Số 63 Ngày 29-10-2005

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Tháng Các Linh Hồn – Lm. Trần Đức Phương

Xác Chết Sống Lại - Đỗ Trân Duy

Hai Phong Cách Lãnh Đạo - Nguyễn Chính Kết

Linh Đạo Mẹ Têrêxa Calcutta - Hoàng Văn Phúc

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D.

Tận Dụng Nỗi Khổ - Khổng Nhuận

Trò Chơi Kinh Thánh - Maranatha

Khoảnh Khắc Bình An Madalêna Bích Vân

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa quý độc giả,

 

Maranatha 63 đến với quý vị khi chúng ta chuẩn bị bước vào tháng 11, tháng Giáo Hội dành riêng để tưởng nhớ và cầu nguyện cho các linh hồn. Thế nhưng Giáo Hội lại dành ngày đầu tiên trong tháng để mừng Các Thánh Nam Nữ. Vì sao Giáo Hội thiết lập ngày lễ trọng này ngay trong ngày đầu tháng dành riêng để cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời? Dĩ nhiên, không phải để tôn vinh các thánh, giờ đây vì các ngài đã được tham dự trọn vẹn vào vinh quang của Thiên Chúa, và mọi sự tôn vinh của loài người chúng ta không thêm bớt gì cho vinh quang của các ngài. Lễ này Giáo Hội muốn dành cho chúng ta, những người đang đi trên con đường lữ thứ!

Chúng ta hãy trở lại ý nghĩa và lịch sử hình thành của ngày lễ rất đẹp và ý nghĩa này hầu sống đúng tâm tình của Giáo Hội mời gọi.

 

Giáo hội thiết lập ngày lễ này vì bốn lý do: 

1. Để mừng việc dâng hiến một đền thờ.

2. Để nhắc lại những gì chúng ta quên lãng.

3. Để đền bù những thiếu sót chúng ta.

4. và để được dễ nhận lãnh những ơn mình cầu.

 

1. Trước hết, ta xem lại lịch sử của việc cung hiến đền thờ. Khi người La Mã thành bá chủ của đế quốc rộng lớn của mình, họ đã xây dựng một đền thờ vĩ đại, và đặt vị thần của họ vào trung tâm. Và vì không thể nào biết hết và chứa hết các vị thần, nên họ đặt tên đền thờ ấy là Pantheon, có nghĩa là thờ tất cả mọi thần. Đền thờ nguy nga này được xây trên một nền tròn, tượng trưng cho sự vĩnh cửu của các thần.

 Thế rồi vào triều đại hoàng đế Procas, hai trăm năm sau khi Rôma đón nhận đức tin, Đức Giáo Hoàng Bônifaciô đã được hoàng đế tặng cho đền thờ ấy; ngài đã gạt bỏ mọi tượng thần cũ, và ngày 03 tháng 5 năm 805, ngài dâng hiến đền thờ này cho Đức Mẹ và các thánh tử đạo: vì thế đền thờ ấy lấy tên là đền Đức Mẹ các thánh tử đạo.

 Vào khoảng năm 830, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IV dời ngày lễ cung hiến đền thờ sang ngày 1 tháng 11. Lý do là vì thời gian này là thời kỳ mà mùa gặt đã xong nên dân chúng kéo về đền thờ đông đúc để cầu nguyện với các thánh tử đạo. Do những cuộc hành hương của tín hữu đến tôn kính các thánh tử đạo, nên Đức Giáo Hoàng cũng ban lệnh cho toàn thể Giáo Hội, không chỉ mừng ngày cung hiến đền thờ, mà còn tưởng niệm tất cả các thánh. Thế là đền thờ kia, khởi thủy được xây để thờ kính tất cả mọi thần, giờ đây được dâng hiến để tôn vinh tất cả các thánh.

