự hiện diện và đóng góp cần thiết của mọi Kitô-hữu trong những suy tư và nhịp bước đồng hành để xây dựng Hội Thánh.

Trong đường hướng đó, Maranatha trân trọng giới thiệu và bắt đầu loạt bài về LINH ĐẠO CHO GIÁO DÂN NGÀY NAY để cùng với quý độc giả nhận ra tầm quan trọng của ơn gọi giáo dân và sống linh đạo của mình trong cuộc sống và trong lòng Giáo Hội hôm nay. Ước mong sao chính chúng ta là những Kitô hữu, ý thức hơn trách nhiệm, vai trò và ơn gọi cao cả mà Thiên Chúa đã mời gọi và trao ban để cùng chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm thiết thân của những vui buồn, thử thách và hy vọng của người tin. Rồi cùng nhau, như các giáo dân đang cùng với các giám mục và những vị đang nhóm họp tại Roma, chúng ta đón nhận cuộc sống với những hoang mang, bất định, lo âu về thiên tai, bệnh tật, nhưng thẳm sâu trong lòng tin, tín hữu chúng ta vẫn khám phá ra đuợc sự hiện diện đầy yêu thương quan phòng của Thiên-Chúa-Tình-Yêu trong mọi lúc mọi nơi với niềm hy vọng và tin yêu và làm chứng cho tình yêu đó bằng Những Bài Giảng Không Lời qua chứng từ của cuộc sống mình.

Trong niềm tin và trông cậy đó, cùng với Mẹ con Thiên Chúa, chúng ta cùng khẩn nài xin Chúa Thánh Thần tiếp tục hoạt động, đổ tràn ân sủng cho những tâm hồn mở rộng để xây dựng Nước Trời trong thế giới với lời nguyện thân quen: Maranatha: Lạy Chúa, xin ngự đến!

 

MARANATHA

 


 

LUYỆN HÌNH VÀ SÁM HỐI

Nhân chuyỆn lẦn hẠt Mân Côi

                                                                                                Bửu Sao

Trong lịch sử "giữ đạo" việc lần hạt Mân Côi được chính thức phát động mạnh nhất không phải từ năm 1858 là năm Đức Mẹ hiện ra tại Lourdes, mà đúng một con giáp sau, vào năm 1917, tại Fatima xa xôi, cuối Đệ Nhất Thế Chiến. Vào năm ấy, Đức Mẹ hiện ra và theo sau là ba huấn dụ: "Hãy lo ăn năn đền tội, hãy tôn sùng Mẫu Tâm, hãy năng lần hạt Mân Côi (Bài hát). Từ đấy, ngày qua ngày, người người cứ việc cúi mình cầu khẩn: ”Lạy Chúa Giêsu xin tha tội chúng con, xin giữ chúng con khỏi lửa hỏa ngục và đem các linh hồn lên Thiên-Đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng  thương xót Chúa hơn." Hai hàng kinh này, giáo dân quen đọc sau mỗi chục kinh Kính Mừng khi lần hạt Mân Côi. Rồi cùng tự vấn: 

n năn đền tội là thế nào? - Là siêng năng lần hạt Mân Côi.

- Siêng năng lần hạt Mân Côi để làm gì? - Để ăn năn đền tội: một chu kỳ "giữ đạo" triền miên với tràng hạt Mân Côi treo lủng lẳng trên xe, trước mắt, từ nhà ở đến nhà thờ, từ nhà thờ ra phố, từ năm này qua năm khác, mãi vậy cho đến ngày linh hồn lìa thế.

Nói đến chuyện lìa thế. Chiều nay tôi ngồi lo một tin buồn có thể đến bất cứ lúc nào: một người thân thương từ nơi xa đang lâm bệnh nặng. Ngồi trước khung màn máy điện toán, tôi trầm ngâm suy niệm về giây phút "lìa thế." Tôi tự hỏi: cái gì phải lìa thế? và mường tượng đến cái thể của con người. Phải, cái thể phải lìa cái xác. Theo thánh Tôma Aquinô, linh hồn là thể của xác, l'âme est la forme du corps. Trong quan niệm văn hóa Đông Phương, chữ thể ghép đôi với chữ xác cũng nhằm xác định sự hiện hữu của sức sống nơi con người. Thánh Thomas Aquinô định nghĩa: "Thể là cái nguyên lý tác động, principe actif, nhờ nó mà con người không những có tri giác, lại còn có hoạt khí để được gọi là còn sống.  Hơn thế: bản chất linh thiêng của cái thể vốn tạo nơi con người một mật độ bản chất (densité substantielle) khiến con người vượt hẳn lên trên mọi loài thụ tạo khác."[1]  Giáo Hội còn xác quyết: khi phôi thai, thể nhập vào xác để tác thành con người. Khi thể lìa khỏi xác, thì xác biến thành thây ma, mất hoạt khí, mất cốt cách. Trong khi đó cái thể, tức là cái nhân tố thần linh gồm có tri tính và ý lực, nghĩa là cái Tôi vẫn còn sống, và tiếp tục sống  trong khi cái xác đã nằm xuống. Cái Tôi là hồn thần theo Phật Giáo, linh hồn theo Công Giáo, một hạn từ đã được dùng trong Thánh Kinh và lưu truyền qua các thời đại với một định nghĩa chính xác như đã nói trên đây.[2]  Sau khi lìa khỏi xác, linh hồn sẽ mang theo mình hoài niệm về cái xác mình đã thoát ra, nay đang dần dần trở về tro bụi, trong viễn tượng một cuộc tái nhập để hồi sinh vào ngày tận thế.

Vậy sau khi lìa xác, linh hồn đi về đâu? Trong thư gởi các tín hữu Do Thái thánh Phao-lô nói: "Người ta chỉ chết có một lần, chết xong sẽ đến tòa phán xét.”(Hb. 9.27). Nhắc lại bài dụ ngôn người nghèo Lazarô (Lc16, 22) và lời Chúa nói cùng kẻ gian cùng bị đóng đinh đã hối cải, Giáo Hội xác quyết rằng số phận của mỗi người mỗi khác tùy ở phong cách "giữ đạo" khi còn sống. Tuy nhiên, với người gian cùng chịu đóng đinh với Chúa đã sám hối ăn năn, Chúa phán: Quả thật ta bảo ngươi: hôm nay, ngươi sẽ ở trên Thiên đàng cùng với ta. (Lc23, 43). Người ăn mày Lazarô vừa chết liền được các thiên thần đem lên dự tiệc trong lòng Abraham, còn ông nhà giầu hất hủi Lazarô thì phải chịu những cực hình trong chốn hỏa ngục (Lc 16,23). Như vậy, ngay sau khi lìa xác linh hồn sẽ đến trước tòa phán xét riêng cho mình. Và tại đấy, Chúa Giêsu chỉ đặt đúng một câu hỏi:  Con đã dùng đời mình để làm gì trong suốt thời gian ở trần thế? Toàn giá trị của đời người sẽ được đánh giá theo một tiêu chuẩn duy nhất là Tình Yêu Thương Tin Mừng định nghĩa: " Đức Bác Ái là lòng thương người  như Cha đã thương các con. Chớ xét đoán thì các con sẽ khỏi bị xét đoán. Hãy tha thứ thì các con sẽ được thứ tha. Các con đong đấu nào thì sẽ được đong lại đấu ấy (Lc 6, 26-37). Thánh Gioan Thánh Giá đã dùng một phương thức ngắn gọn để nói lên tiêu chuẩn phán xét: " Vào cuối đời, mỗi người chúng ta sẽ được phán xét về Tình Yêu Thương." Thế là mỗi một người sẽ được phán xét tùy phong cách mình đã sống trên trần gian đối với Chúa, với mình cũng như đối với  tha nhân để rồi, hoặc được vào Nước Chúa, hoặc phải vào chốn luyện hình, hoặc phải rơi vào hỏa ngục muôn kiếp[3]. Trong khoảnh khắc, linh hồn sẽ được Chúa cho xem lại toàn cuốn phim của đời mình để tự mình ghi nhận việc mình đã "giữ đạo" như thế nào, để sn sàng chấp nhận mọi hệ quả của việc sử dụng quyền tự do suốt đời mình.

