|
|
Số 62, Ngày 22-10-2005
Chiêm Ngưỡng Đức Kitô Cùng Với Mẹ Maria – Đức Gioan Phaolô II Sứ Điệp của ĐTC Gioan Phaolô II - Khánh Nhật Truyền Giáo – Đức Gioan Phaolô II Thánh Thể Trong Phụng Vụ và Giữa Cuộc Đời – Lm. Aloysius Pieris, S.J Dẫn Vào Thì Thầm - Lm. Phan Sinh Quang Linh Đạo Mẹ Têrêxa Calcutta – Hoàng Văn Phúc Những Chứng Nhân Của Lòng Thương Cảm… - Trần Duy Nhiên Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả, Chúa nhật 23-10-2005 sẽ là một ngày mà nhiều biến cố được cử hành cách trọng thể trong Giáo Hội, và cụ thể là tại quảng trường thánh Phêrô, Rôma. Ngày hôm ấy, Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI sẽ cử hành thánh lễ Khánh Nhật Truyền Giáo và công bố kết thúc Năm Thánh Thể, đồng thời đọc Sứ Điệp gửi Dân Chúa, về Thánh Thể, mà nội dung rút từ 50 đề xuất của 250 nghị phụ trong Thượng Hội Đồng Giám Mục, nhóm họp trong 3 tuần vừa qua tại Vatican. Và tất cả những biến cố này được đặt vào tháng 10, tháng Mân Côi dâng kính Đức Mẹ. Tuy bản văn chính thức của Sứ Điệp chưa được thông qua, nhưng Dân Chúa cũng đã ít nhiều biết rằng nội dung chủ yếu là hướng về Thánh Thể để từ đó soi rọi và hướng dẫn mọi mặt của đời sống của Dân Chúa trong thời đại này. Năm Thánh Thể chấm dứt, không phải để cho Thánh Thể trở về tình trạng đóng kín trong nhà tạm hay trong hy lễ ‘tạ ơn’ trên bàn thờ, mà là để cho Thánh Thể, nguồn mạch và tuyệt đỉnh của phụng vụ bàn thánh (fons et culmen), trở nên Thánh Thể giữa cuộc đời của mỗi một Kitô hữu. Những đề xuất trong 3 tuần vừa qua của các nghị phụ trong Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới lần này xoay quanh hai trục của Thánh Thể: (1) Thánh lễ Chúa nhật, nơi tôn vinh Thánh Thể Chúa Kitô qua Mình và Máu Người trong bí tích, phải là nơi qui tụ không thể thiếu được của các Kitô hữu của mọi thời, và Thánh Thể trong cuộc đời đòi hỏi Dân Chúa phải truyền giáo - theo nghĩa là loan truyền Tình Yêu của Đấng hy sinh trong cuộc Thương Khó và Phục Sinh - bằng cách lan tỏa Lòng Thương Cảm đến cho mọi người trên trần gian, các riêng là những người khó nghèo, thiếu thốn nhất. Cùng hòa nhịp với Giáo Hội, Maranatha 62 sẽ đọc lại Sứ Điệp của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết cho ngày Thế Giới Truyền Giáo 2005. Trong sứ điệp này, Ngài kết hợp Thánh Thể và Truyền Giáo với cái nhìn tiên tri lồng trong tâm tình của người Cha để lại di chúc cho con cái mình. Và tiếp nối Sứ Điệp ấy, Maranatha cũng gửi đến quý vị những bài suy tư cũng như chứng tích về Thánh Thể và Truyền Giáo, đồng thời học hỏi nơi Đức Mẹ cách thức chiêm ngắm Thánh Thể Chúa Kitô theo viễn ảnh truyền giáo. Thế nhưng Vinh Quang của Thiên Chúa, chính là con người đang sống, như lời thánh Irênê thành Lyon đã nói từ thế kỷ thứ 2, nên mọi giáo huấn của Giáo Hội đều quy về nếp sống của con người đang sống cuộc sống hôm nay, và Maranatha 62 cũng gửi đến độc giả những bài viết theo hướng đó! Thật là ý nghĩa, khi Thánh Lễ tối quan trọng của Chúa nhật này cũng là lễ phong thánh đầu tiên trong triều đại của Đức Thánh Cha Benedict XVI cho năm chân phước: Józef Bilczewski, Gaetano Catanoso, Zygmunt Gorazdowski, Alberto Hurtado Cruchaga và Felice da Nicosia. Cuộc đời của năm vị thánh ấy nói lên chọn lựa cơ bản của Giáo Hội ngày hôm nay và mãi mãi là đứng về phía người nghèo và người bị bách hại, theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Qua việc phong thánh này, Giáo hội muốn kêu gọi con cái mình chẳng những bảo vệ, mà còn đồng cam cộng khổ với những người bất hạnh. Đức cha Jozef Bilczewski, Tổng giám mục giáo phận Lviv (Ukraina), từng bảo vệ những người Ba Lan, Ukraina và Do Thái trong những đợt khủng bố chống tôn giáo, thời gian chiến tranh giữa Ba Lan và Ukraina (1918-1919) và thời xâm chiếm của đội quân Bolshevik (1919-1920). Ngài qua đời năm 1923. Linh mục Gaetano Catanoso, người Ý, từng dấn thân phục vụ người nghèo và sáng lập Dòng các Nữ Tu Veronica Nhan Thánh (Congregation of the Veronica Sisters of the Holy Face). Ngài qua đời năm 1963. Linh mục Zygmunt Gorazdowski, người Ba Lan, từng xây dựng nhà ở cho người nghèo khổ, vô gia cư. Ngài cũng là người sáng lập Dòng Nữ Tu Thánh Giuse (Congregation of the Sisters of St Joseph). Ngài qua đời năm 1920. Linh mục Alberto Hurtado Cruchaga, người Chilê, dòng Tên, từng lãnh đạo các chương trình của Giáo Hội công giáo hỗ trợ người nghèo và thành lập Nghiệp Đoàn tại Chilê để bảo vệ họ. Ngài qua đời năm 1952. Nhưng vị đáng chú ý đặc biệt hẳn là thầy Felice da Nicosia, người Ý. Thánh Felice, tên thật là Filippo Giacomo Amoroso, xuất thân từ một gia đình thật nghèo và mồ côi cha từ tấm bé. Năm 18 tuổi, 1735, ngài đến gõ cửa đan viện xin được tu làm thầy trợ tá. Vì mù chữ, nên thoạt đầu ngài bị nhà dòng từ chối. Ròng rã 10 năm, ngài vẫn kiên trì đến gõ cửa và cuối cùng được đón nhận vào đan viện Mistretta, Dòng Anh Em Hèn Mọn, với tên gọi tu sĩ là Felice. Sau một năm nhà tập, ngài tuyên khấn và được phái đến Nicosia để đi ‘ăn mày’ cho anh em trong dòng. Hằng ngày, ngài đến gõ cửa nhà người giàu xin họ chia sẻ; và gõ cửa nhà người nghèo để chia sẻ với họ những nhu cầu hằng ngày. Đối với mọi người, giàu cũng như nghèo, ngài luôn luôn cám ơn: “Xin vì tình yêu Chúa.” Ngài hiểu thâm sâu rằng ‘bí quyết để nhìn thấy mọi biến cố một cách rõ ràng, ấy là không nằng nặc áp đặt ý mình cho Thiên Chúa, mà thực hiện Thánh Ý Người một cách vui tươi.’ Phát hiện đơn sơ này đã giúp ngài nhìn thấy Thiên Chúa và tình yêu của Người, ở khắp nơi và bất chấp mọi hoàn cảnh, kể những hoàn cảnh khó nhìn ra Thiên Chúa nhất. Muốn được như thế, không cần phải kiến thức cao hay lời nói hoa mỹ. Chỉ cần trở lại với lòng mình, nơi mà Thánh Thần cư ngụ, lên tiếng và hành động. Đối với thánh nhân, ngoài Thiên Chúa ra, không có gì là hiện hữu cả, không có gì là thực sự giá trị. Thiên Chúa là Đấng duy nhất có khả năng biến đổi mọi sự trong Người. Cũng vì thế, với nếp sống âm thầm mờ nhạt, ngài đã hiển dung cuộc đời mình nhờ tình yêu Thiên Chúa, và biến đời mình thành một chứng tích tình yêu. Ngài ngã bệnh cuối tháng 5 năm 1787 và qua đời ngày 31. Gần 100 năm sau, ngài được Đức Lêô XIII phong chân phước ngày 12-2-1888. Và thêm hơn 100 năm nữa, hôm nay ngài được nâng lên hàng hiển thánh vào thời đại của tri thức, của giàu sang, của thành công, của phát triển, để nhắc nhở chúng ta rằng chỉ có ‘Thiên Chúa và tình yêu của Người là thực sự giá trị, ngoài ra tất cả là hư không!’ Và để nối dài tâm tình của các thánh nhân, đồng thời cũng cùng với nhịp sống của Giáo Hội được thể hiện qua những biến cố trọng đại được cử hành vào Chúa nhật này, chúng ta cùng hợp ý khẩn cầu: Maranatha: Lạy Chúa, xin ngự đến! MARANATHA