 2. Lễ Các Thánh Nam Nữ được thiết lập để giúp ta nhớ lại những người mình quên lãng, bởi vì có rất nhiều thánh mà chúng ta quên. Các vị ấy không có một ngày lễ riêng và chúng ta cũng chẳng nhắc đến họ trong các kinh và lời cầu nguyện của mình. Dĩ nhiên, không thể nào dành cho tất cả các thánh mỗi ngày cho một vị, bởi vì số lượng các thánh thì vô số mà chúng ta lại không có đủ thời gian trong năm.  

3. Lễ Các Thánh Nam Nữ được thiết lập để chúng ta đền bù những thiếu sót của mình, bởi lẽ dù cho Giáo Hội chỉ mừng một số thánh rất ít trong năm, thì chúng ta cũng thiếu sót tôn kính các ngài, vì không hề biết ngày lễ đó hoặc vì lười biếng. Như thể, chúng ta có thể đền bù lỗi phạm của mình bằng cách mừng tất cả mọi  thánh, trong ngày kính Các Thánh Nam Nữ

 

4. Cuối cùng, ngày Lễ Các Thánh Nam Nữ được thiết lập đế những lời cầu xin của chúng ta chúng ta dễ được Chúa nhậm lời hơn. Ngày hôm ấy, chúng ta tôn vinh các thánh, nhưng đồng thời cũng xin tất cả các ngài đồng loạt chuyển cầu cho chúng ta, và như thế, vì công nghiệp toàn thể các ngài, Chúa sẽ tỏ lòng nhân hậu của Ngài đối với chúng ta một cách nhãn tiền hơn.

Nhìn lại sơ lược Lễ Các Thánh, chúng ta cũng phải nhận định rằng nếu các ngài hiện đang hưởng hạnh phúc bên Thiên Chúa Ba Ngôi, thì đấy cũng là nơi mà chúng ta sẽ đến trong tương lai, nếu chúng ta đi theo con đường của các ngài. Trong ngày Lễ Các Thánh Nam Nữ, Giáo Hội chọn bài phúc âm về Tám Mối Phúc Thật. Bài Giảng Trên Núi nói lên hành trình của các thánh để được hưởng phúc đời đời, một hạnh phúc mà ngay tại thế các ngài đã cảm nghiệm từ thâm sâu và sống các mối phúc đó theo ơn gọi và cách thức của riêng mình: Phúc cho ai nghèo khó, đói khát, khóc lóc, hiền lành, trong sạch, đem hòa bình, bị bách hại… Và đó cũng là con đường mà mỗi một chúng ta cần đi qua để hưởng phúc đời đời.

Nhưng Lời Chúa nếu muốn đem vào cuộc sống thì có muôn hình vạn trạng, vì thế Maranatha 63 sẽ trình bày những phương thức khác nhau để biến thành hiện thực Tám Mối Phúc trong cuộc sống của một Kitô hữu.

Và đi trên con đường của ‘Hiến Chương Nước Trời,’ theo gót tất cả các thánh trên trời, chúng ta thành tâm nguyện ước: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến!

MARANATHA

 

 

 

 HỌC HỎI - SUY NIỆM
 

THÁNG CÁC LINH HỒN

Lm. Anphong Trần Đức Phương

Trong tháng 11, tháng cuối cùng của Năm Phụng Vụ, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta nhớ đến những người đã ra đi trước chúng ta. Trong số đó, có những vị đã được thưởng công trên nước trời, đó là các vị “đã nên thánh”, mà chúng ta kính chung vào ngày  Lễ CÁC THÁNH (01/11); có những người còn đang được thanh tẩy trong Luyện ngục  mà chúng ta cầu nguyện chung cho họ vào ngày Lễ CÁC LINH HỒN (02/11). Tháng 11 cũng thường được gọi là THÁNG CÁC LINH HỒN và là tháng để chúng ta cầu nguyện nhiều cho các linh hồn nơi luyện ngục. Tất nhiên không phải chúng ta chỉ cầu cho các linh hồn quá cố vào tháng 11; nhưng chúng ta vẫn nhớ đến các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ và bà con thân thuộc, các linh hồn ‘mồ côi’ trong các Thánh Lễ và kinh nguyện hằng ngày; đặc biệt trong các Ngày Giỗ, ngày các vị đã ra đi khỏi cuộc đời này.