Trên đời, nếu chỉ lần hạt với ba lời van xin : "xin tha tội lỗi, xin gìn giữ khỏi lửa hoả ngục, xin đưa các linh hồn lên thiên đàng" thì cũng dễ thôi. Song luật chơi của tình thương thì khó lắm, khó đến ni bà thánh Catherine de Gênes, trong tác phẩm Luyện Hình Khái Luận [4] cho rằng nếu giữ được luật chơi của tình thương thì như đã chịu luyện hình ngay trên trần thế, rồi như vậy khi chết, linh hồn sẽ được bay thẳng lên trời thôi! Luật chơi của Bác Ái được liệt kê theo lối tiêu cực trong phiếu xưng tội mà ông Deacon người Mỹ nọ đã một lần trao cho tôi, ổng gọi đấy là laundry list, phiếu ghi đồ giặt, và khuyên nên đọc trước khi vào tòa giải tội. Phiếu này lượt kể mọi tội phạm: tội không biết tha thứ, tội hay nghĩ bậy, tội đem chuyện xấu người này kể lại người kia, tội  ăn gian, nói dối, thù hằn, keo kiệt, không giúp kẻ nghèo đói, hay mạt sát, bất nhân bất nghĩa v.v. Trong khi đọc bản liệt kê hàng mấy chục "tội nhẹ" thường vi phạm này, tôi tự nhủ: nếu cứ mỗi tháng mình xưng tội một lần đi, để có dịp đọc cái laundry list này thì may ra có thể quản lý được lối "sống đạo" của mình chăng? Phong cách "sống đạo" mà vào giờ lâm chung mới nhìn thấy thì e quá tr![5]

Song dù sao, xét cho cùng thì lượng bao dung của Thiên Chúa thật vô biên. Thánh Têrêxa Hài Đồng, trong bức gởi đến người em tinh thần, linh mục Roulland, đã viết:  Phép công minh của Thiên Chúa càng lớn thì lượng bao dung của Ngài càng nặng. Chính vì dày công minh mà Ngài giầu thương xót. Ngài quá thông suốt sự yếu hèn của con người, Ngài biết rằng chúng ta sinh ra từ tro bụi. Như người cha tỏ lòng âu yếm đối với bầy con thế nào thì Thiên Chúa cũng tỏ lòng thương xót chúng ta như vậy."[6] Đức tính mà Chúa đòi hỏi ở người giáo hữu là lòng ngay thẳng, trung thực đối với Chúa, với mình và với tha nhân. Chung quy, trước viễn tượng phán xét, thánh Giacôbê tông đồ có lời khuyên: " Các con nói và làm như những người sẽ được phán xét theo luật tự do: án xử sẽ tàn nhẫn đối với kẻ bất nhân, lòng nhân hậu sẽ không sờn đối với người công chính". [7]

Thế rồi sau khi chấp nhận lời phán xét, cái thể của con người sẽ được đưa về đâu? Chuyện khó khăn trong niềm tin công giáo là mường tượng được nơi chốn mà linh hồn mình sẽ được đưa đến: cõi phúc thật? chốn luyện hình? hay rơi vào vực thẳm hỏa ngục? Trong các loại "sách phần" được phổ biến trước thời Công Đồng Vatican II, 1965, ba viễn tượng cánh chung này đã được nói lên một cách rành rành như trông thấy trước mắt. Song theo tinh thần Công Đồng Vatican II, những sự việc xảy ra không đơn giản như thế. Cố nhiên, lời Phúc Âm không biến đổi theo thời thượng, luôn luôn nhấn mạnh về hai điểm: ban thưởng hay trừng trị. Song cũng theo tinh thần Phúc Âm, việc xét đoán là việc của Thiên Chúa, và Chúa là Công Bình và Nhân Hậu. Theo đó, Công Đồng Vatican II đã mở ra hai đường hướng mà giáo dân nên chú trọng trong chương trình cứu rỗi: đấy là sự tự do lựa chọn giữa một lối "giữ đạo" dung phàm, buông thả, và lối hành đạo theo con đường phúc đức thánh thiện. Vào giờ chết, các tín hữu, vốn là kẻ đã được ơn cứu rỗi khi chịu phép rửa tội, sẽ thấy rõ mình đã chấp nhận hay không lời Chúa mời gọi nên thánh. Trước mọi tín điều liên hệ đến các vấn đề công, tội và cánh chung đối với những người đã nằm xuống, giáo dân có thể vững tin về một điểm hệ trọng: ơn cứu độ được trở về với những linh hồn cần đến lòng thương xót Chúa, do sự hiệp thông cầu nguyện và hãm mình của những người đang sống và cùng nguyện cầu trong Nhiệm Thể Chúa Kitô. 

Trong một bài viết đúng một năm trước đây dưới nhan đề Sự Chết Không Bao Giờ Có[8], người viết tôi đã có dịp bàn đến mối liên hệ mật thiết giữa người sống và kẻ chết, dựa vào một tài liệu đặc biệt được viết ra từ bên kia thế giới mà Giáo Hội, do một văn bản chính thức được công bố ngày 26/12/1996, có thể cho phép tin vào. Bản văn ấy như sau:

 “ Thiên Chúa cho những người đã chết nay linh hồn đang sống trong chiều kích ngoại Thế (dimension ultraterrestre) được phép gởi những chứng điệp đến chúng ta là những người còn sống ở thế trần để hướng dẫn chúng ta trong những giai đoạn của cuộc đời. Sau nhiều khám phá gần đây thuộc khoa Tâm Lý học về những hiện tượng song nhiên (phénomènes paranormaux), Toà Thánh quyết định không còn ngăn cấm những cuộc thí nghiệm đối thoại với những người đã chết nữa, với điều kiện  là phải dựa vào những mục tiêu tôn giáo và khoa học nghiêm túc."[9]

 Sau đây tôi xin nhắc lại vài điểm về cuộc đối thoại giữa hai thế giới, nhằm minh họa về mối liên hệ giữa những người đang sống và kẻ đã chết. Đấy là những lời của một chàng  phi công trẻ bị bắn rơi trên trận địa Algérie vào năm 1952, về nói chuyện với mẹ mình, được viết qua tay của bà nội, nhằm cho biết một vài sự việc sau khi đã chết, như sau:

-"Thật kỳ quặc, người quá cố bảo, khi thiên hạ bảo chết là trở về tro bụi. Thật ra, chết là khởi đầu một cuộc sống. Chính các người hiện đang ở trong u tối, đang vung văng dẫy dụa trong cõi  thế tục, đấy  mới là cõi chết, thưa mẹ!"

- "Mẹ muốn biết tình trạng của con trong khi con lìa đời? Mẹ hỏi: khi đó con có thấy mệt không? - Không, thưa mẹ. Thật lạ! Trong khi họ bồng con lên, con hoàn toàn mê mẩn khiến cuộc lìa đời hầu như nhẹ nhõm. Và bỗng chốc con nhìn thấy ánh sáng. Ngay trong khi tắt thở, luồng ánh sáng đó đã tỏa sáng ra trên con. Sau đó con như đi vào một giấc ngủ rất ngắn, và bỗng chốc tia sáng lại chói lòa hẳn lên. Khi ấy con đang chợt thấy luồng ánh sáng, đồng thời nhận thấy các người chung quanh con đang nắm lấy tay con. Và con đã mỉm cười trước khi mất hẳn tri giác.

-Mẹ ơi, thật mới lạ. Con không thể tưởng tượng được sự biến thể như thế này! Con đã lìa khỏi chốn âm u của trần tục để chuyển vào một trạng thái vô cùng cân đối, huyền diệu như bây giờ. Mẹ ơi! Con đang lướt qua bầu khí quyển để hướng về mẹ. Mẹ càng quay về với cỏi sống bên này thì mẹ càng tăng ánh sáng lên nơi con. Mẹ nên tìm cách giải muộn đi, đừng hoài tiếc con làm chi. Mẹ cứ nghĩ rằng: con tôi đây, luôn luôn ở với tôi. Mẹ nên gột bỏ con khỏi trí óc của mẹ đi. Mẹ nên biết rằng ở đây suy tư tức là tác tạo. Con chỉ cần tưởng đến mẹ là con gần kề mẹ rồi đấy.

  Chung quy, chết tức là khởi đầu một cuộc sống, là ngưỡng cửa niềm hy vọng mà các sinh linh bên kia thế giới đã hé mở mời người phàm tục nhìn vào. Các hồn thần nơi linh giới còn cho chúng ta hay rằng thế giới loài người không phải là thế giới duy nhất trong hoàn vũ. Loài người là cái gì trong vũ trụ, trong ấy thái dương hệ chỉ là một hột cát mất hút trong giải ngân hà của nó? Ngoài thế giới thuộc thái dương hệ này có thể còn có nhiều thế giới khác nữa chăng? Khoa học tân kỳ hiện đại đang dùng mọi phương pháp để cố tìm cho bằng được lời giải đáp trước vấn đề này. Chắc mọi người đều biết: thời gian và không gian trong hoàn vũ có hai chiều kích: một chiều kích thuộc thái dương hệ, được tính theo tốc độ vận chuyển của mặt trời, mặt trăng với ngày, tháng năm, thế kỷ, thiên niên kỷ. Đấy là chiều kích "nhà tù" của nhân loại. Một chiều kích khác được tính theo sự vận chuyển của trăm nghìn tỷ ngân hà, galaxies, con số mà các đài thiên văn trên thế giới đã phỏng tính được và theo dõi bao nhiêu tỷ ngân hà đang bay hút vào khoảng không với tốc độ ánh sáng mà họ tính một cách chính xác là  299 792 458 cây số/giây. Trong chiều kích mà các nhà bác học gọi là chiều kích liên tinh, dimension intersidérale, họ đã tạo ra một khoa truy cứu liên hệ dến những sinh vật ngoại giới, les extraterrestres, với giả thuyết là trong hoàn vũ còn có thể có nhiều thế giới khác nữa. Trên toàn cầu hiện có rất nhiều trung tâm liên tinh học với những vòm tai khổng lồ để lắng nghe những tín hiệu linh thông giữa thế giới loài người với các sinh vật ngoại thế. Những sinh vật ngoại thế, nếu có, thì cũng có tri giác và thể lý như người trần. Thế nhưng vẫn có sự khác biệt với các hồn thần thuộc linh giới hiện đang sống trong chiều kích siêu thế, dimension ultraterrestre, cũng bao hàm trong hoàng vũ, thuộc chiều kích liên tinh. Các dữ kiện và sự kiện trên đây được khoa linh thông đang truy cứu một cách khoa học, và các nhà thần học tuần tự mang đối chiếu với những tín điều của Giáo Hội để giúp chúng ta tìm thấy mối liên hệ giữa khoa học và Thánh Kinh trong vấn đề linh thông học (transcommunication) liên quan đến niềm tin của người Kitô hữu về thế tục, về linh giới, về Ngôi Lời.