CHIÊM NGƯỠNG ĐỨC KI-TÔ CÙNG VỚI ĐỨC MA-RI-A Trích TÔNG THƯ ROSARIUM VIRGINIS MARIAE Đức Gioan Phaolô II Một dung nhan chói lọi như mặt trời. 9. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông, và dung nhan Người chói lọi như mặt trời (Mt 17,2). Trình thuật Tin Mừng về quang cảnh Đức Ki-tô biến hình khiến ba Tông đồ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an ngây ngất trước vẻ đẹp của Đấng Cứu Chuộc, có thể được xem như một hình tượng của chiêm ngưỡng ki-tô giáo. Nhìn ngắm dung nhan Đức Ki-tô để nhận ra mầu nhiệm giữa các biến cố thường nhật và các nỗi đau thương của cuộc sống nhân loại của Người, cho đến khi nhận ra vẻ huy hoàng thần thánh được biểu lộ một cách chung cuộc nơi Đấng Phục sinh ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang: đó là nhiệm vụ của tất cả các môn đệ Chúa Ki-tô và vì thế, cũng là nhiệm vụ của mỗi người chúng ta. Khi chiêm ngưỡng dung nhan Đức Ki-tô, chúng ta sẵn sàng đón nhận mầu nhiệm đời sống Ba Ngôi, để có kinh nghiệm luôn mới mẻ về tình yêu của Chúa Cha và nếm thưởng niềm vui của Chúa Thánh Thần. Có thể áp dụng cho chúng ta lời sau đây của thánh tông đồ Phao-lô: Phản chiếu vinh quang của Chúa, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí (2 Cr 3,18). Đức Ma-ri-a, mẫu gương chiêm ngưỡng 10. Việc chiêm ngưỡng Chúa Ki-tô tìm thấy nơi Đức Ma-ri-a một mẫu gương vô song. Dung nhan của người Con đặc biệt thuộc về Đức Ma-ri-a. Chính trong cung lòng Mẹ mà Đức Ki-tô được hình thành, đón nhận từ nơi Mẹ một nét giống nhau về phương diện nhân loại, điều đó gợi lên một sự gần gũi thân mật hơn về mặt thiêng liêng. Không ai đã say sưa chiêm ngưỡng dung nhan Đức Ki-tô một cách trung thành như Đức Ma-ri-a. Đôi mắt tâm hồn của Mẹ đã hướng về Người ngay từ lúc Truyền tin, khi Mẹ cưu mang Người nhờ quyền năng Thánh Thần. Rồi trong những tháng sau đó, Mẹ bắt đều cảm nhận sự hiện diện của Người và hình dung ra diện mạo của Người. Cuối cùng, khi hạ sinh Người tại làng Bê-lem, đôi mắt Mẹ đã âu yếm nhìn ngắm khuôn mặt Con Mẹ, khi Mẹ lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ (Lc 2,7). Từ đó, đôi mắt chan chứa sự tôn thờ và kinh ngạc của Mẹ không bao giờ rời xa Người. Có khi là một cái nhìn thắc mắc, như trong trình thuật đi tìm Đức Giê-su thất lạc trong Đền thờ: Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? (Lc 2,48); nhưng luôn luôn sẽ là một cái nhìn xuyên thấu, một cái nhìn có khả năng thấu hiểu tâm tư của Đức Giê-su, đến nỗi Mẹ hiểu được những tình cảm sâu kín của Người và biết trước những quyết định của Người như tại tiệc cưới Ca-na (x. Ga 2,5). Có khi lại là một cái nhìn đau buồn, đặc biệt khi Mẹ đứng dưới chân Thánh giá, nơi đó cái nhìn của Mẹ vẫn luôn là cái nhìn của một người Mẹ trao ban sự sống, vì Mẹ không chỉ chia sẻ cuộc khổ nạn và cái chết của Con Mẹ, nhưng Mẹ cũng còn đón nhận người con mới được trao ban cho Mẹ qua người môn đệ yêu dấu (x. Ga 19,26-27). Sáng ngày Phục sinh, cái nhìn của Mẹ tỏa rạng niềm vui Phục sinh, và sau hết, vào ngày lễ Ngũ tuần, cái nhìn của Mẹ rực cháy vì được tràn đầy Thánh thần (x. Cv 1,14). Những kỷ niệm của Đức Ma-ri-a 11. Đức Ma-ri-a sống mà đôi mắt chăm chú nhìn Đức Ki-tô, và mỗi lời của Người trở thành một kho tàng cho ngài: Mẹ hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng (Lc 2,19; x. 2,51). Những kỷ niệm về Đức Giê-su đựợc ghi khắc trong tim Mẹ, luôn luôn đi theo Mẹ và thúc đẩy Mẹ ngẫm nghĩ về những thời gian khi sống bên cạnh Con Mẹ. Một cách nào đó, những kỷ niệm ấy là chuỗi kinh Mân Côi mà Mẹ không ngừng ngâm nga trong suốt cuộc đời trần thế. Ngay cả bây giờ, giữa tiếng ca mừng hân hoan trên Giê-ru-sa-lem thiên quốc, các lý do để Mẹ dâng lời tạ ơn và chúc tụng vẫn không thay đổi. Chúng khiến Mẹ lấy tình mẫu tử chăm sóc cho Giáo hội lữ hành, trong đó Mẹ tiếp tục kể lại cảm nghiệm riêng của Mẹ về Tin mừng. Đức Ma-ri-a không ngừng đặt các tín hữu trước các mầu nhiệm của Con Mẹ, ước mong rằng chúng được chiêm ngưỡng, để chúng có thể giải toả mọi năng lực cứu độ của chúng. Khi suy ngắm bằng chuỗi Mân Côi, cộng đoàn Ki-tô hữu tiếp xúc với các kỷ niệm và cái nhìn chiêm ngưỡng của Đức Ma-ri-a. Kinh Mân Côi, một lời kinh chiêm ngưỡng 12. Kinh Mân Côi, chính bởi vì nó phát xuất từ kinh nghiệm riêng của Đức Ma-ri-a, là một lời kinh chiêm ngưỡng sâu sắc. Không có chiều kích chiêm ngưỡng ấy, kinh Mân Côi sẽ như một cái xác không hồn, như Đức Giáo hoàng Phao-lô VI đã nhấn mạnh: Không có sự chiêm ngưỡng, kinh Mân Côi chỉ là một cái xác không hồn, và việc lần chuỗi có nguy cơ trở nên một việc nhai đi nhai lại một số công thức có tính cách máy móc, và như thế là vi phạm giáo huấn của Đức Giê-su: Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời (Mt 6,7). Tự bản chất, việc đọc kinh Mân Côi đòi hỏi một nhịp độ thanh thản và kéo dài, để giúp mỗi người chiêm ngưỡng các mầu nhiệm trong cuộc đời của Chúa như được nhìn thấy bằng đôi mắt của Mẹ là người đã sống hết sức gần gũi với Chúa. Bằng cách đó, sự phong phú khôn ví của các mầu nhiệm được tỏ bày. Quả là hữu ích khi dừng lại xem xét các tư tưởng thâm thuý của Đức Phao-lô VI, để làm sáng tỏ một số khía cạnh của kinh Mân Côi, lời kinh này thật sự là một hình thức chiêm ngưỡng quy hướng về Chúa Ki-tô. Tưởng nhớ Đức Ki-tô với Mẹ Ma-ri-a 13. Chiêm ngưỡng của Đức Ma-ri-a trước tiên là một tưởng niệm. Chúng ta cần hiểu từ này theo nghĩa Kinh Thánh của hồi tưởng (zakar): làm cho các kỳ công của Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu độ nên hiện diện. Kinh Thánh là một sưu tập các biến cố cứu độ với cao điểm là chính Đức Ki-tô. Những biến cố này không chỉ liên hệ đến ngày hôm qua; chúng cũng là thành phần của ngày hôm nay của ơn cứu độ. Việc hiện tại hoá xảy ra trước tiên trong Phụng vụ: điều Thiên Chúa thực hiện trong các thế kỷ qua không chỉ tác động đến những chứng nhân trực tiếp của các biến cố đó; nó tiếp tục tác động đến con người của mọi thời đại với quà tặng ân sủng của nó. Trong một chừng mực nào đó, điều này cũng đúng đối với mọi tiếp cận đạo đức những biến cố đó: hồi tưởng chúng trong tinh thần đức tin và tình yêu là mở lòng cho ân sủng mà Đức Ki-tô đoạt được cho chúng ta bằng các mầu nhiệm sự sống, sự chết và sống lại của Người. Do đó, trong khi phải tái khẳng định với Công đồng Va-ti-ca-nô II rằng Phụng vụ, như một thi hành chức vụ tư tế của Đức Ki-tô và một hành vi phụng thờ công cộng, là tột đỉnh quy hướng mọi hoạt động của Giáo hội và đồng thời là nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực của Giáo hội. Cũng cần nhắc lại rằng đời sống thiêng liêng không chỉ dừng lại ở việc tham dự Phụng vụ mà thôi. Người Ki-tô hữu được mời gọi cầu nguyện chung, nhưng cách phải vào phòng riêng âm thầm cầu nguyện cùng Chúa Cha (x. Mt 6,6); quả thế, như