Tháng 11, tháng cuối cùng của Niên Lịch Phụng Vụ, cũng là tháng để chúng ta nhớ đến  giờ phút chúng ta sẽ ra khỏi cuộc đời này mà không ai trong chúng ta biết được lúc nào và cách nào. Điều đó không làm cho chúng ta bi quan về cuộc sống. Trái lại trong niềm tin vào Chúa Giêsu Phục sinh và lên trời vinh hiển để mở đường ‘về trời’ cho chúng ta, chúng ta vẫn  luôn vui sống cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, chúng ta cần luôn sống sẵn sàng đón chờ Chúa đến với chúng ta bất cứ lúc nào (theo tinh thần bài Dụ ngôn “Mười Trinh Nữ” trong  Bài Tin Mừng Chúa Nhật XXXII (Năm A). Trong khi chờ đợi, chúng ta  cần  dùng thời giờ  và những gì Chúa ban, tùy theo hoàn cảnh mỗi người, để ‘sinh lời’  là các ‘việc lành phúc đức’ (Theo tinh thần  Dụ ngôn “Những Nén Bạc” trong Bài Tin Mừng Chúa Nhật XXXIII (năm A). Những điều chúng ta cần phải làm hơn cả, đó là giúp đỡ những người nghèo khó, không cơm ăn áo mặc, và những  nạn nhân do thiên tai, chiến tranh, khủng bố, và bịnh nhân…(Đó là tinh thần Dụ Ngôn “Cuộc Phán Xét Cuối Cùng” của Bài Tin Mừng Chúa Nhật cuối cùng trong Năm Phụng Vụ,  Lễ Chúa Kitô là Vua Vũ Trụ (Năm A):

“Khi Ta đói các con đã cho Ta ăn,

“ khi Ta khát các con đã cho ta uống,

“ khi Ta bịnh hoạn, các con  đã đến viếng thăm…

“ Vì khi các con làm như thế cho những người nghèo khó nhất của Ta đây, là các con đã làm cho chính Ta đó…( Xin đọc Mát-Thêu 25,31-46).

Vậy chúng ta hãy cầu nguyện chung cho nhau , để bao lâu chúng ta còn sống trong cuộc đời này , chúng ta luôn biết sống “khôn ngoan như  Năm Cô Trinh Nữ Khôn Ngoan chờ Chàng Rể đến…”

Trở về mục lục >>



š¶›

XÁC CHẾT SỐNG LẠI

                                                                                                                 Đỗ Trân Duy

    Vào khoảng giữa Thu, trước lễ Các Thánh, người Mỹ có ngày hội Halloween. Các tay chơi thường trang hoàng sân cỏ trước nhà thành bãi tha ma ngổn ngang bia mộ. Tuy bia đá có khắc chữ R.I.P. (Rest In Peace) nhưng vài xác chết vẫn chui ra khỏi mồ một nửa người. Chúng vươn mình quơ những ngón tay khẳng khiu, như chân quạ đen, vẫy gọi kẻ lang thang chiều tím để hù chơi. Vào những buổi sáng tĩnh lặng, trong không khí mơ hồ sương Thu, cảnh ma quái ấy mất hẳn vị khôi hài. Hình ảnh chiếc mộ bia rêu phong lạnh lẽo, bên những chiếc lá úa vàng, chập chờn mang nét đẹp song đôi. Một bên là nét buồn muôn thủa của định mệnh đóng kín. Một bên là linh ảnh cánh chung của thánh Phaolô. Vào ngày ấy tiếng kèn của Thiên Chúa sẽ đánh thức những kẻ chết trong mồ sống lại (1Cor 15, 51-52).