Mối liên hệ giữa trần gian, chốn luyện hình, hỏa ngục, lửa thiêu đốt, ánh sáng... đấy là những vấn đề rất thời sự đã được Giáo Hội chấp nhận cho truy cứu cùng với các nhà khoa học qua những dữ kiện vật lý và thiên văn để việc "theo đạo", "giữ đạo","hành đạo", chết đi, sống lại... để những mối liên hệ giữa người sống và kẻ chết, giữa Thiên Chúa và vũ trụ được liên kết thành một tổng thể thuần nhất, vừa phù hợp với Đức Tin, vừa phù hợp với mọi phát kiến khoa học của thời đại.[10]

            Bài này viết cho Trưởng Nguyễn Trung Thoại, Hướng Đạo trưởng niên, một người anh quý mến, đã lên đường  hôm thứ bảy 8/10/2005 tại Montréal, Canada, hưởng thọ 76 tuổi.

         Trở về mục lục >>

 

š¶›

SỨC MẠNH CỨU RỖI CỦA TRÀNG CHUỖI MÂN CÔI

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Vào một sáng tinh sương, thánh Giuseppe Cafasso ra khỏi nhà thật sớm. Đường phố Torino, Bắc Ý, vắng lặng trống trơn. Bỗng thánh nhân gặp một cụ bà, ăn mặc nghèo nàn, dáng điệu lòm khòm, vừa đi vừa chậm rãi lần hạt Mân Côi. Ngạc nhiên, thánh nhân cất tiếng hỏi:
- "Có chuyện gì vội mà cụ phải ra khỏi nhà sớm thế?" Bà cụ trả lời:
- Ô, thưa ngài, con đi dọn sạch các đường phố.
Không hiểu, thánh Giuseppe Cafasso hỏi lại:
- "Dọn sạch các đường phố? Cụ ngụ ý nói gì thế?" Bà cụ thong thả đáp:
- Cha không thấy sao? Đêm vừa qua, diễn ra cuộc vui chơi trá hình ('carnavale') và dân chúng phạm không biết bao nhiêu thứ tội. Vì thế, giờ đây, con muốn đi trở lại tất cả các nẻo đường ghi dấu vết tội lỗi, vừa đi vừa lần hạt Mân Côi. Các lời kinh 'Kính Mừng Maria' sẽ trở thành hương thơm ngào ngạt tỏa ra thấm vào các nơi chốn tội lỗi!

Thật vậy, lời Kinh Mân Côi có sức mạnh tẩy luyện linh hồn khỏi các vết nhơ tội lỗi và ướp đượm ơn lành. Kinh Mân Côi cứu thoát các linh hồn. Thánh Maxilianô-Maria Kolbe từng nói: "Bao nhiêu tràng chuỗi Mân Côi là bấy nhiêu linh hồn được cứu rỗi!". Kinh Mân Côi mang lại sự lành cho tất cả mọi người: từ kẻ tội lỗi đến người tốt lành cũng như các bậc thánh nhân.

Khi được hỏi ý kiến phải chọn lời kinh nào, thánh Filippo Neri không do dự trả lời ngay: "Hãy lần hạt Mân Côi và lần hạt nhiều bao nhiêu có thể". Đức Giáo Hoàng Phaolo VI cũng quả quyết rằng: "Tràng Kinh Mân côi là tràng xích cứu rỗi, rơi từ đôi tay chí thánh của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ con người và của Đức Maria, Hiền Mẫu Ngài. Tràng chuỗi Mân Côi tuôn đổ xuống trên chúng ta muôn vạn ơn lành. Và cũng từ tràng chuỗi Mân Côi, chúng ta dâng lên Các Ngài mọi ước muốn cùng trọn niềm hy vọng của chúng ta".

Tràng chuỗi Mân Côi còn có sức mạnh lớn lao cứu thoát các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Ngục. Thánh Alfonso de Liguori nhắn nhủ con cái ngài rằng: "Nếu muốn cứu giúp các linh hồn nơi Luyện Hình, hãy lần hạt Mân Côi cầu nguyện cho các vị ấy." Thánh Pio da Pietrelcina, mỗi lần trao tặng ai tràng chuỗi Mân Côi, ngài thường nói: "Hãy đưa các Linh Hồn ra khỏi Luyện Ngục bằng việc lần hạt Mân Côi kính Đức Mẹ".. Vị thánh người Ý có lòng nhiệt thành an ủi các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Tội bằng tràng kinh Mân Côi là thánh Pompilio Pirrotti. Thánh nhân được đặc ân lần hạt hạt chung với các đẳng Linh Hồn. Các đẳng Linh Hồn thưa lớn tiếng lời kinh Kính Mừng Maria với giọng trầm tĩnh và an bình, suốt trong buổi lần hạt Mân Côi chung với thánh Pompilio Pirrotti.

Chị Lucia dos Santos, một trong ba trẻ mục đồng Fatima mới qua đời gần đây và là nữ tu dòng Kín Cát-Minh cũng nhấn mạnh: "Kể từ khi Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria ban cho Tràng Kinh Mân Côi một hiệu lực mênh mông, không còn vấn đề nào thuộc bất cứ phạm vi tinh thần hay vật chất, quốc gia hay quốc tế, mà lại không giải quyết được với Kinh Mân Côi và với những hy sinh quảng đại của chúng ta."

Kinh Mân Côi và Trái Tim Vẹn Sạch Đức Maria (Khiết Tâm Đức Mẹ) sẽ ghi dấu chứng chiến thắng sau cùng của Nước Thiên Chúa nơi thời đại chúng ta đang sống.

Lòng hâm mộ lần hạt Mân Côi và lòng sùng kính Khiết Tâm Đức Mẹ là những bảo chứng chắc chắn cho ơn cứu rỗi loài người. Chính Đức Mẹ đã hứa với chị Lucia dos Santos rằng: "Những ai siêng năng lần hạt Mân Côi và yêu mến Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ, sẽ được Thiên Chúa yêu dấu cách riêng và sẽ trở thành bông hoa được Mẹ kết lại và dâng lên trước tòa Chúa."

.. Trích sử liệu cuộc đời thánh Giuseppe Cafasso, người Ý.

(P. Stefano Maria Manelli, "MAGGIO, mese di MARIA", Casa Mariana Editrice, 1999, trang 192-197).

Trở về mục lục >>

 

š¶›

 

LINH ĐẠO

 

LINH ĐẠO MẸ TÊRÊXA CALCUTTA

Hoàng Văn Phúc

Ngày 05/9/1997, Mẹ Têrêxa Calcutta giã từ cuộc sống trần thế ở tuổi 87. Cả thế giới đều thương tiếc, tưởng nhớ Mẹ. Có đến ba quốc gia long trọng cử hành quốc tang cho Mẹ là Ấn Độ, Albani và Hoa Kỳ. Trong lòng nhiều người, Mẹ không chỉ là một vĩ nhân, một vị thánh, mà còn thực sự là một người mẹ đơn sơ giản dị, dịu dàng gần gũi, với một tâm hồn trong sáng tuyệt vời, quảng đại bao dung, luôn bừng cháy một tình yêu nồng thắm đối với Chúa Kitô và với những người nghèo khó, cùng khổ nhất.

Chính vì thế, không đầy hai năm sau ngày Mẹ qua đời, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phá quy định do chính ngài đặt ra (5 năm sau ngày qua đời mới được mở án phong thánh), cho phép tiến hành xem xét hồ sơ phong thánh cho Mẹ. Đến ngày 20/12/2002, ngài đã phê chuẩn sắc lệnh công nhận nhân đức anh hùng và các phép lạ của Mẹ. Và ngày 19/10/2003, Mẹ đã được nâng lên hàng Chân phước. Mẹ là người được phong Chân phước nhanh nhất trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo từ trước đến nay: chỉ 6 năm sau ngày qua đời.