lời vị Tông đồ đã dạy, họ phải cầu nguyện không ngừng (x. 1Tx 5,17).16 Kinh Mân Côi, theo cách riêng của nó, là thành phần của toàn cảnh đa dạng của lời cầu nguyện không ngừng đó. Nếu Phụng vụ, như hoạt động của Đức Ki-tô và của Giáo hội, là một hành động cứu độ vượt trội, Kinh Mân Côi cũng thế, như một suy niệm với Đức Ma-ri-a về Đức Ki-tô, là một chiêm ngưỡng đem lại ơn cứu độ. Bằng cách nhận chìm chúng ta vào các mầu nhiệm của đời sống Đấng Cứu chuộc, nó bảo đảm rằng điều Người đã làm và điều mà Phụng vụ hiện tại hoá cũng thấm nhập sâu xa và uốn nắn đời sống chúng ta. Học hỏi Đức Ki-tô từ Mẹ Ma-ri-a 14. Đức Ki-tô là vị Thầy tối cao, Đấng mặc khải và là Đấng được mặc khải. Đây không chỉ là vấn đề học hỏi điều Người đã dạy nhưng là học hỏi chính Người. Theo viễn tượng ấy, chúng ta có thể có vị thầy nào tốt hơn là Đức Ma-ri-a không? Từ quan điểm của Thiên Chúa, Thánh Linh là vị Thầy nội tâm dẫn đưa chúng ta đến sự thật toàn vẹn của Đức Ki-tô (x. Ga 14,26; 15,26; 16,13). Nhưng trong số các tạo vật, không ai biết rõ hơn Đức Ki-tô bằng Đức Ma-ri-a; không ai có thể dẫn chúng ta đến một sự hiểu biết sâu xa về mầu nhiệm của Người hơn là Mẹ của Người. Dấu lạ đầu tiên mà Đức Ki-tô thực hiện - biến nước thành rượu tại tiệc cưới Ca-na - rõ ràng giới thiệu Đức Ma-ri-a dưới dáng vẻ của một thầy dạy, khi ngài thúc giục các đầy tớ làm điều Đức Giê-su chỉ bảo (x. Ga 2,5). Chúng ta có thể tưởng tượng rằng ngài cũng đã làm như thế đối với các môn đệ sau khi Đức Giê-su lên trời, khi ngài hiệp cùng với họ mong chờ Chúa Thánh Thần và nâng đỡ họ trong sứ vụ đầu tiên của họ. Chiêm ngưỡng các cảnh tượng của Kinh mân côi trong sự thông hiệp với Đức Ma-ri-a là một cách thế học hỏi từ ngài để đọc Đức Ki-tô, để khám phá các bí ẩn của Người và hiểu sứ điệp của Người. Trường học này của Đức Ma-ri-a cũng đặc biệt hữu hiệu nếu ta biết rằng ngài dạy chúng ta bằng cách thu nhận cho chúng ta cách sung mãn những quà tặng của Chúa Thánh Thần, cho dù ngài ban tặng cho chúng ta gương mẫu không thể sánh ví được về cuộc hành trình đức tin của riêng ngài. Khi chúng ta chiêm ngưỡng mỗi mầu nhiệm trong cuộc đời của Con ngài, ngài mời gọi chúng ta hành động như ngài đã làm khi truyền tin: khiêm tốn đặt ra những câu hỏi mở lòng chúng ta ra với ánh sáng, hầu kết thúc bằng sự vâng phục của đức tin: Này tôi là nữ tì của Chúa; xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói (Lc 1,38). Được đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô cùng với Mẹ Ma-ri-a 15. Linh đạo Ki-tô giáo được phân biệt bởi sự dấn thân của người môn đệ để trở nên đồng hình đồng dạng ngày càng hoàn hảo hơn với Thầy của mình (x. Rm 8,29; Pl 3,10.12). Việc tuôn đổ Thánh Thần trong bí tích Thánh tẩy tháp nhập người tín hữu như một cành nho vào thân nho là Đức Ki-tô (x. Ga 15,5) và biến họ thành chi thể của Thân mình mầu nhiệm Đức Ki-tô (x. 1Cr 12,12; Rm 12,5). Tuy nhiên, sự hiệp nhất khởi đầu này mời gọi ngày càng nên đồng hình đồng dạng, sự đồng dạng sẽ dần dần uốn nắn hành vi cử chỉ của người môn đệ cho phù hợp với tâm tình của Đức Ki-tô: Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu. (Pl 2,5). Nói như thánh Tông đồ, chúng ta được mời gọi mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô (x. Rm 13,14; Gl 3,27). Trong cuộc hành trình thiêng liêng của Kinh Mân Côi, đặt nền tảng trên sự chiêm ngưỡng liên lỉ khuôn mặt Đức Ki-tô -cùng với Đức Ma-ri-a, lý tưởng rất đòi hỏi này là nên đồng hình đồng dạng với Người, được theo đuổi nhờ sự kết giao mà ta có thể diễn tả bằng từ bằng hữu. Bằng cách ấy, chúng ta có khả năng dễ dàng đi vào đời sống của Đức Ki-tô và có thể nói là chia sẻ những cảm xúc sâu xa của Người. Về điểm này, Chân phước Bartolo Longo đã viết: Giống như hai người bạn, gặp gỡ nhau thường xuyên, có khuynh hướng phát triển những tập quán giống nhau, cũng vậy, nhờ giao tiếp thân mật với Đức Giê-su và Đức Trinh Nữ, bằng cách suy niệm các mầu nhiệm của Kinh Mân Côi và bằng cách kết hiệp trong cùng một cuộc sống nhờ rước lễ, chúng ta có thể trở nên giống các Ngài, trong mức độ mà sự hèn mọn của ta cho phép, và có thể học hỏi từ những gương mẫu tối cao đó cuộc sống khiêm nhường, nghèo khó, ẩn dật, kiên nhẫn và hoàn hảo. Trong tiến trình nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô trong Kinh Mân Côi, chúng ta giao phó chính mình một cách đặc biệt cho mối quan tâm từ mẫu của Đức Trinh Nữ. Ngài vừa là Mẹ của Đức Ki-tô vừa là thành viên Giáo hội, quả vậy một thành viên trổi vượt và độc nhất vô nhị, ngài cũng đồng thời là Mẹ của Giáo hội. Như thế, ngài tiếp tục sinh hạ những người con cho Thân thể mầu nhiệm của Con ngài. Ngài thực hiện như thế bằng lời chuyển cầu, khi khẩn cầu Thiên Chúa tuôn đổ vô hạn Thần Khí trên họ. Đức Ma-ri-a là hình tượng hoàn hảo của tư cách hiền mẫu của Giáo hội. Kinh Mân Côi chuyển đưa chúng ta cách huyền diệu đến bên cạnh Đức Ma-ri-a khi Mẹ đang bận tâm đến sự tăng trưởng nhân bản của Đức Ki-tô trong ngôi nhà ở Nazareth. Điều đó giúp Mẹ có khả năng dạy dỗ và uốn nắn chúng ta với cùng một sự chăm sóc, cho tới khi Đức Ki-tô được thành hình trọn vẹn trong chúng ta (x. Gl 4,19). Vai trò này của Đức Ma-ri-a, hoàn toàn dựa trên vai trò của Đức Ki-tô và phụ thuộc cách triệt để vào đó, không làm lu mờ hay giảm bớt vai trò trung gian của Đức Ki-tô, trái lại còn làm sáng tỏ mãnh lực của sự trung gian ấy. Đó là nguyên tắc rõ ràng đã được Công dồng Va-ti-ca-nô II diễn tả mà tôi đã kinh nghiệm hết sức mãnh liệt trong cuộc đời tôi và đã làm nên cơ sở cho khẩu hiệu giám mục của tôi: Totus Tuus. Lẽ dĩ nhên khẩu hiệu được gợi hứng từ lời dạy của thánh Louis Marie Grignon de Montfort, ngài đã giải thích bằng những lời sau đây về vai trò của Đức Ma-ri-a trong tiến trình đồng hình đồng dạng của chúng ta với Đức Ki-tô: Tất cả sự hoàn thiện của chúng ta hệ tại ở việc nên đồng hình đồng dạng, kết hiệp và hiến thánh cho Đức Giê-su Ki-tô. Vì thế tính cách hoàn hảo nhất của mọi việc đạo đức không nghi ngờ gì nữa là biến đổi, kết hiệp và hiến thánh chúng ta cách hoàn hảo nhất cho Đức Giê-su Ki-tô. Vậy, bởi vì Đức Ma-ri-a là một trong các tạo vật đồng hình đồng dạng nhất với Đức Giê-su Ki-tô, hệ quả là trong số các việc đạo đức, lòng sùng kính Đức Ma-ri-a, Mẹ thánh thiện của Người, là việc đạo đức hiến thánh và làm cho một linh hồn nên đồng hình đồng dạng với Chúa hơn cả, và một linh hồn càng hiến thánh cho Mẹ sẽ càng được hiến thánh cho Đức Giê-su Ki-tô. Không nơi nào bằng Kinh Mân Côi, cuộc sống của Đức Giê-su và của Đức Ma-ri-a xuất hiện liên kết sâu xa như thế. Đức Ma-ri-a chỉ sống trong Đức Ki-tô và cho Đức Ki-tô! Cầu nguyện với Đức Ki-tô cùng với Mẹ Ma-ri-a 16. Đức Giê-su đã mời gọi chúng ta hướng về Thiên Chúa với