     Đối với con dơi đu mình trên mộ bia kia, cái chết là một định mệnh từ bên ngoài áp đặt cho nó. Chết là tiêu tan. Nhưng chúng ta không phải là thú vật hay thực vật. Chúng ta là con người, một thực thể tự do, cấu trúc theo hình ảnh Thiên Chúa, cái chết với chúng ta không phải là hết. Tuy rằng thể lý của mình phải chết, nhưng chúng ta vẫn có tự do đối diện với cái chết. Nghĩa là chúng ta có quyền lực lựa chọn cho mình một định mệnh, mà giờ chết, chính là cao điểm tối hậu của ý chí tự do, là lúc chúng ta tán thành một cách dứt khoát theo Ý Cha.[1] Sau đó không còn dịp nào nữa.

Những Quan Niệm Mập Mờ Về Sự Sống Đời Sau

    Sau khi chết, mọi nền văn hóa đều có sẵn niềm tin về cuộc sống đời sau của hồn. Niềm tin này không dính líu gì đến tôn giáo. Nó là sắc thái tâm lý biểu lộ ước vọng bất tử của con người. Từ đó những lễ nghi kỳ dị, những bùa phép, những ác quỷ, và những thần linh nảy sinh để thỏa mãn nhu cầu đời sống của hồn. Nhưng cái tôi đích thực là ai? Tôi là xác hay là hồn? Đã có một thời gian rất dài người ta nghĩ rằng cái tôi là linh hồn. Họ cho rằng linh hồn bất tử là đủ. Xác là phần thể chất ô uế làm sao lên cõi trời cho được. Triết học Platô cho thể xác là ngục tù của linh hồn. Chỉ khi nào thể xác chết đi linh hồn mới được tự do. Đối với Kitô hữu, ý thức về bản thể con người phải rút ra từ lời dạy của Thiên Chúa. Lời phán của Chúa Cha: “Con hãy yêu Thiên Chúa hết mình, hết linh hồn, hết trí khôn” đã ám chỉ cái tôi đang hiện diện gồm xác, hồn, và thần (danh xưng theo Tân Ước: soma, psyche, pneuma). Đức Giêsu đã có lần cảnh cáo dân chúng: “Đừng sợ những kẻ giết được xác, hãy sợ Đấng có thể giết được cả xác lẫn hồn trong hỏa ngục.” Đức Giêsu đã không tách rời xác và hồn thành hai đời sống cá biệt. Xác và hồn đều có cùng nhau trên thiên đàng hay dưới hỏa ngục. Thánh Phaolô nói với dân Côrintô, “Ngươi không biết thân xác ngươi là đền thờ của Chúa Thánh Thần sao?” (1Cor 3,16). Ý thánh muốn nói không phải chỉ có linh hồn là nơi duy nhất Thiên Chúa an trú. Chủ đề xác-hồn được cha Pierre Teihard de Chardin lồng vào tin mừng phục sinh như một liên kết tất yếu. Chúa Giêsu hiến dâng sự cứu rỗi không phải chỉ cho linh hồn, nhưng cho cả cấu trúc thể chất là điều kiện của linh hồn.[2] Như vậy cái tôi đúng nghĩa đối với Kitô giáo là một hiện hữu nhất thể xác-hồn-thần. Cái chết, vì vậy, không phải chỉ liên quan đến xác. Nó là một biến cố khác thường cho con người toàn thể. Sự cứu độ cũng vậy, tôn giáo nào chỉ cứu được một phần, hoặc hồn hoặc xác, thì cái phần được cứu ấy đâu phải là tôi trọn vẹn.