Con đường nên thánh của Mẹ Têrêxa Calcutta đã được phác thảo và hình thành một cách tiệm tiến nhưng rõ nét, khi Mẹ lắng nghe và đáp trả tiếng mời gọi của Chúa Giêsu yêu cầu Mẹ thiết lập một hội dòng mới, nhằm phục vụ những người nghèo khổ nhất, để thỏa mãn trái tim Chúa luôn khát khao tình yêu và các linh hồn. Và chính từ những cảm nghiệm thực tế khi Mẹ và con cái Mẹ phục vụ những người “nghèo nhất trong những người nghèo” vì tình yêu Thiên Chúa, linh đạo của Mẹ đã được chắt lọc và kết tinh.

Đó là con đường của tình yêu. Vì Mẹ đã ý thức và luôn xem mình như là hiền thê của Đức Kitô. Đối với Mẹ, Chúa Giêsu chính là Thiên Chúa, là phu quân, là sự sống, là mối tình duy nhất, là tất cả, là mọi sự cho Mẹ. Mẹ đã “bừng cháy một tình yêu Chúa như chưa từng yêu Người như thế.” Và Mẹ muốn “làm điều gì thật tốt đẹp cho Chúa” vì Mẹ đã âm thầm khấn hứa một cách trọng thể sẽ không từ chối Chúa bất cứ điều gì.

Với trái tim trong sáng lạ lùng, Mẹ Têrêxa đã trở nên tấm gương phản ánh khuôn mặt của Thiên Chúa. Nhưng đồng thời Mẹ cũng luôn tìm kiếm khuôn mặt của Chúa ở nơi tha nhân, nhất là nơi những người đau khổ. Mẹ đã xác tín và đã luôn nhận ra Chúa trong tha nhân vì tâm hồn Mẹ trong sáng như một tấm gương. Nói chính xác hơn, thực ra khi ấy không phải Mẹ nhìn thấy Chúa trong anh chị em mình, mà chính Chúa sống trong Mẹ nhận ra các anh chị em của Người! “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Như thế, Thiên Chúa và tha nhân luôn là hai trục chính trong cuộc sống của Mẹ Têrêxa. “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi... Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22, 37-39). Tuy là hai nhưng thực ra cũng chỉ là một. Chỉ có một tình yêu duy nhất, Mẹ đã dâng hiến cho Thiên Chúa và đã thể hiện bằng cách dấn thân phụng sự Người trong những người nghèo khổ nhất.

Đó là linh đạo mà Mẹ và con cái Mẹ trong các nhánh của Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái Chiêm Niệm đã bước đi để theo Chúa Giêsu. Hôm nay, nhân kỷ niệm hai năm ngày Mẹ được tôn phong lên hàng Chân phước, dù bạn là Kitô hữu hay là tín đồ của bất cứ tôn giáo nào trên mặt đất đau thương nhưng tuyệt vời này, mời bạn hãy thử tìm hiểu và bước đi trên con đường Mẹ đã đi qua, con đường đã đưa Mẹ đến chỗ hoàn thiện nhân cách của mình ngang qua những hy sinh, từ bỏ, cầu nguyện và phục vụ không ngừng; con đường đã đưa Mẹ từ những bóng tối tâm linh cũng như từ những vinh dự lớn lao nơi trần thế tiến thẳng về vinh quang bất diệt trong Đại Tâm yêu thương của Thiên Chúa. Chắc chắn, từ cửa sổ của Nhà Cha trên trời, Mẹ Têrêxa đang trìu mến chúc lành và nguyện cầu cho chúng ta.

I. HOA TRÁI CỦA THINH LẶNG LÀ CẦU NGUYỆN

1. Thinh lặng

Nhân loại hôm nay, đặc biệt là các tín hữu của mọi tôn giáo trên khắp thế giới cần phải dành nhiều thời giờ hơn để thinh lặng, tịnh niệm và cầu nguyện. Cuộc sống hiện tại, nhất là trong các thành phố lớn, có quá nhiều ồn ào, quá nhiều chuyển dịch và xáo trộn, quá nhiều sự dữ như bạo lực, khủng bố, căng thẳng, lo âu, chán chường và sợ hãi, ngược lại với miền quê hay nơi thôn dã. Con người cố lấp đầy sự trống rỗng của họ bằng việc vui chơi, ăn uống, nghe đài, xem truyền hình, lang thang trên mạng Internet... và bận rộn hay tìm lãng quên trong những sinh hoạt bên ngoài đó. Nhưng sự trống rỗng này chỉ thực sự được lấp đầy bằng một “lương thực” tinh thần, tâm linh là chính Thiên Chúa. Chỉ có Người là Đấng duy nhất mới có thể thỏa mãn những đói khát sâu xa nhất của con người. Nhưng Thiên Chúa lại là bạn của sự thinh lặng, vì chính trong sự thinh lặng của tâm hồn mà Thiên Chúa lên tiếng, ngỏ lời với con người.

Mẹ Têrêxa khẳng định: “Tôi luôn luôn bắt đầu cầu nguyện trong thinh lặng. Thiên Chúa là bạn của sự thinh lặng.”

Chị Theresina và Chị Kateri, nữ tu của Mẹ khuyên bảo về điều này như sau : “Nếu chúng ta dành thời giờ cho Thiên Chúa trong thinh lặng, thì sự đói khát của chúng ta có thể dễ dàng được no thỏa bởi sự gặp gỡ Thiên Chúa qua việc cầu nguyện. Từ đó chúng ta có thể tăng trưởng mạnh mẽ hơn trong tương giao với Thiên Chúa và trong đời sống tâm linh. Nhưng cầu nguyện thì thật khó trong xã hội chúng ta, là nơi tràn ngập quá nhiều thú tiêu khiển.”

“Thánh Catarina Siena, sống vào thời thế kỷ XIV, đã cố gắng giữ thinh lặng và cầu nguyện trong một gia đình có hai mươi lăm người con. Thánh nữ đã viết về cách để mỗi người chúng ta có thể tìm thấy một ‘chỗ’ trong chính chúng ta, đó là nơi để cầu nguyện và gặp gỡ Thiên Chúa. Ngài cho rằng đa số chúng ta không thể đi lên núi và ẩn náu trong hang động, vì thế chúng ta phải khám phá ra chỗ đặc biệt này trong tâm hồn. Tôi tin là chúng ta có thể và cần phải làm như ngài chỉ bảo. Trong những bổn phận của đời sống, chúng ta vẫn cần học cách cầu nguyện và để có thể tìm thấy một chỗ thinh lặng ngay giữa một căn nhà hay thành phố ồn ào.”

“Hàng tuần, khi đi thăm những tù nhân, tôi thấy những người ở đó là những người đói khát muốn có một chỗ thinh lặng như thế. Chúng tôi thường dành thời giờ cùng cầu nguyện, và thật tuyệt vời khi thấy những người hung dữ - nhiều người đã từng giết người và trốn chui trốn nhủi - cúi đầu như trẻ nhỏ và cầu nguyện cách thành khẩn. Tôi biết là một khi họ đạt được trạng thái thinh lặng nào đó, họ sẽ cảm thấy thật bình an.”

Như một bản nhạc, cuộc sống cần có những nốt lặng, khoảng lặng để được quân bình và khởi sắc hơn. Con người cần phải có một khung trời “sa mạc” trong tâm hồn để có thể quay về và gặp gỡ Thiên Chúa, nguồn gốc và cùng đích của đời mình.

2. Cầu nguyện

Theo Mẹ Têrêxa, khi cầu nguyện chúng ta cần lắng nghe Thiên Chúa, không phải vì những gì chúng ta nói với Người nhưng vì những gì Người nói với chúng ta và qua chúng ta, đó mới là vấn đề. Như máu đối với cơ thể thế nào, thì cầu nguyện đối với linh hồn cũng vậy : cầu nguyện nuôi dưỡng linh hồn và đưa chúng ta đến gần Thiên Chúa hơn. Cầu nguyện cũng mang lại cho chúng ta một tâm hồn trong trắng và thanh khiết. Một tâm hồn trong trắng có thể thấy Thiên Chúa, có thể nói với Thiên Chúa và có thể thấy tình yêu của Thiên Chúa nơi người khác.

Chúng ta có thể cầu nguyện bất cứ lúc nào hay bất cứ ở đâu. Không nhất thiết phải ở trong nhà thờ hay trong nhà nguyện. Chúng ta có thể cầu nguyện khi làm việc. Công việc không làm gián đoạn sự cầu nguyện và cầu nguyện cũng không làm gián đoạn công việc.