lòng tin tưởng và kiên trì để được nhậm lời: Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho (Mt 7,7). Nền tảng của sức mạnh của lời cầu nguyện này là lòng tốt của Chúa Cha, nhưng cũng là sự trung gian của chính Đức Ki-tô (x. 1 Ga 2,1) và hành động của Chúa Thánh Thần, Đấng khẩn cầu cho chúng ta theo như ý của Thiên Chúa (x. Rm 8,26-27). Vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải (Rm 8,26), và đồng thời chúng ta không được nhậm lời vì chúng ta xin không đúng (x. Gc 4,2-3). Để hỗ trợ lời kinh mà Đức Ki-tô và Chúa Thánh Thần gợi lên trong lòng chúng ta, Đức Ma-ri-a can thiệp bằng lời chuyển cầu từ mẫu của Mẹ. Lời cầu nguyện của Giáo hội được đỡ nâng nhờ lời cầu nguyện của Đức Ma-ri-a. Nếu Đức Giê-su, Đấng Trung gian duy nhất, là Con Đường cho lời cầu nguyện của chúng ta, thì Đức Ma-ri-a, phản ánh tinh tuyền và trong sáng nhất của Người, tỏ cho chúng ta Con Đường. Chính từ sự cộng tác duy nhất của Đức Ma-ri-a với công việc của Chúa Thánh Thần, mà các Giáo hội đã triểm khai lời kinh dâng lên Mẹ thánh thiện của Thiên Chúa, bằng cách tập trung vào con người Đức Ki-tô được biểu lộ qua các mầu nhiệm. Tại tiệc cưới Ca-na sách Tin mừng đã tỏ lộ rõ ràng quyền lực của lời chuyển cầu Đức Ma-ri-a khi ngào báo cho Đức Giê-su biết nhu cầu của người khác: Họ hết ruợu rồi (Ga 2,3). Kinh Mân Côi đồng thời là suy niệm và khẩn cầu. Lời kinh khẩn nài Mẹ Thiên Chúa được đặt nền trên sự tin tưởng: tin rằng lời chuyển cầu từ mẫu của Mẹ có thể giành được mọi sự từ trái tim của Con ngài. Mẹ rất quyền năng bởi ân sủng, để sử dụng lối diễn tả táo bạo, nhưng cần hiểu cho đúng đắn, của Chân phước Bartolo Longo trong bài Thỉnh cầu Đức Bà. Đó là một xác tín, phát xuất từ Tin mừng, đã tăng trưởng càng ngày càng vững chắc trong kinh nghiệm của Dân Ki-tô giáo. Thi sĩ thượng thặng Dante diễn tả cách tuyệt diệu qua các vần thơ được thánh Bê-na-đô hát lên: Lạy Đức Bà, Bà thật vĩ đại và đầy quyền năng, ai ước muốn có ân huệ mà không đến với ngài, thì người ấy muốn ước vọng của mình bay lên mà không có cánh. Khi trong Kinh Mân Côi chúng ta van nài Đức Ma-ri-a, đền thánh của Chúa Thánh Thần (x. Lc 1,35), ngài chuyển cầu cho chúng ta trước mặt Chúa Cha, Đấng tuôn đổ hồng ân xuống trên ngài, và trước mặt người Con sinh ra từ cung lòng Mẹ, bằng cách cầu nguyện với chúng ta và cho chúng ta. Loan báo Đức Ki-tô cùng với Đức Ma-ri-a 17. Kinh Mân Côi cũng là một con đường loan báo và hiểu biết ngày một hơn, trong đó mầu nhiệm của Đức Ki-tô được trình bày đi, trình bày lại ở nhiều mức độ khác nhau của kinh nghiệm Ki-tô giáo. Đó là một trình bày mang tính cầu nguyện và chiêm ngưỡng, có khả năng đào tạo người Ki-tô hữu theo trái tim của Đức Ki-tô. Khi việc đọc Kinh Mân Côi kết hợp với tất cả mọi yếu tố cần thiết cho một cuộc suy niệm có hiệu quả, đặc biệt trong những cuộc cử hành chung tại giáo xứ và các đền thánh, đó có thể là một cơ hội để dạy giáo lý mà các vị mục tử phải biết cách khai thác. Cả theo cách thức ấy nữa, Đức Bà Mân côi tiếp tục công trình loan báo Đức Ki-tô. Lịch sử Kinh Mân Côi tỏ cho biết lời kinh này đã được các cha dòng Đa Minh sử dụng như thế nào vào một thời buổi khó khăn của Giáo hội do bởi sự lan rộng của lạc giáo. Ngày hôm nay chúng ta đang đối diện với những thách đố mới. Tại sao một lần nữa chúng ta không chạy đến Kinh Mân Côi, với cùng một đức tin như những người đã đi trước chúng ta? Kinh Mân Côi vẫn giữ được sức mạnh của nó và tiếp tục là một tài nguyên mục vụ có giá trị cho mọi người loan báo tin mừng
¶ SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II CHO KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO 2005 “Truyền Giáo: Tấm Bánh Bẻ Ra Cho Thế Gian Được Sống” Maranatha dịch Anh chị em thân mến, 1. Ngày thế giới truyền giáo, mà năm nay được dâng cho Thánh Thể, giúp chúng ta hiểu rõ hơn ý nghĩa ‘tạ ơn’ của đời sống chúng ta, qua việc làm sống lại bầu không khí của Bữa Tiệc Ly, khi mà Chúa Giêsu tự hiến mình cho thế gian, trước ngày Ngài chịu nạn: “trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này để nhớ đến Thầy.” (1Cr 11,23-24) Trong tông thư gần đây, Mane nobiscum Domine (Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con), tôi đã kêu mời chiêm ngắm Chúa Kitô, là ‘tấm bánh bẻ ra’ cho toàn thể nhân loại. Noi gương Người, chúng ta cũng phải hiến mạng sống mình cho anh em, đặc biệt là những ai thiếu thốn nhất. Thánh Thể mang ‘dấu ấn của sự phổ quát,’ và loan báo qua dấu chỉ bí tích những gì sẽ xảy đến ‘khi tất cả những ai tham dự vào bản thể nhân loại, sau khi đã được tái sinh trong Chúa Kitô qua Thánh Thần, và cùng phản ảnh vinh quang của Thiên Chúa, có thể thốt lên: Lạy Cha chúng con’ (Ad gentes, 7). Theo thể thức ấy, Thánh Thể làm cho ta hiểu được trọn vẹn ý nghĩa của truyền giáo, đồng thời thôi thúc mọi tín hữu, và đặc biệt các nhà truyền giáo, phải trở nên ‘tấm bánh bẻ ra cho thế gian được sống.’ Nhân loại cần đến Chúa Kitô, ‘tấm bánh bẻ ra’… 2. Trong thời đại chúng ta, xã hội con người dường như bị bao trùm trong bóng tối dày đặc, đồng thời lại bị rúng động vì những biến cố bi thảm và bị đảo lộn do những thiên tai khủng khiếp. Nhưng, giống như ‘trong đêm ngài bị nộp’ (1 Cr 11,23), ngày hôm nay Chúa Giêsu cũng vẫn đang ‘bẻ bánh’ (cf Mt 26, 26) cho chúng ta và trong các thánh lễ, Người tự hiến mình dưới dạng bí tích, để bộc lộ tình yêu của Người đối với chúng ta. Vì thế tôi muốn nhắc lại rằng ‘Thánh Thể không chỉ là một cách biểu hiện tinh thần hiệp thông trong đời sống Giáo Hội; nhưng còn là một chương trình liên đới cho toàn thể nhân loại” (Mane nobiscum Domine, 27); Thánh Thể là ‘bánh bởi trời’ vừa ban sự sống đời đời (cf Ga 6,33) vừa mở lòng con người để họ đón nhận niềm hy vọng lớn lao. Chính Chúa Cứu Thế, Đấng xưa khi nhìn thấy đám đông đã chạnh lòng thương ‘vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt’ (Mt 9,36), thì nay đang hiện diện trong Thánh Thể để mãi mãi tiếp tục thể hiện lòng thương cảm đối với nhân loại nghèo khổ và đớn đau. Chính nhân danh Nguời mà cách mục tử và các nhà thừa sai rong ruổi trên những nẻo đường chưa khai phá để đem đến cho mọi người ‘tấm bánh’ cứu độ. Họ được thôi thúc bởi niềm xác tín rằng, khi hiệp nhất với Chúa Kitô là ‘Đấng không chỉ là trung tâm của lịch sử Giáo Hội, mà còn là của lịch sử nhân loại (cf Ep 1, 10; Cl 1, 15-20) (Mane nobiscum Domine, 6)’, thì họ có thể thỏa mãn những chờ mong sâu xa nhất của lòng người. Chỉ có một mình Chúa Giêsu mới có thể làm tan biến cái đói tình yêu và cái đói công lý nơi con người; chỉ một mình Người mới ban cho từng người ơn tham dự vào sự sống đời đời: “Tôi là bánh hằng sống, từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời.” (Ga 6,51) Giáo hội, cùng với Chúa Kitô, trở nên ‘tấm bánh bẻ ra’. 