     Nhưng cái xác đã chết mất rồi, nó có thể sống lại không? Tất cả mọi nền văn hoá và mọi tôn giáo trên địa cầu đều nói rằng “không,” bởi vì họ không thể vượt qua được sự chết. Chỉ có Thiên Chúa giáo nói rằng “có”, bởi vì thân xác Đức Giêsu đã sống lại, cho nên Đức Giêsu là nguyên nhân của sự sống lại nơi con người. Tín lý này là nền tảng của toàn bộ đức tin cứu độ. Ai không tin nổi kẻ chết sống lại, người ấy không thể là tín đồ Kitô. Qua thánh Phaolô, giáo hội Kitô nói với thế giới: “Nếu Đức Giêsu không sống lại thì lời giảng của chúng tôi vô giá trị” (1Cor 15,12-20). Phải hiểu như thế mới khoát ly khỏi những niềm tin mập mờ về sự chết và sự sống đời sau. Chẳng hạn Platô cho rằng khi chết chỉ có thể xác tiêu tùng, linh hồn tự bản chất vẫn như cũ không hề hấn gì, nhóm Ngộ Giáo (Gnostics) cho thể xác là ma quỉ.

Xác Chúng Ta Sống Lại Như Thế Nào

     Đã có một sự thay đổi danh xưng phụng vụ về bản thể của cái sống lại. Kinh tin kính của các thánh Tông Đồ tuyên xưng rằng xác chết sống lại (resurrection of the body). Trong kinh tin kính của công đồng Nixê (Nicene, 325) và Constantinople ý niệm trên đã được đổi thành kẻ chết sống lại (resurrection of the dead). Tuy hai bản kinh có thể được dùng song song, nhưng Sách Giáo Lý Công Giáo chấp nhận cách diễn đạt “kẻ chết sống lại” gần với mạc khải hơn (GLCG 988).

     Theo Tân Ước chính Đức Giêsu đã giáo huấn về “kẻ chết sống lại” (Mc 12,18-27; Mat 22,31; Ga 6,40). Đồng thời Ngài cũng cho biết chính Ngài sẽ chết và sẽ phục sinh (Mc 8,31-33; 9,30-32; 10,32-34). Vào thời đó các Tông Đồ ngơ ngác hỏi nhau, “Kẻ chết sống lại nghĩa là gì?” (Mc 9,10). Sau biến cố phục sinh, ý niệm kẻ chết sống lại mới được các ngài hiểu rõ. Sau đó thánh Phaolô cố công khai triển ý niệm “kẻ chết sống lại” (Cv 23,6 ; 24,21; 26,23; Rm 1,4; ICor 15,12-42). Nhưng tội nghiệp, khi ông đến thành Athen loan truyền tin mừng ấy, dân chúng cười ầm lên bỏ đi (Cv 17, 32). Có lẽ vì vậy nên mặc dù biến cố phục sinh của Đức Giêsu có chứng cớ và nhân chứng, nhưng Giáo Hội vẫn cho đó là một mầu nhiệm đức tin.

     Đây không phải là lúc tranh luận giữa đức tin Công Giáo và kiến thức duy lý của con người. Kitô hữu chúng ta tin rằng cái chết không phải là một định mệnh vô bổ áp đặt từ bên ngoài. Sứ mạng cứu độ của Đức Giêsu là chủ điểm của sự sống lại của con người. Đó là sứ mạng của tình yêu. Con người được sinh ra không phải để bị trừng phạt nhưng để được yêu thương. Tuy thân xác thường được ví như khí cụ của linh hồn, thực sự thân xác chia sẻ với linh hồn mọi phút của sự sống và mọi dự phóng của tương lai. Thiên Chúa muốn con người sống vinh hiển với Ngài, vì vậy thân xác cũng có mục đích trở về cùng Ngài. Xác Đức Giêsu phục sinh chứng tỏ Thiên Chúa yêu quí tác phẩm sáng tạo của Ngài. Ngài không bỏ rơi bất cứ gì mà Ngài yêu quí. John Polkinghorne nói, thân xác Đức Giêsu cấu tạo bởi những hạt bụi vũ trụ. Khi xác Chúa phục sinh, Ngài đã khiến không những nhân loại mà còn cả vũ trụ cũng được ơn phục sinh.[3] Tôi tin rằng cách diễn tả “hạt bụi vũ trụ” đã giúp trí óc chúng ta tiếp cận, một cách rất hiện thực, với dòng sinh mệnh của ơn phục sinh vốn là mầu nhiệm đức tin.