Cầu nguyện là nói chuyện, là tâm tình trực tiếp với Thiên Chúa. Đơn sơ bày tỏ với Người, kẻ cho Người nghe đủ mọi thứ chuyện. Và nhất là lắng nghe Người trong thinh lặng của con tim, của tâm trí, vì Thiên Chúa là Cha của chúng ta, là Cha của tất cả mọi người dù thuộc bất cứ tôn giáo nào. Chúng ta phải yêu mến, tín thác vào Người và làm việc cho Người. Nếu siêng năng cầu nguyện, chúng ta sẽ nhận được câu trả lời cho những gì chúng ta cần.

Mẹ Têrêxa xác tín: “Không cầu nguyện tôi không thể làm việc dù chỉ nửa giờ. Tôi có được sức mạnh của Thiên Chúa qua việc cầu nguyện, đó là điều mà tất cả các chị em đều hiểu và đều đã cảm nghiệm.”

Chị Dolores, làm việc cho những người hấp hối và tuyệt vọng ở Calcutta, Nirmal Hriday chia sẻ : “Mỗi buổi sáng khi thức dậy, các nữ tu đều biết những gì sẽ xảy đến trong ngày, đôi khi thật khó khăn cho họ. Cầu nguyện đã giúp họ thêm sức mạnh - cầu nguyện bồi dưỡng, giúp đỡ, và đem cho chúng tôi tất cả niềm vui để gánh vác những gì chúng tôi phải làm. Chúng tôi bắt đầu một ngày với việc cầu nguyện và Thánh lễ, chúng tôi chấm dứt một ngày với giờ chầu trước Chúa Giêsu. Để liên tục làm việc và liêc tục cho đi cần có ân sủng của Thiên Chúa - nếu không chúng tôi không thể sống nổi.”

Cũng thế, Chị Charmaine Jose, là người trông coi nhà chăm sóc các trẻ em, Shishu Bhavan, ở Calcutta nói: “Tôi không hiểu làm sao có thể đương đầu với cái nóng nực và bận rộn của công việc này mà không có sự cầu nguyện, nhưng công việc được dâng trọn cho Chúa bởi thế chúng tôi vui sướng để làm việc."

Chị Kateri, bề trên nhà dòng ở Bronx, Nữu Ước, giải thích điều này qua chính cảm nghiệm của chị: “Điều quan trọng nhất mà nhân loại có thể làm là cầu nguyện, bởi vì chúng ta được dựng nên cho Thiên Chúa và tâm hồn chúng ta bứt rứt cho tới khi được nghỉ ngơi trong Ngài. Và chính trong sự cầu nguyện mà chúng ta chạm được với Thiên Chúa. Chúng ta được dựng nên cho Thiên Đàng và chúng ta sẽ không lên Thiên Đàng nếu chúng ta không cầu nguyện cách nào đó. Không cần thiết phải có một hình thức cầu nguyện.”

Mẹ Têrêxa đúc kết: “Tôi thường chia sẻ điều này với những người trong tù tôi đến thăm. Tôi cho họ một thí dụ: Nếu ông phải đi xa, ông cần cái gì ? Và họ trả lời, 'Cần chiếc xe và dầu xăng.' Và chúng tôi vui vẻ đi đến kết luận: dầu xăng là sự cầu nguyện, chiếc xe là cuộc đời, và hành trình là lên thiên đàng, bạn phải có bản đồ, bạn phải biết bạn đi đâu. Tôi muốn nói dầu xăng cho cuộc đời là sự cầu nguyện, và không có nó chúng ta không đến được nơi của chúng ta, và chúng ta không đạt được sự trọn vẹn của con người chúng ta.”

3. Cầu nguyện như thế nào?

Cầu nguyện đơn giản là gặp gỡ, là yêu mến, là sống với Thiên Chúa.

Tóm tắt những lời Mẹ Têrêxa khuyên bảo như sau:

Hãy bắt đầu và chấm dứt một ngày với sự cầu nguyện. Hãy đến với Thiên Chúa như một đứa bé. Nếu thấy khó để cầu nguyện, bạn có thể nói: “Xin Thánh Thần hãy ngự đến để hướng dẫn con, bảo vệ con, cho tâm trí con trong sáng để có thể cầu nguyện.” Nếu bạn cầu nguyện với Đức Mẹ, bạn có thể nói: “Lạy Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu, xin là mẹ của con ngay bây giờ, xin giúp con cầu nguyện.”

Khi cầu nguyện, hãy cảm tạ Thiên Chúa về tất cả những quà tặng của Người, vì mọi sự đều là hồng ân. Nếu bạn và gia đình hay cộng đoàn có những ý nguyện riêng thì hãy cầu nguyện cho những ý nguyện đó.

Nếu bạn tín thác vào Thiên Chúa, vào sức mạnh của sự cầu nguyện, bạn sẽ vượt qua mọi tâm tình nghi ngờ, sợ hãi và cô đơn mà người ta thường thấy trong cuộc sống.

Nếu có điều gì làm bạn bối rối, bạn hãy đến với Chúa Giêsu trong bí tích Hoà Giải. Người sẽ tha thứ mọi sự cho bạn và làm cho bạn trở nên trong trắng.

Mỗi tối, trước khi đi ngủ bạn phải kiểm điểm lương tâm, bởi vì bạn không biết mình còn sống đến sáng mai không ? Bất cứ điều gì làm bạn bối rối, hay bất cứ sai lầm nào bạn đã phạm,  bạn cần phải sửa chữa lại. Bạn phải xin lỗi Chúa và những ai bạn đã xúc phạm, phải đền đáp cho họ cách trực tiếp hay gián tiếp với tâm tình sám hối thực sự. Hãy cầu nguyện để có thể tha thứ cho những người bạn không thích hay những ai xúc phạm đến bạn, làm cho bạn đau khổ.

Bạn cũng có thể cầu nguyện cho những ai cần sức mạnh để gánh vác công việc của mình.

Hãy cố gắng để nhận ra nhu cầu phải cầu nguyện hằng ngày, cầu nguyện luôn trong ngày và bỏ qua mọi lo lắng để cầu nguyện. Sự cầu nguyện có thể mở lớn tâm hồn để chứa đựng quà tặng của Thiên Chúa là chính Người. Hãy cầu xin và hãy tìm kiếm, và tâm hồn bạn sẽ mở lớn đủ để nhận Người và giữ Người như của riêng bạn.

4. Cầu nguyện trong gia đình và cho gia đình

Sự cầu nguyện cần cho con cái và gia đình. Tình yêu bắt đầu từ trong nhà, vì thế thật quan trọng để cùng nhau cầu nguyện. Nếu mọi thành viên cùng cầu nguyện, họ sẽ ở cùng với nhau và yêu thương nhau như Thiên Chúa yêu thương mỗi người chúng ta. Dù thuộc bất cứ tôn giáo nào, chúng ta phải cùng nhau cầu nguyện. Con cái cần học cách cầu nguyện và chúng cần có cha mẹ cầu nguyện với chúng. Nếu không làm điều này, sẽ thật khó để chúng ta trở nên thánh thiện, để chúng ta có thể nối tiếp và kiên cường trong đức tin.

Chị Theresina, Bề trên Vùng Anh Quốc và Ái Nhĩ Lan, chia sẻ cảm nghiệm này: “Chính từ gia đình mà con cái nhận được những đào luyện tinh thần, và trong gia đình con cái được phương tiện nuôi dưỡng và lớn lên. Bây giờ những điều ấy không còn nữa. Đa số những cha mẹ mà chúng tôi tiếp xúc đã mất đức tin và như thế mất đi bất cứ sự lệ thuộc nào vào Thiên Chúa. Họ bị mất đi tất cả những quà tặng mà Thiên Chúa có thể cho họ để nuôi dưỡng con cái một cách thích hợp; họ bị mất đi sự khôn ngoan và sự phân biệt chín chắn để hướng dẫn con cái khi cần. Nhiều cha mẹ nói với tôi, ‘Tôi rất hối tiếc, tôi không thể kiểm soát được con cái, chúng đã vượt khỏi tầm tay!’”

Mẹ Têrêxa tâm sự: “Có quá nhiều đau khổ trong các gia đình ngày nay trên toàn thế giới nên thật quan trọng để cầu nguyện, và thật quan trọng để tha thứ. Người ta hỏi tôi phải khuyên bảo thế nào cho đôi vợ chồng đang gặp khó khăn, tôi luôn luôn trả lời “Cầu nguyện và tha thứ”; và cho những thanh thiếu niên từ những mái nhà đầy hung bạo, “Cầu nguyện và tha thứ”; và cho những người mẹ cô độc không được gia đình hỗ trợ, “Cầu nguyện và tha thứ.” Bạn có thể nói, “Lạy Chúa, con yêu Chúa. Lạy Chúa, con hối lỗi. Lạy Chúa, con tin ở Chúa. Lạy Chúa, con tín thác vào Chúa. Xin giúp con yêu thương nhau như Chúa yêu thương chúng con.”