3. Khi cộng đồng Giáo Hội cử hành thánh thể, đặc biệt vào ngày chúa nhật, ngày của Chúa, thì qua ánh sáng đức tin, cộng đồng ấy cảm nghiệm được giá trị của việc gặp gỡ với Chúa Kitô Phục Sinh và càng ngày càng ý thức hơn rằng hy tế thánh thể là ‘cho mọi người’ (Mt 26,28). Nếu ta nuôi sống mình bằng Mình và Máu của Chúa Kitô chịu đóng đinh Thập Giá và Phục sinh, thì ta không thể nào giữ lấy ‘ân huệ’ đó cho riêng mình. Trái lại, ta cần phải chia sẻ. Tình yêu nồng nàn đối với Chúa Kitô thôi thúc ta can đảm loan báo về Người, một lời loan báo mà, qua việc tử đạo, trở thành một một của lễ tình yêu cao cả dâng lên Thiên Chúa và cho anh em mình. Thánh Thể thôi thúc ta phải hoạt động loan truyền Phúc Âm một cách quảng đại và dấn thân tích cực để xây dựng một xã hội công bình và huynh đệ hơn. Tôi hết lòng ước mong rằng năm Thánh Thể này sẽ thôi thúc mọi cộng đoàn Kitô hữu tranh đấu ‘bằng những hoạt động huynh đệ chống lại một số trong bao nhiêu hình thức nghèo khổ đang hiện diện trên thế giới chúng ta’ (Mane nobiscum Domine, 28). Ấy là vì ‘chính qua tình yêu thương nhau, và đặc biệt, qua lòng trắc ẩn mà ta bày tỏ cho những ai đang thiếu thốn mà người ta sẽ nhận biết chúng ta là môn đệ đích thực của Chúa Kitô (cf. Ga 13,35; Mt 25, 31-34). Đấy là thước đo để biết được việc cử hành Thánh Thể của chúng ta có chân chính hay không’ (Mane nobiscum Domine, 28). Các nhà truyền giáo, ‘tấm bánh bẻ ra’ cho thế gian được sống.. 4. Hiện nay, Chúa Kitô vẫn còn yêu cầu môn đệ Người ‘chính anh em hãy cho họ ăn’ (Mt 14,16). Nhân danh Người, các nhà truyền giáo đến nhiều nơi trên thế giới để loan báo và làm chứng cho Phúc Âm. Qua việc làm của mình, lời Chúa Cứu Thế lại vang lên: “Tôi là bánh hằng sống; ai đến với Tôi sẽ không bao giờ đói; ai tin Tôi sẽ không bao giờ khát” (Ga 6,35); chính họ cũng biến mình thành ‘tấm bánh bẻ ra’ cho anh em, và đôi khi cho đến mức hy sinh mạng sống mình. Biết bao vị thừa sai tử đạo trong thời đại mà chúng ta đang sống đây! Gương của họ lôi cuốn nhiều người trẻ vào con đường anh dũng trung thành với Chúa Kitô! Giáo hội cần những người nam người nữ sẵn sàng tận hiến cho lý tưởng Phúc Âm. Ngày thế giới truyền giáo là một cơ hội thuận tiện để ý thức về nhu cầu cấp bách phải tham gia vào sứ mệnh rao giảng Phúc Âm, mà các cộng đoàn địa phương và nhiều tổ chức Giáo Hội đang dấn thân vào, và đặc biệt hơn, các Chương Trình Truyền Giáo Tông Tòa và các Tổ Chức Truyền Giáo. Đây là một sứ mệnh cần đến chẳng những lời cầu nguyện và hy sinh, mà còn cần đến một sự hỗ trợ vật chất cụ thể. Nhân dịp này, tôi lưu ý sự phục vụ quý giá của các Chương Trình Truyền Giáo Tông Tòa và tôi mời gọi mọi người hỗ trợ các chương trình ấy bằng cách quảng đại cộng tác về tinh thần và vật chất. Xin Đức Mẹ, Mẹ Thiên Chúa, giúp chúng ta sống lại kinh nghiệm bữa Tiệc Ly, để cho các cộng đoàn Giáo Hội trở nên ‘công giáo’ một cách chân chính, nghĩa là những cộng đoàn mà ‘linh đạo thừa sai,’ hiểu là ‘hiệp thông mật thiết với Chúa Kitô” (Redemptoris missio, 88), được kết hợp chặt chẽ với ‘linh đạo Thánh Thể,’ mà mẫu gương là Mẹ Maria ‘người phụ nữ Thánh Thể’ (Ecclesia de Eucharistia, 53); những cộng đoàn mở lòng ra với tiếng của Thánh Thần và với nhu cầu của nhân loại; những cộng đoàn mà các tín hữu, cách riêng những nhà thừa sai, không ngần ngại trở nên ‘tấm bánh bẻ ra cho thế gian được sống.’ Tôi gửi đến mọi người phép lành của tôi! Vatican, 22-2-2005, Lễ Kính Ngai Tòa Thánh Phêrô. IOANNES PAULUS PP II
¶ Thánh ThỂ trong phỤng vỤ và giỮa cuỘc đỜi Aloysius Pieris - TDN dịch Trong bản tóm lược vô cùng ngắn gọn về ‘sống giữa thế gian như là một hành động thờ phượng’, linh mục Edward Schillebeeckx đã phân tích khái niệm phụng vụ trên quan điểm Đức Giêsu - con người. “Đức Giêsu không trao ban mạng sống mình trong một khung cảnh phụng vụ trọng thể… Trái lại, chính trong một cuộc tranh chấp tầm thường giữa thế gian, dù đượm màu tôn giáo, mà Người đã trung thành với Thiên Chúa và với loài người và hiến dâng đời sống cho Thiên Chúa và cho mọi người trong một bối cảnh lịch sử do nhiều yếu tố tác động cùng một lúc.” Do đó, “Núi Sọ không phải là một phụng vụ trong thánh đường nhưng là một giờ của cuộc sống con người mà đức Giê-su đã sống như là một hành động thờ phượng. Đó là nơi mà ta tìm gặp ơn cứu độ của chúng ta.” Theo cách chú giải thư Do thái, Schillebeeckx cho rằng “việc thờ phượng đã mang một ý nghĩa trần thế;” Cha lý luận như sau: phụng vụ đã có được một ý nghĩa mới trong Tân Ước, và một khái niệm mới về thờ phượng đã được nêu lên: “cuộc sống con người tự nó có thể được sống như là phụng vụ, một hành động thờ phượng Thiên Chúa.” Bởi lẽ “nếu đặt nền tảng trên công cuộc tự hiến của đức Giê-su, cuộc sống Kitô hữu nơi trần thế này, giờ đây, có thể trở thành một hành động thờ phượng.” Rồi cha kết luận rằng “Kitô hữu dấn thân để thiết lập trật tự xã hội con người ở đây và bây giờ, và chống lại mọi bất công đang phá vỡ bình an” giữa con người với nhau, hoạt động đó chẳng những phù hợp với Kinh Thánh mà còn được “sống như là một phương thức thờ phượng giữa đời đúng như bản chất Kitô giáo trong Kinh Thánh đòi hỏi.” Do đó, “Đức tin Kitô giáo không phải là một cuộc chạy trốn khỏi trần thế để đến với phụng vụ trong thánh đường.” Ở đây, cha Schillebeeckx có vẻ như đang dùng từ ngữ ‘phụng vụ’ theo nghĩa của Vatican II, nghĩa là có hai cách hiểu: ‘phụng vụ giữa đời’ (từ ngữ cha dùng để chỉ sự dấn thân vào đời như là một hành vi phụng tự) và ‘phụng vụ thánh đường’ hoặc ‘phụng vụ trọng thể’ (cha dùng để chỉ sự thể hiện phụng vụ giữa đời qua bí tích, đặc biệt là bí tích thánh thể). Sau đó, cha nêu lên câu hỏi mà ta cần lưu ý: Phải chăng Kitô giáo chỉ đơn thuần là ‘một sự liên đới giữa người với người ở mức độ cao’ (cha muốn nói đến phụng vụ giữa đời) hay còn là ‘lời ca ngợi tôn vinh’ và ‘bàn tiệc gặp gỡ’ (phụng vụ thánh đường, đặc biệt là phụng vụ thánh thể)? Đối với nền thần học Vatican II, câu trả lời đã rõ ràng: phụng vụ thánh đường là ‘nguồn mạch và tột đỉnh’ (fons et culmen) của phụng vụ đời sống. Sự dấn thân Kitô hữu – nghĩa là sống Phúc âm trong tinh thần tự hiến mình làm của lễ, như là Sequela Christi (theo đức Kitô) – vừa bắt nguồn và vừa đạt đến tột đỉnh khi dân Chúa tập họp lại theo phụng vụ chính thức để cử hành bí tích cứu độ. Đặc biệt là tung hô lời ca ngợi được gọi là kinh Nguyện Thánh Thể khi giáo hội dâng hiến chính mình ‘nhờ Người, với Người và trong Người,’ hiệp nhất với Thánh Thần, như một hành động tôn vinh Chúa Cha. Cách nhấn mạnh trên, xem phụng vụ trong thánh đường là ‘nguồn mạch và tột đỉnh’ có thể hiểu được với cái nhìn tu đức trước Vatican II. Theo cái nhìn này, vai trò giáo sĩ được đề cao và dân Chúa bị coi nhẹ khiến cho ‘phụng vụ giữa đời’ phải tham gia vào phụng vụ của giáo hội phẩm trật mới có đầy đủ giá trị. Thứ đến, có vẻ như Giáo Hội, với tư cách là dân Chúa nối dài mầu nhiệm của nhân loại tính của Đức Giêsu và là nơi và đối tương của việc thờ phượng của Kitô hữu, lại phải lệ thuộc vào một sự hiện diện biểu trưng của Đức Kitô trong giáo hội cơ chế và trong phụng vụ ‘chữ đỏ.’ Đó cũng là quan điểm của Odo Casel và De la Taille, được phản ảnh qua công đồng Vatican II. Mọi sự phải thể hiện như thế nào trong bối cảnh một cuộc đấu tranh một sống một còn cho công bình, nơi mà ‘cuộc qui tụ mừng lễ’ và ‘lời ca ngợi tôn vinh’ là những phút cao điểm của sức mạnh và niềm vui, là một sự chiêm niệm sâu xa và việc cử hành trong hoan lạc những mầu nhiệm được mạc khải trong bản chất nhân loại của đức Giê-su, như ta từng biết qua phúc âm và qua những gặp gỡ cá nhân với đức Giê-su? Trong viễn ảnh đó, phụng vụ của giáo hội chính thức phải bắt nguồn và đi đến đỉnh cao trong phụng vụ đời sống, phụng vụ này là một đảm bảo chính yếu cho ơn cứu độ và thánh hoá, chứ không phải ngược lại. Luận điểm này đặt nền tảng trên ưu thế cho rằng một nền thần học giải phóng cần dựa vào nhân loại tính của đức Giê-su lịch sử, và giáo hội phải đứng về qua điểm ấy. Châm ngôn ubi ecclesia, ibi Christus (ở đâu có Giáo Hội, ở đấy có Đức Kitô) phải được đảo lại ubi Christus, ibi ecclesia, nhưng Đức Kitô đó, Đấng mà cùng với Người ta tìm ra Giáo Hội, thì được nhận diện rõ ràng như là một Đức Kitô nhập thể trong lịch sử và tiếp tụ hiện diện dưới hính thức bí tích trong thịt và máu của từng con người (anh chị em hèn mọn của Người) đang kêu gào, nếu không phải là đang đấu tranh, cho bình minh của một vương quốc công bình: đức Kitô đó, chứ không phải là một đức Kitô lý thuyết hiện diện một cách hợp pháp trong một cộng đoàn có cơ chế với một phương thức thờ phượng có định chế. Cố nhiên là Giáo Hội thừa tác được mời gọi để tạo cơ hội ngõ hầu thịt và máu con người được biến thể, bẻ ra và chia sẻ trong cuộc đấu tranh cho hoà bình đích thực, khiến cho thịt và máu này trở nên ‘thánh lễ tạ ơn’ – lời ca ngợi tạ ơn và niềm hi vọng của chính đức Giê-su. Nếu cơ chế của Giáo Hội khiến cho mình hoàn toàn bất lực không thể tạo cơ hội đó – tôi muốn nói phụng vụ trong thánh đường – thì chắc hẳn Giáo Hội đã tự cắt lìa mình ra khỏi Đầu là đức Kitô. Giáo hội sẽ không còn là Giáo Hội, và lại càng không phải là nguồn mạch và tuyệt đỉnh cho việc thờ phượng giữa đời! Nếu ta nhìn đúng đắn Đức Giê-su trong chiều kích con người lịch sử, thì chúng ta sẽ tìm kiếm một phụng vụ đúng nghĩa của một Giáo Hội chân chính. Giáo Hội thừa tác, nếu trở nên ecclesiolae hay ‘cộng đoàn căn bản,’ nơi Đức Kitô cửa hành mầu nhiệm vượt qua của Người trong tinh thần và trong xác thịt, thì sẽ ‘học’ cách trở nên chứng nhân đích thực cho sự hiện diện của Đức Kitô (Ecclesia discens: Giáo Hội học hỏi) và nhờ đó tìm lại được uy quyền đã mất (Ecclesia docens: Giáo hội dạy dỗ). Đây là cách Đức Giê-su đã xây dựng Giáo Hội thông qua núi Sọ, thông qua giờ của cuộc sống nhân loại mà Người đã thực hiện như một hành vi phụng tự. Vào thời trung cổ, những khuynh hướng phi nhân còn để lại dấu vết trong một nền thần học mà Thiên Chúa bị chắt lọc qua những khái niệm trừu tượng kinh viện, qua những linh đạo phi nhập thể. Linh đạo đó đã thu hẹp cuộc gặp gỡ Thiên Chúa – con người thành một loại kết hiệp giữa linh hồn con người (loại bỏ phần xác) với Đức Kitô Thiên Chúa (loại bỏ nhân tính của Người). Khuynh hướng phi nhân đó còn thể hiện trong các lề luật nhằm hạ thấp con người và xem họ chỉ là ‘thứ dân’ của Giáo Hoàng mà thôi. Song song với những khuynh hướng đó, cũng có một phong trào quần chúng nhằm tôn sùng nhân loại tính của Đức Kitô, nhờ thế mà sự lành mạnh của Giáo Hội được phục hồi. Những việc sùng kính Corpus Christi (Mình Thánh Chúa Kitô), Máu thánh, năm dấu thánh, vv… là một chương trình tái giáo dục phụng vụ của Giáo Hội dựa trên các nền tảng Kitô giáo. Những việc sùng kính máng cỏ và thập giá của dòng Phanxicô, vẫn giữ vững cho chúng ta được gắn liền với cốt lõi Kitô giáo. Việc tôn sùng Thánh Tâm, bắt nguồn thật xa xưa từ những bản văn của các thánh Gertrude và Mechtilde, hẳn là việc sùng kính lan rộng nhất và, trên bình diện thần học, sự tôn sùng sâu sắc nhất đối với nhân loại tính của Đức Giê-su. Nó được đặt vào trung tâm của Giáo Hội khi mà dòng Tên kết hợp lý thuyết với thực hành, nhờ đó bù đắp sự thiếu thốn những việc đạo đức hướng về Đức Kitô trong phụng vụ của các giáo sĩ thời đó, một lối phụng vụ đã xa lìa với dân Chúa. Huấn quyền lắng nghe các nhà thần học và đón nhận việc sùng kính đó, thậm chí còn ra cả một thông điệp về vấn đề đó. Nếu việc sùng kính này ngay nay mất tính chất thiết yếu ban đầu, đấy là vì phụng vụ, giờ đây được đổi mới, đã làm cho việc tôn sùng đó trở nên dư thừa. Tôi hy vọng một tiến trình tương tự sẽ được phát huy trong Giáo Hội do việc nhấn mạnh đế nhân loại tính của đức Kitô xuất phát từ thực tiễn của các cộng đoàn cơ bản. Mong huấn quyền đón nhận. Tôi sẽ nói ngay vì sao. Một nền thần học kinh điển có thể phát sinh những ‘việc đạo đức,’ nhưng một nền thần học sống động thôi thúc chúng ta dấn thân với Đức Kitô là Đấng Thiên Chúa-trở-thành-người-lân-cận. Đây là một sự chuyển hướng từ Đức Kitô trong chiêm niệm qua một Đức Kitô bằng thịt bằng xương. Điều này nghe có vẻ kì lạ. Lối tôn sùng Thánh Tâm cổ điển loay hoay chung quanh lý thuyết ‘phạt tạ’ những thương tích gây ra cho Thánh Tâm. Điều này có thể dễ dàng đưa dẫn những kẻ thực hành việc tôn sùng đó đến một sự đảo ngược bệnh hoạn, trừ phi họ thực sự nhận ra rằng trong thực tế có một Đức Kitô có thể bị tổn thương và, do đó, họ có thể đền bù phạt tạ. Thần học chân chính sẽ đưa chúng ta đến đụng chạm một Đức Kitô như thế, một Đức Kitô mà quả tim rướm máu đòi hỏi những hành động can đảm để yêu thương, một Đức Kitô đang đói, đang khát, đang trần truồng, đang bệnh hoạn, vô gia cư và bị kìm kẹp trong xiềng xích xã hội (Mt 25,31-36), Đức Kitô con của một người thợ (Mt 15,53), Đức Kitô không có chỗ để sinh ra (Lc 2,7), để gối đầu (Mt 8,20), hay để chôn cất (Mt 27,60). Đức Kitô đang đe doạ sự yên hàn của Hêrôđê và, do đó, bị ông ta săn đuổi (Mt 2,13), Đức Kitô bị vu cáo nơi toà án (Lc 23, 1-8), Đức Kitô bị xiềng xích ở sảnh đường (Mc 15,16), Đức Kitô bị quân lính hành hạ (Mt 27,26), Đức Kitô tội phạm giữa những người tội phạm (Lc 23,39), Đức Kitô nạn nhân của lòng cuồng tín các tư tế và của các nhà chính trị cơ hội (Mt 2,11-23), Đức Kitô, nhà lãnh đạo không ai mong muốn (Ga 19,14-15). Đức Kitô nhân loại tương ứng với thuyết nhân bản Kitô giáo trong thời đại chúng ta, thuyết này soi sáng