    Đức Giêsu phục sinh đã mặc khải cho chúng ta biết xác-hồn-thần là một nhất thể bất phân ly. Một điều nữa là phục sinh không phải là tình trạng chết giả, hoặc đã chết rồi được hồi sinh. Phục sinh là chiến thắng sự chết qua quyền năng của Chúa Thánh Thần. Vì vậy xác phục sinh thấm nhuần sự sống siêu việt của Thiên Chúa với những phẩm chất sáng tạo mới. Thể xác sống lại tiến hóa để đồng dạng với phẩm tính siêu việt của xác Đức Giêsu (Phi 3,20-21). Xác mới có đặc tính bất tử, sáng láng, đẹp đẽ, và siêu việt (1Cor 15,43, 41-42, 44). Để cụ thể hóa sự biến dạng Thánh Phaolô ví phàm thân như hạt mầm. Khi hạt mầm gieo xuống nó sẽ hóa thân để tái sanh ra một dạng mới, “Gieo xuống là xác khí huyết, sống lại là xác thần thiêng” (1cor 15,44). Lần khác thánh ví thân xác như cái lều cũ, cái áo rách. Ta sẽ sống trong căn nhà mới và được mặc áo mới. “Quả chúng ta đã biết, căn lều trần thế này bị hư hoại, thì ta có căn nhà vĩnh cửu chốn thiên đường không do phàm trần làm ra nhưng do Thiên Chúa tác tạo. Khi thân xác hư hoại, ta sẽ có thân thể thần thiêng như mặc chiếc áo mới.” (2Cor 5,1-2).

    Quy chiếu sự sống lại của Đức Giêsu làm mẫu gốc, chúng ta biết thể xác Đức Giêsu sống lại trên thân vẫn mang những thương tích cũ như lỗ đinh ở tay, ở chân, và vết đâm ở cạnh sườn. Tuy có thân xác như cũ, nhưng Đức Giêsu có thể đi xuyên qua tường vào nhà, trong khi cửa ra vào đóng kín và khóa chặt. Như vậy thân xác phục sinh không còn lệ thuộc vào những định luật của vũ trụ. Cái chết đến với thể xác như một nhiệm màu. Để rồi xác được tái tạo trong nguồn sống mới thấm nhuần ánh sáng vinh quang của Thiên Chúa. Một vài dẫn chứng có thể nêu ra ở đây. Khi ông Môisen lên núi đối diện với Thượng Đế để nhận mười điều răn, mặt ông biến dạng sáng láng. Lúc ông xuống núi mọi người đều sửng sốt lấy làm lạ không nhìn ra ông. Khi Đức Giêsu dẫn Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi Tabô, Đang khi cầu nguyện, Ngài biến dạng sáng láng. Cả áo Ngài cũng sáng chói. Sau khi phục sinh Đức Giêsu tìm gặp các môn đồ. Ngài đi với họ cả một buổi chiều, ngồi ăn cùng bàn với họ, nhưng họ không nhận ra Ngài. Sau đó nhờ cách bẻ bánh mà họ nhận ra Thầy. Rõ ràng khi con người đối diện với Thiên Chúa, xác con người đổi dạng phản chiếu ánh vinh quang của Thiên Chúa khiến ngay cả người quen cũng không nhận ra.