5. Bình đẳng trước Thiên Chúa

Tất cả mọi người đều là con cái của Thiên Chúa. Mọi lời nguyện cầu của họ đều được Người lắng nghe. Vì thế, cần phải tôn trọng nhân phẩm và đối xử bình đẳng với hết mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, văn hóa, giai cấp kinh tế, xã hội... 

Mẹ Têrêxa xác tín: “Chỉ có một Thiên Chúa và Người là Thiên Chúa của tất cả nhân loại. Vì thế thật quan trọng để mọi người được đối xử cách bình đẳng trước Thiên Chúa. Tôi luôn luôn nói rằng chúng ta phải giúp người theo Ấn giáo trở nên một tín đồ Ấn giáo tốt lành hơn, một người Hồi giáo trở nên một tín đồ Hồi giáo tốt lành hơn, một người Công giáo trở nên một tín đồ Công giáo tốt lành hơn. Chúng tôi không cố giảng đạo, nhưng chỉ tỏ cho thấy đức tin của mình qua hành động và sự phục vụ.”

Chị Theresina ở Luân Đôn chia sẻ thêm: “Tôi không thấy trở ngại gì khi dân chúng thuộc mọi tôn giáo cầu nguyện chung với nhau. Điều tôi nhận thấy là người ta đói khát Thiên Chúa, và nếu họ là Kitô giáo hoặc Hồi giáo thì chúng tôi mời họ cầu nguyện với chúng tôi. Có nhiều người theo Hồi giáo trong căn nhà truyền giáo của chúng tôi ở Tây Ban Nha và Pháp và họ muốn cầu nguyện. Và đó là điều chúng tôi nhắm đến, khuyến khích họ cầu nguyện, liên lạc với Thiên Chúa, với bất cứ phương cách gì có thể, bởi vì khi bạn có điều đó thì mọi thứ khác sẽ theo sau.”

II. HOA TRÁI CỦA CẦU NGUYỆN LÀ ĐỨC TIN

1. Một đức tin trưởng thành

Một khi chúng ta đã thường xuyên gặp gỡ, kết hợp, nên một với Thiên Chúa thật sâu trong cầu nguyện, chúng ta sẽ đạt tới mức độ trưởng thành trong đức tin. Đức tin với vóc dáng đầy đủ và trưởng thành đó, nói theo ngôn ngữ của ĐTC Bênêđictô XVI , là một đức tin ăn rễ sâu xa nơi tình bằng hữu với Chúa Kitô.

Mẹ Têrêxa khẳng định: “Thiên Chúa ở mọi nơi và trong mọi sự, và không có Người chúng ta không thể tồn tại. Tôi không bao giờ nghi ngờ sự hiện diện của Thiên Chúa dù chỉ một giây lát nhưng tôi biết có nhiều người nghi ngờ. Nếu bạn không tin ở Thiên Chúa bạn có thể giúp đỡ người khác bằng những công việc bác ái, và kết quả của những công việc này là những ân huệ thặng dư đến trong linh hồn bạn. Rồi bạn sẽ từ từ mở lòng và muốn có niềm vui của tình yêu Thiên Chúa.

Có quá nhiều tôn giáo và mỗi một tôn giáo có phương cách riêng để theo Thiên Chúa. Tôi theo Đức Kitô: Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa, là Phu Quân, là Sự Sống, là Tình Yêu duy nhất, là Tất Cả, là Mọi Sự của tôi. Vì lý do này tôi không bao giờ sợ hãi. Tôi làm việc với Đức Giêsu Kitô, vì Đức Giêsu Kitô, cho Đức Giêsu Kitô, bởi thế những kết quả là của Người, không phải là của tôi. Nếu bạn cần sự hướng dẫn, bạn chỉ phải tìm đến Đức Giêsu Kitô. Bạn phải phó thác cho Người và hoàn toàn nương tựa vào Người. Làm như vậy, mọi nghi ngờ sẽ tan biến và bạn được tràn đầy sự tin tưởng. Đức Giêsu Kitô nói : ‘Nếu con không trở nên như trẻ nhỏ thì con không thể đến với Thầy.’”

Sự trưởng thành trong đức tin giúp chúng ta xác tín mạnh mẽ về sự hiện hữu của Thiên Chúa, về tình thương và quyền năng vô biên của Người, về sự quan phòng kỳ diệu của Người trong mọi biến cố cuộc đời.

Chị Theresina giải thích điều này như sau: “Chúng tôi làm việc cho Nước Trời, chúng tôi tận hiến cuộc đời cho Nước Trời, bởi thế chính Chúa là người chỉ đường, hướng dẫn và cấp dưỡng cho chúng tôi. Chúng tôi không bao giờ quên sự quan phòng của Thiên Chúa, nên chúng tôi không cố thu góp những gì cần thiết, và chỉ quán xuyến bất cứ những gì ban cho chúng tôi. Tôi nghĩ với phương cách này mà chúng tôi tiếp tục nhận được những ân huệ của Chúa, nhất là khi chúng tôi không trở nên xa hoa và quá lo lắng cho tương lai thay vì chấp nhận hiện tại. Chúng tôi cần uyển chuyển - khi đến lúc Thiên Chúa muốn, mọi sự sẽ dễ dàng và khi không phải là lúc của Người thì mọi sự sẽ khó khăn. Chúng tôi phải thật sự lắng nghe lời mời gọi Chúa gởi cho chúng tôi, được bày tỏ trong bất cứ phương cách nào.”

Và đây, Chị Kateri nói về tâm tình khi tín thác cuộc đời cho Thiên Chúa: “Trong việc tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa chắc chắn có sự tự do. Chúng tôi cố sống với hiện tại và không lo lắng về ngày mai, dù rằng sự hoạch định là một phần của trách nhiệm. Có những người hoạch định cả năm trước, chúng tôi không bao giờ làm như vậy. Và đôi khi họ không làm gì cả chỉ vì không hoạch định trước, chúng tôi sẽ hành động mà không suy nghĩ nhiều. Phương cách của chúng tôi tối thiểu là thử xem sao - và thường là nó có hiệu quả.”

Nếu chúng ta thực sự tin vào Thiên Chúa, hãy để Thiên Chúa dùng chúng ta như một khí cụ của Người. Hãy để Người lấy những gì Người muốn nơi chúng ta. Hãy nhận những quà tặng của Người và chân thành biết ơn. Và hãy luôn luôn chia sẻ cho người khác, nhất là những người không có gì, bởi vì ngay cả một sự giúp đỡ bé nhỏ cũng có thể giúp họ khỏi chán nản. Đừng nhận lấy nhiều hơn những gì cần thiết. Và hãy chấp nhận bất cứ điều gì xảy đến.

Mẹ Têrêxa tiếp tục chia sẻ: “Trong Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái, chúng tôi có mặt để giúp đỡ người nghèo nhất trong những người nghèo dưới bất cứ hình thức nào, là một hình thức đau khổ ẩn giấu của Đức Kitô. Chúng tôi không nhận một đồng xu cho việc chúng tôi làm, chúng tôi làm vì Đức Giêsu. Người lo lắng cho chúng tôi. Nếu Người muốn công việc được hoàn tất, Người cho chúng tôi phương tiện. Nếu Người không cho chúng tôi phương tiện, thì Người không muốn công việc được hoàn tất.”

2. Thiên Chúa thử thách chúng ta

Như vàng được thanh luyện trong lửa, đức tin người tín hữu cũng phải được tôi luyện qua gian nan, thử thách. Mọi người đều có sự tốt lành bên trong vì chúng ta đều được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Nhưng chọn lựa sự lành hay sự dữ, trở nên tốt hơn hay xấu đi, bác ái yêu thương hay ích kỷ khép kín là tùy tự do của mỗi người. Tuy nhiên sau hết, chúng ta có quyền hy vọng vào tình yêu của Chúa Kitô, vì tình yêu của Người luôn luôn mạnh hơn sự dữ trên thế gian.

Mẹ Têrêxa chia sẻ: “Tất cả chúng ta đều có thể trở nên xấu hoặc tốt. Chúng ta không sinh ra là xấu : mọi người đều có sự tốt lành bên trong. Một số giấu đi, một số quên đi, nhưng cái tốt vẫn còn đó. Thiên Chúa tạo nên chúng ta để yêu và được yêu, bởi thế chọn đường này hay đường khác là Chúa thử thách chúng ta. Bất cứ sự xao lãng nào không muốn sống bác ái đều dẫn đến việc chấp nhận sự xấu, và khi điều đó xảy ra chúng ta không biết nó có thể lan ra đến đâu. Đó là điều đáng buồn. Nếu một người chọn sự xấu, thì giữa họ và Thiên Chúa đã có một chướng ngại, và người này không thể thấy Thiên Chúa cách tỏ tường. Đó là lý do chúng ta phải tránh bất cứ sự cám dỗ nào vì nó sẽ tiêu diệt chúng ta. Chúng ta có sức mạnh để vượt qua cám dỗ do sự cầu nguyện, bởi vì nếu chúng ta gần Thiên Chúa chúng ta sẽ lan truyền niềm vui và tình yêu tới những người chung quanh.”