cho chúng ta thấy những cội rễ sâu kín của việc phi nhân hoá con người, và đề cao một mẫu xã hội trong đó động cơ là sự thăng tiến con người chứ không phải lợi nhuận, tích lũy (mammon), và đưa ra một phương pháp nhận định không khác gì các phương pháp xưa kia: xác định kẻ thù, lựa chọn chiến lược, và đấu tranh cho vương quốc với lòng tin tưởng và hi vọng vào ân sủng của Thiên Chúa. Đức Kitô xuất hiện từ thuyết nhân bản này không đơn thuần là một Đức Kitô Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chỉ gợi cho chúng ta một đường lối Messia bệnh hoạn trước những vấn đề xã hội, không có chỗ cho một nụ cười, cho mỹ cảm, và cho sự thân mật giữa người và người - tất cả những chất liệu giúp con người thăng tiến thực sự. Hơn thế, đây là gương mặt của Đức Kitô rạng rỡ trong ánh sáng phục sinh. Một Đức Kitô đã gọi cát bụi vào sự sống, một Đức Kitô chữa lành, một Đức Kitô nuôi dưỡng đám đông, một Đức Kitô xoá bỏ những thương tích xã hội (phong cùi) và đưa những kẻ bị ruồng bỏ hội nhập xã hội. Tóm lại, Đức Kitô tái lập mọi sự, một Đức Kitô chịu đau khổ nhưng chiến đấu trong hy vọng, một Đức Kitô được tôn vinh ngay cả khi còn trên thập giá
¶ Lm Phan Sinh Quang (Quang Tuyền) LTS: Maranatha nhận được bài viết Dẫn Vào Thì Thầm do linh mục Phan Sinh Quang gửi tặng riêng cho độc giả Maranatha. Trong lời ngỏ, cha đã nói rõ hoàn cảnh nào cha đã nghe được tiếng Thì Thầm mà cha chia sẻ hôm nay. Maranatha không đánh giá và không có thẩm quyền đánh giá rằng một tiếng nói được một ai đó ghi lại, dù người đó là linh mục, có phải thực sự là Tiếng Chúa một cách minh nhiên hay đó chỉ là những tâm tư của cá nhân suy niệm và tưởng tượng ra khi trầm mình trong tinh thần cầu nguyện. Tuy nhiên, dù cho đây thuần túy là cảm nghiệm nhân loại thì những lời chia sẻ của cha Quang sẽ mang âm vang rất sâu lắng cho đời sống Kitô hữu. Trong tháng Mân Côi này, khó có một Kitô hữu nào có thể dửng dưng trước những lời dạy dỗ của Đức Mẹ mà cha Quang ghi lại đây, chẳng hạn: Vì sao con lại không ra gì khi Mẹ yêu con. Vì sao bao nhiêu lần con đã từ chối Mẹ? Cùng với những suy nghĩ đó, Maranatha mời quý độc giả tiếp xúc với tâm tình của tác giả trong bài viết sau đây:
Lời ngỏ Anh Hoàng Văn Phúc, là giáo dân xứ tôi, có nói với tôi về việc ban phụ trách “Maranatha” mời tôi viết bài. Tin rằng đây là ý Chúa, nên hôm nay tôi viết. Tôi sẽ gởi đăng những lời “Thì Thầm”, những lời mà tôi tin là Chúa Thánh Thần dạy bảo tôi. Để giúp các bạn hiểu “Thì Thầm” tôi xin chia sẻ ít tâm tình. I. Chép Thì Thầm Từ đầu tháng 12/2001, sau một thời gian cố gắng ăn chay cầu nguyện, tôi bỗng nghe tiếng nội tâm tự xưng là Thánh Thần Thiên Chúa. Ngài yêu cầu tôi làm thư ký chép những “bài thơ” của Ngài, như là mặc khải cuối cùng của Ngài. Tôi đã chép được khoảng 10.000 trang. Tôi đã phổ biến một tập thơ mỏng mang tựa đề là “Mẹ dặn dò” vào tháng 8/2002. Đây là những bài thơ đơn sơ mộc mạc như những bài vè giáo lý. Chúa Thánh Thần nói với tôi: “Mẹ dặn dò” là tất cả “Thì Thầm” tóm tắt. Hầu hết những bài thơ trong tập “Mẹ Dặn Dò” tôi đã công bố trên mạng thanhlinh.net, trong mục “Xin chọn người yêu là Thượng Đế.” Thì Thầm còn lại gồm khoảng 150 tập (đánh số từ 0 – 150), mỗi tập khoảng 60, 70 trang. Các tập “Thì Thầm” được chép theo thứ tự thời gian, trước mỗi bài đều ghi ngày giờ năm tháng. Những lời “Thì Thầm” này tôi nghe không ngơi không nghỉ từ bốn năm nay. Bất kỳ khi nào tôi muốn chép thì cầm bút chép. Vì vậy mà có tháng, như tháng 12/2003 chép tới 13 tập từ tập 22 – 34. Có khi cả năm mà không có tập nào (2002). Khi nào rảnh thì tôi chép. Có tập chép trong một, hai tiếng đồng hồ (TT 15). Có tập chép trong một ngày (TT 7). Có khi đang chép thì bận tiếp khách... nên tư tưởng nhiều chỗ không thông! Thực ra, tôi chỉ chép được một phần nhỏ những lời Chúa nói với tôi. “Ngài chỉ ngừng nói khi tôi cầu nguyện” (Mẹ dặn dò, Bày tỏ). Ngài không chỉ nói với tôi bằng ngôn ngữ như một con người, mà còn nói với tôi bằng những thị kiến... vì “ngôn bất tận ý.” Cho đến nay tôi vẫn chép Thì Thầm, nhưng nội dung hình như đã cạn, chủ yếu chỉ nhắc nhở tôi ăn chay hãm mình, siêng năng cầu nguyện vì thời giờ đã mãn. Tôi sẽ gởi tới các bạn tập Thì Thầm 15 như món quà đầu tiên. Tập này được viết như một bài vè, đơn sơ dễ đọc mà tư tưởng cũng đầy đủ, được chép liên tục trong 80 phút nên có mạch lạc tư tưởng. II. Ngôn Ngữ Thì Thầm Ngài nói với tôi rất rõ ràng như ba má tôi nói chuyện với tôi vậy. Tôi chép Thì Thầm như chép chính tả, có đôi khi nghe không rõ tôi phải hỏi lại Ngài... Ngài nói với tôi bằng giọng quê hương Nghệ Tĩnh của tôi. Không phải là một nhưng là ba giọng cùng nói một lúc. Giọng chủ lực là của người phụ nữ (Mẹ) rồi giọng của một em bé (Con) và cuối cùng là giọng trầm cảm của một người đàn ông (Cha). Ngài nói : “Ba Ngôi là vậy đó!” Ngài nói với tôi bằng những lời thật là bình dị, có khi tầm thường mộc mạc. Kể cả những bài thơ của Ngài cũng không xuôi chảy lắm! Có lẽ vì đây chủ yếu là lời Thì Thầm cho tôi, chất liệu là cuộc sống của tôi, tâm tư tình cảm của tôi. Đây là cuộc đối thoại liên lỉ của Chúa Thánh Thần với linh hồn tôi, là một con người tội lỗi dốt nát... Chính vì vậy mà chỉ có tôi mới hiểu rõ những lời Thì Thầm. Nhưng biến cố trong cuộc sống tôi, những nhân danh, địa danh trong đời tôi... đều được nhắc đến. Ông Quang Tuyền là tên người ta thường gọi ba tôi. Bà Quang Tuyền là tên thường gọi của mẹ tôi. Quang - Minh - Đại - Đạo là tên của tôi và ba em trai. Băng Linh, Bích Hiền, Thanh Thảo, Tú Trinh... là các nữ tu con cái thiêng liêng của tôi. Phước An, Thanh Hải, Thánh Linh là các giáo xứ tôi đã và đang phục vụ. Sung Mãn, Sung Thượng, Như Xuân, An Bình, Thanh Tân... là các giáo họ thuộc xứ Thanh Hải. Bạch Thu Thiện là bạn tôi... Có đôi khi, đan kẽ trong những lời Thì Thầm của Ngài, có cả lời đối thoại của tôi nữa, vì Ngài thấu suốt tâm can tôi. Ngoài ra, Thì Thầm cũng dùng rất nhiều từ ngữ với nội dung đặc biệt như: - “Mạc Tư Khoa” có nghĩa là mặc khải tư. - “Nhà Thương Từ Dũ”: từ bỏ tất cả. - Ông Thời, Bà Thời, Đức Cha Nicola trên trời, Mẹ Êlisabét, Ông Quang Tuyền, Bà Quang Tuyền, Bà Hoàng, A và Ω, Bây Giờ và Mãi Mãi... và rất nhiều danh từ khác nhau đều chỉ thị Thiên Chúa! * Chủ yếu Ngài tự xưng là Mẹ, Mẹ Thánh Thần, Chúa Thánh Thần, Cô giáo Thánh Linh. Có khi Ngài tự xưng là Minh Hợp, Hợp (Hợp nhất). * Thường Ngài gọi tôi là con, mi, Quang ngơ, Quang điếc, có khi gọi là Cha Quang, ông Quang, anh Quang, Quang loác... * Lối trình bày tư tưởng giống như một ông thầy Đông Phương (Chúa Giêsu, Đức Phật Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử...) hơn là các triết gia, thần học gia Tây phương. Như là thơ, vè, ca dao... hơn là lý luận khúc chiết.
III. Nội Dung Thì Thầm Đây là những lời tự nhận là mặc khải, như là mặc khải cuối cùng của Thiên Chúa cho nhân loại. Như là không bao giờ có mặc khải như thế này nữa, vì đây là lời Thánh Thần Thiên Chúa phán một cách mạnh mẽ vô biên vô tận không ngơi không nghỉ. Cũng chỉ có một mặc khải là mặc khải nơi Chúa Giêsu mà hôm nay Chúa Thánh Thần giúp ta hiểu trọn vẹn. Đó là mầu nhiệm nơi Chúa Giêsu Kitô cũng là mầu nhiệm nơi mỗi người chúng ta. Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là con người thật vì Ngài tràn đầy Thánh Thần mức tuyệt vời. Chúng ta phải noi gương Chúa Giêsu, hết lòng yêu mến Thiên Chúa, yêu mến nhau, sốt sắng cầu nguyện, hãm mình để được tràn đầy Thánh Thần, để được nên một với Chúa Giêsu Kitô, hợp nhất với Thiên Chúa, như là Thiên Chúa vậy. Đây cũng là mặc khải về Chúa Thánh Thần như là hơi thở của chúng ta, như là ánh sáng của chúng ta, như là tất cả cho chúng ta. Chờ Chúa Kitô quang lâm cùng là mong Thánh Thần hiện xuống. Chúa Thánh Thần đang đến trong lòng mỗi người chúng ta như là cơn mơ nồng nàn nhất của nhân loại. Chúa Thánh Thần đang nói trong lòng mỗi người chúng ta, chúng ta hãy lắng nghe Ngài phán dạy. Chúa Thánh Thần hiện xuống với tôi bốn năm nay, biến tôi thành Alter Christus (Kitô khác), nghĩa là cho tôi được tràn đầy hồng ân Thần Khí, như là “Bạn Trăm Năm” của Chúa Thánh Thần, như là nên Một với Ngài. Đó là ơn gọi của mọi tín hữu hôm nay. Chúa Thánh Thần muốn tôi chia sẻ “Thì Thầm” để mọi người xác tín vào tình yêu Thiên Chúa mà mở rộng tâm hồn thiết tha cầu nguyện xin Thánh Thần ngự xuống. Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến mà đổi mới mọi sự. Maranatha! IV. Thì Thầm Tự Bạch 1. Sao thơ Mẹ không hay ? Không bao giờ mi nói với Mẹ là Mẹ cũng là thi sĩ Cho con được làm thơ cho đàng hoàng tử tế Mi học i tờ mà muốn sửa văn thơ của Mẹ Mà sao mi dám nói là thơ Mẹ không ra chi cả *** Mẹ không muốn làm thơ hay thì mặc Mẹ Có cái gì không hay trong thơ Mẹ Thì mi cứ kể ra coi nào Không hay thì không hay ở chỗ nào? Mi không chịu làm thơ với Mẹ Thì thơ Mẹ hay sao được Vì thơ Mẹ cũng là thơ mi *** Chúa định cho mi ăn năn sám hối Chúa không định cho mi làm thi sĩ đâu Trong lòng mi hôm nay không có thi sĩ nữa Vì chỉ có tình yêu mới có thơ ca Không có tình yêu thì thi sĩ gì nữa *** Không có tình yêu thì không có thi ca Mà có tình yêu thì mới là tất cả Có một bài thơ mà mi ước ao viết Đó là bài “Xin chọn người yêu là Thượng Đế.” Hãy viết lên đi bằng tình yêu nồng nàn với Mẹ. (Thì Thầm 21, 11-12) 2. Con là thư ký mà thôi Con muốn Mẹ làm thơ để sứ điệp được dễ dàng công nhận Mẹ muốn rằng sứ điệp công nhận thì sao? Mẹ công nhận là con ngu dốt Khi con nghĩ rằng không ai công nhận thơ mẹ là Thần Khí Con thật là ngu dốt Khi con nói rằng thơ Mẹ là Thần Khí Mà sao không hay như thơ Lý Bạch như thơ Hàn Mặc Tử *** Không có gì để mà nói nữa Vì thơ Mẹ chỉ bây giờ mới có mà thôi Thánh vịnh Thánh ca thì có thể là thơ Mẹ Mà cũng là thơ thiên hạ Mẹ mượn lời thiên hạ mà làm thơ Còn Thì Thầm hoàn toàn là thơ Mẹ Hoàn toàn là thơ Mẹ Hoàn toàn là thơ Mẹ Con chỉ chép mà thôi Con là thơ ký mà thôi *** Sao con lo lắng làm chi Thơ Mẹ được công nhận hay không, có là gì Mẹ có lo là lo cho nhân thế Không biết rằng Mẹ đã đến đây Thì Thầm mãi Thì Thầm hoài Là ân huệ cuối cùng mà không ai biết tới *** Sao con không nói với người ta rằng con là ngôn sứ Có bổn phận phải nói với người ta rằng: Mẹ đã đến lần cuối cùng Cho con và mọi người Trong con và mọi người Hãy đón nhận Chúa trong lòng mình trong lòng mọi người. (Thì Thầm 21, 31-32) 3. Chỉ là tình yêu mà thôi Chúa ở trong tim con là Chúa tể càn khôn Mà sao con không biết Mà sao con không yêu Mà sao con không thờ lạy cho cẩn thận Mà sao con không chịu tin con cũng là Thiên Chúa thật Mà con cứ tin con chỉ là hư không *** Không có tình yêu nào mà không có đau khổ của Thánh Thần Thiên Chúa Thiên Chúa ở khắp mọi nơi là Thiên Chúa ở trong chính mình Thiên Chúa ở trong chính mình là Thiên Chúa Ba Ngôi Nghĩa là Thiên Chúa tình yêu mà thôi Chỉ là tình yêu mà thôi Chỉ là toàn yêu mà thôi *** Vì sao con lại buồn quá khi Mẹ đến viếng thăm con Vì sao con lại không ra gì khi Mẹ đến viếng thăm con Vì sao con lại không ra gì khi Mẹ yêu con Vì sao bao nhiêu lần con đã từ chối Mẹ ? (Thì Thầm 16, 11-12) 4. Bài thơ viết mãi Không bao giờ Mẹ làm thơ cho con đọc mà thôi Mà Mẹ làm thơ cho mọi người cùng đọc Như là Kinh Sách cho mọi người đọc chung với nhau Như là câu chuyện tình của Mẹ với ông Quang ngơ *** | |