“Nếu sự xấu làm chủ ai đó, thì đến lượt họ loan truyền sự xấu cho mọi người chung quanh. Nếu chúng ta tiếp xúc với những người như thế chúng ta phải cố giúp đỡ họ và cho họ thấy Thiên Chúa lo lắng đến họ. Hãy cầu xin cho họ cầu nguyện trở lại và như thế họ có thể nhìn thấy Thiên Chúa trong chính con người họ và trong tha nhân. Chính điều này sẽ giúp đỡ những người xấu bởi vì mọi người - bất cứ ai - được tạo nên bởi cùng một bàn tay yêu thương. Tình yêu của Chúa Kitô luôn luôn mạnh hơn sự dữ trên thế gian, bởi thế chúng ta cần yêu và được yêu: đơn giản chỉ có thế. Nó không phải là điều vất vả mới đạt được.”

3. Mọi sự sống đều đáng quý đối với Thiên Chúa

Nét đặc biệt khác trong việc sống đức tin cách cụ thể của Mẹ Têrêxa và các con cái Mẹ là yêu thương, tôn trọng và bảo vệ phẩm giá cũng như sự sống của một trong số những người nghèo nhất của người nghèo, đó là các thai nhi.

Mẹ Têrêxa nói: “Thai nhi ở trong số những người nghèo nhất của người nghèo. Chúng rất gần với Thiên Chúa. Tôi luôn yêu cầu những bác sĩ trong các bệnh viện ở Ấn đừng bao giờ giết thai nhi. Nếu không ai muốn nuôi chúng, tôi sẽ nhận chúng.

Tôi nhìn thấy Thiên Chúa trong mắt của mỗi đứa trẻ - bất cứ đứa trẻ bị bỏ rơi nào đều được chúng tôi chào đón. Rồi chúng tôi tìm cho các em một căn nhà qua việc nhận con nuôi.

Bạn thấy, lúc nào người ta cũng lo lắng cho những trẻ em vô tội bị giết trong chiến tranh và họ cố ngăn cản điều này. Nhưng làm sao để ngưng việc đó được nếu người mẹ giết chính con mình? Mỗi một sự sống đều đáng quý đối với Thiên Chúa, dù bất cứ tình cảnh nào. Trong sách Isaia, chương 43, câu 4, Thiên Chúa nói: ‘Con đáng quý đối với Ta và Ta yêu con.’

Chúng tôi dạy cách điều hoà sinh sản cho những người nghèo trong những trung tâm của chúng tôi trên thế giới. Những người phụ nữ được phát cho những hột gỗ để họ có thể đếm ngày của chu kỳ kinh nguyệt. Vợ chồng phải yêu thương và tôn trọng nhau thì mới tập luyện được sự tự kềm chế trong thời kỳ có thể thụ thai.

Chị Dolores chia sẻ: “Một khi chúng ta tin rằng mỗi một người là độc đáo và quý trọng trước mặt Thiên Chúa, thì chính Người là người bên cạnh chúng ta trong đời sống và trong khi chúng ta thực hiện công việc gì. Người là ông chủ và Người cho chúng ta biết điều phải làm. Điều đó thật đơn giản nhưng đôi khi chúng ta để Người sang một bên và nghĩ rằng chúng ta là người có quyền.”

4. Đức Tin là quà tặng của Thiên Chúa

Đức tin là quà tặng lớn lao của Thiên Chúa nhưng nó cũng đòi hỏi sự đáp trả, sự cộng tác của con người để được tăng trưởng. Ước muốn của Thiên Chúa là chúng ta lớn lên trong đức tin, như Chị Theresina giải thích:

“Đức tin là phương tiện để lớn lên và trưởng thành. Có những người được giáo dục rất nhiều, nhưng đức tin của họ vẫn ở mức độ ấu trĩ, và họ không tìm thấy ý nghĩa trong cuộc đời. Có lẽ họ chưa bao giờ đọc Kinh Thánh, chưa bao giờ biết tới Thiên Chúa, chưa bao giờ thật sự biết đến con người tuyệt diệu của Người - bởi thế họ nhìn Người với chút nghi ngờ. Đối với họ, Người là một quan tòa hay một người cha rất nghiêm khắc không muốn họ có niềm vui.”

Và đây, Chị Kateri bàn rộng về bản chất của chính đức tin:

“Người Công Giáo hiểu biết về 'đức tin' như một nhân đức siêu nhiên được thổi vào trong linh hồn. Nó như có sức mạnh, có khả năng. Thí dụ, nếu chúng ta không có chân thì chúng ta không thể bước đi. Nếu chúng ta không có mắt thì chúng ta không thể thấy. Không có đức tin chúng ta không thể tin những gì bí ẩn và ngoài khả năng hiểu biết của chúng ta. Bạn không thể hiểu các bí ẩn của đức tin - nhưng chúng có ý nghĩa.

Đức tin là quà tặng của Thiên Chúa và tăng trưởng qua sự cầu nguyện, cũng như hy vọng và tình yêu - và đó là ba đức tính chính yếu cho đời sống nội tâm.”

Sống đời Kitô hữu giúp đức tin tăng trưởng. Gương mẫu của các thánh nhân cũng giúp ích rất nhiều cho chúng ta. Nhưng Mẹ Têrêxa cho rằng Mẹ thấy Thiên Chúa dạy chúng ta tất cả những gì cần biết qua hành động và công việc của chúng ta.

Chị Dolores giải thích như sau: “Chúng tôi cố gắng và dành thì giờ để đọc sách thiêng liêng : tôi rất thích đọc sách về công việc của các thánh, chúng rất giúp ích, và bất cứ những sách gì về Mẹ Maria - ngài là người mẹ tuyệt hảo nhất. Nhưng chúng tôi không có nhiều thì giờ rảnh rỗi. Thực sự tôi không cần đọc nhiều sách, bởi vì tôi luôn luôn được học hỏi qua người khác. Một bệnh nhân bị bệnh AIDS mà tôi cùng làm việc ở Nữu Ước và Hoa Thịnh Đốn là những vị thánh thời đại, những vị thánh mới của Giáo Hội. Khi họ lớn lên trong Chúa Giêsu, những ngày giờ, giây phút sau cùng của họ thật tuyệt diệu đến nỗi đối với tôi, câu chuyện đời họ là câu chuyện của một vị thánh.”

Nhưng đồng thời, sự hiểu biết chính mình mỗi ngày một hơn cũng thật quan trọng trong việc thăng tiến đức tin, vì khi biết rõ về mình và tin vào mình có nghĩa là chúng ta có thể biết và tin vào Thiên Chúa. Hiểu biết về chính mình tạo nên sự khiêm tốn và hiểu biết về Thiên Chúa tạo nên tình yêu.

Chị Kateri diễn tả điều đó như sau:“Khi một người lớn lên trong sự cầu nguyện họ cũng lớn lên trong sự hiểu biết chính mình, và nếu không thấy mình tội lỗi thì chắc chắn cũng thấy rằng mình rất dễ phạm tội. Và càng ngày càng dễ để chấp nhận sự yếu đuối của người khác hơn, bởi vì sâu trong tâm khảm, mỗi người đều dễ phạm tội - tất cả chúng ta là con người, chúng ta đều có những yếu đuối của con người.”

5. Trên đường đến Thiên Đàng

Cuối cùng là vấn đề cánh chung. Mẹ Têrêxa cho rằng: tất cả mọi việc đều do Thiên Chúa quyết định. Người quyết định khi chúng ta sống và lúc chúng ta chết. Chúng ta phải đặt niềm tin vào Người và thi hành những công việc mà Người đã mời gọi chúng ta cho đến hơi thở cuối cùng.

Chị Dolores giải thích: “Mỗi ngày là sự chuẩn bị cho cái chết. Khi nhận thức điều này, nó sẽ giúp chúng ta cách nào đó, bởi vì những gì người chết phải trải qua hôm nay thì tôi cũng sẽ phải trải qua ngày mai. Chúng ta phải học cách sống những ngày của chúng ta trong sự hợp nhất với Thiên Chúa. Sự chết chỉ là trở về với Thiên Chúa, nơi Người ở và nơi chúng ta thuộc về.”

Mẹ Têrêxa chia sẻ: “Mọi người đều có khả năng lên Thiên Đàng. Thiên Đàng là nhà của chúng ta. Chết là đi về Nhà Cha. Chết không phải là chấm dứt, nhưng là sự bắt đầu. Chết là sự tiếp nối đời sống. Đây là ý nghĩa của sự sống vĩnh cửu; đó là nơi linh hồn chúng ta đến với Thiên Chúa, trong sự hiện diện của Thiên Chúa, để thấy Thiên Chúa, để nói với Thiên Chúa, để tiếp tục yêu thương Người với tình yêu lớn hơn, bởi vì trên Thiên Đàng chúng ta có thể yêu Người với trọn vẹn tâm hồn và linh hồn chúng ta. Chúng ta chỉ có thể phó thác thân xác chúng ta khi chết - tâm hồn và linh hồn chúng ta sống đời đời.

Khi chết, chúng ta sẽ ở với Thiên Chúa, và ở với những người đã ra đi trước chúng ta : gia đình và bạn hữu chúng ta đang ở đó chờ đón chúng ta. Thiên Đàng phải là một nơi tuyệt diệu.

Mọi tôn giáo đều có một vĩnh cửu, một đời sống khác. Những người sợ chết là những người tin rằng chết là chấm dứt. Một người đã từng chứng kiến tình yêu của Thiên Chúa sẽ không sợ hãi khi chết. Con người phải làm hòa với Thiên Chúa. Có nhiều người chết bất thình lình, bởi thế nó cũng có thể xảy đến cho chúng ta bất cứ lúc nào. Dĩ vãng thì đã qua và tương lai thì chưa tới; chúng ta phải sống mỗi ngày như đó là ngày cuối cùng của chúng ta, để khi Thiên Chúa gọi thì chúng ta đã sẵn sàng, và đã chuẩn bị để chết với tâm hồn trong sạch.” (còn tiếp)

Trở về mục lục >>

 

š¶›

 

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

Lm. Jess S. Brena, S.J.

Ðôi Dòng về Tác Giả

Cha Jess S. Brena sinh tại Tây Ban Nha năm 1929. Ngài gia nhập dòng Tên năm 1946 và đi truyền giáo tại Trung Quốc năm 1951.

Kể từ khi học xong năm 1964, Cha Brena luôn làm việc tại Ðài Loan. Ngài sáng lập Hiệp Hội Tín Hữu đầu tiên tại Ðài Loan, làm công tác xã hội và cộng tác huấn luyện những người lãnh đạo các hoạt động xã hội đã được 15 năm. Ngài đã đi rất nhiều nước Á Châu trong tư cách là thành viên của Ðoàn Công Tác Xã Hội dòng Tên gọi tắt là SELA (lo cho đời sống xã hội và kinh tế tại Á Châu).

Muời một năm vừa qua, trong tư cách là Giám Ðốc Trung Tâm Huấn Luyện và Thăng Tiến các Giáo Dân Tông Ðồ Tự Nguyện. Ngài hoạt động rất tích cực trong việc huấn luyện giáo dân. Ngài đã làm thư ký thường trực 3 năm cho Ủy Ban về Giáo Dân của Liên Hiệp các Hội Ðồng Giám Mục Á Châu và vùng Thái Bình Dương để giới thiệu về chương trình Huấn Luyện Tông Ðồ Giáo Dân.

 

Người Tình E Thẹn

Hồi ấy Amanda đã 18 tuổi. Ngoài tính hồn nhiên đến lạ thường, cô còn là một cô bé có lòng đạo rất sâu xa. Thực vậy, nếu nhớ lại thời xa xưa nhất, cô cũng thấy từ xưa mình vẫn luôn luôn sống thân mật với Chúa. Dĩ nhiên cũng như bao người khác, cô thường bày tỏ tình yêu của mình bằng cách cầu nguyện. Ðặc biệt những lúc ở nhà thờ, cô thường thầm nghĩ: "Lạy Chúa, con yêu mến Chúa," và đổi lại, cô cảm thấy một sự dịu ngọt tuyệt vời ngập tràn lòng cô như một nụ hôn thầm kín.

Một hôm, trong lúc sốt sắng, cô cảm thấy lòng mình tràn ngập tình yêu Chúa, đến độ cô quyết định sẽ viết ngay cho Chúa một bức thư để bày tỏ nỗi lòng. Cô ngồi xuống, viết trên trang giấy tốt nhất 3 chữ này: "Con yêu Chúa" và ghi địa chỉ đến ở ngoài bì thư:

Kính gửi: Ngài Thượng Ðế
Văn phòng kế hoạch cực lạc
Thiên Ðàng

Dĩ nhiên cô không ghi địa chỉ người gửi. Bằng không, nếu bức thư không tới tay Chúa và bị gửi trả lại với hàng chữ "Không tìm thấy địa chỉ này," hẳn lúc ấy cô sẽ phải đối phó với nụ cười châm biếm của người đưa thư. Ðúng, cô hơi quá si mê, cô suy nghĩ đến buồn cười, thế nhưng cô lại chẳng thích ai biết chuyện ấy. Vì vậy cô bí mật gửi bức thư với hy vọng tràn trề.

Cô tự nhủ: "Xét cho cùng, nếu Chúa kiểm soát cả thế giới bao la này, chắc chắn Ngài sẽ liệu cho thư đến tay Người." Và cứ thế cô chờ đợi thư trả lời.

Qua vài ngày không thấy trả lời.
Vài ngày rồi vài tuần cũng biệt tăm.
Amanda sốt ruột.
Sao Chúa không trả lời?
Rồi một tháng trôi qua.
Ðến lúc này Amanda đã hoảng sợ.

Nếu Thiên Chúa quá bận rộn với việc cai quản vũ trụ đến nỗi chẳng còn giờ quan tâm đến những đứa con gái ngốc nghếch đang thờ thẫn vì Ngài thì sao đây?

Suy nghĩ cứ dằn vặt cô mãi đến nỗi cô quyết định đến xin ý kiến của vị linh mục già cô quen biết. Ông nghe cô kể, ông bật cười vì cái kiểu tiếp cận Thiên Chúa lạ thường của cô. Cuối cùng ông bảo: "Mandy, con đừng lo. Rồi sẽ đến lúc Chúa trả lời cho con. Song con phải kiên nhẫn: con nhớ, Ngài là một người tình hay e thẹn".

Thế là Amanda quyết định sẽ đợi người tình e thẹn của cô trả lời. Cô còn tự nhủ: "Dù phải chờ nhiều năm, tôi cũng chờ."

Tuy nhiên, dù đã quyết định ngon lành như vậy, cô vẫn luôn cảm thấy đau đớn vì sự thinh lặng của Thiên Chúa. Hết sáng sớm lại tối khuya, ngồi nơi hiên nhà, cô lại nghiền ngẫm điều ấy và lắng nghe từng âm thanh của cảnh vật thiên nhiên. Dần dà những âm thanh muôn vẻ muôn sắc này bắt đầu lôi cuốn cô. Thế nhưng tuyệt nhiên cô vẫn không quên được nỗi trăn trở của mình, cô vẫn tiếp tục đoán già đoán non những lý do khả dĩ về sự im lặng của Thiên Chúa.

Một ngày kia, đang khi ngồi gần một con suối, cô nghĩ là cô đã nghe thấy phảng phất đâu đó có tiếng ai thì thầm. Cô ngồi dậy nhìn quanh. Chẳng có ai cả. Vậy mà những tiếng ấy dường như vẫn rì rầm. Không, không thể được. Chúng dường như xuất phát từ chính con suối này.

Cô nghiêng mình xuống sát mặt nước ngạc nhiên nghĩ rằng: "Chúa ơi, nước cũng có hồn, nó đang nói!"

Rồi cô hết sức lắng nghe, cô đã nghe được rất rõ: "Ta cũng yêu con." Chúa đang trả lời thư cô.

Sau sự này, Amanda bắt đầu luyện tập hai tai. Chẳng bao lâu sau, cô đã có thể nghe được những lời: "Ta cũng yêu con” từ trong cơn gió thoảng, trong tiếng xào xạc của cây, trong tiếng sột soạt của những chiếc lá vàng khô, trong tiếng líu lo của chim chóc.

Một tối nọ, lúc Amanda sắp bước vào nhà, cô quay nhìn quanh để ngắm lại cảnh hoàng hôn lần cuối. Cả bầu trời đang chói chang những cuộn mây đỏ thắm như phô diễn một bản phối màu rực rỡ rất hấp dẫn. Bỗng ngay lúc đó cô hình dung thấy những cuộn mây đó lúc này đã xếp thành những bức thư khổng lồ và nổi bật hẳn trên cái phông là nền trời màu hoa cà ấy, xuất hiện một dòng chữ: "Ta cũng yêu con."

Amanda há hốc miệng ngạc nhiên vì sự kiện này vượt qua điều cô hằng mong đợi. Trân trân nhìn lên một cách đầy nghi hoặc, Amanda lẩm bẩm: "Kỳ thật! Chúa ơi, với một người tình hay e thẹn như Chúa, Chúa cũng có cách bộc lộ mình." (Trích trong "Greater than our hearts")

Cao điểm của linh thao 30 ngày theo thánh Inhaxiô là "Sự chiêm niệm để được tình yêu," tức là nghĩ về Chúa và yêu mến Chúa qua mọi sự chúng ta thấy và làm trong các hoàn cảnh sống thường ngày, tương tự như khi chiêm ngắm những tia nắng các bạn có thể nghĩ tới mặt trời