Ý Nghĩa Sự Chết Và Sự Sống

     Kitô giáo không coi cái chết là một diễn biến tự nhiên của luật hữu sinh hữu hoại. Cái chết có một nguyên nhân sâu xa trong lịch sử. Nó là hậu quả của Nguyên Tội (Rom 5,12). Như vậy cái chết của thể xác là một án phạt cho tội lỗi của con người. Tuy nhiên sau biến cố phục sinh của Đức Giêsu, nguyên tội được rửa sạch, từ đó Công Giáo nắm giữ một quan niệm rất tích cực về cái chết. Vũ trụ đổi mới trong cảnh sáng tạo mới bắt đầu từ buổi sáng Đức Giêsu phục sinh. Với lối nhìn như vậy Kitô giáo không bi thảm hóa cái chết thể xác. Chết chỉ là kết thúc cuộc lữ hành, một biến cố mầu nhiệm để trở về cùng chúa. Khi thánh Phaolô bị tù, ông tâm sự rằng ông ráng sống vì lợi ích cho anh em tín hữu. Còn trong lòng, ông chỉ mong chết để trở về với Đức Giêsu (Phi 1,20-24). Do sự phục sinh của Đức Giêsu cái chết có một ý nghĩa mới, đó là một mối lợi.

     Cũng từ đó Kitô hữu có một lối nhìn mới về cánh chung. Ngày tận thế không thuần túy mang ý nghĩa Đức Giêsu trở lại trần thế để phán xét con người. Nếu chỉ ngưng đọng trong mối lo sợ ấy dễ đưa tới sự hiểu lầm rằng trong hiện tại Đức Giêsu đã bỏ rơi chúng ta. Tin vào sự sống lại của Đức Giêsu có nghĩa là tin rằng Ngài đang ở với chúng ta hằng ngày cho đến tận thế. Ngày cánh chung chỉ là ngày viên mãn cuộc sáng tạo. Đức Giêsu lộ diện để chúng ta được diễm phúc thấy Ngài nhãn tiền. Như vậy sự sống không phải nằm trong tương lai nhưng đã bắt đầu từ ngày chúng ta chịu phép rửa. Vào giây phút rửa, phần cái tôi tội lỗi chết đi, và cái tôi mới tái sinh. Từ đó sống là trạng thái kết hợp với Đức Giêsu, Thiên Chúa của sự sống[4]

     Điều đó cũng có nghĩa cái chết không phải bắt đầu khi ta lìa trần. Nếu sống mà không có sự kết hợp với Đức Giêsu, ngay bây giờ đã là chết. Có một người muốn thành đệ tử của Đức Giêsu, anh ta thưa với Ngài, “Tôi xin theo Thầy, nhưng cho tôi về chôn cất cha tôi trước đã.” Đức Giêsu trả lời, “Cứ theo Ta hãy để kẻ chết chôn cất người chết của chúng” (Luc 9,57-60). Một người đã chết rồi còn chôn kẻ chết khác thế nào được. Ấy thế mà vẫn được. Đức Giêsu không nói về cái chết thể xác, nhưng là cái chết tâm linh khi xa lìa Thiên Chúa. Thiên Chúa là sự sống. Ai không nhận sự sống từ nguồn mạch Thiên Chúa là đã chết rồi. Cái thể lý sinh động của họ chỉ là cái thây ma biết đi. Hãy để những thây ma biết đi chôn cất thây ma của nhau. Cái Kitô hữu chúng ta phải chôn chính là cái chết. Khi cái chết không còn, chúng ta mới có sự sống.

     Hiện tại “ngày sau hết” chưa tới. Những người trên trần thế đang sống trong thời gian chờ đợi. Những người qua đời đang chờ đợi. Các thánh trên thiên đàng cũng đang chờ đợi. Tất cả mọi Kitô hữu còn sống hay đã lìa trần hợp thành một hội thánh duy nhất và cùng chờ đợi cái ngày nước Chúa trị đến. Ngày dưới đất cũng như trên trời. Khi ấy Thiên Chúa chiến thắng mọi sự và chương trình cứu độ hoàn tất. Đức Giêsu lộ diện với loài người. Xác chết được tử thần trả lại. Xác hồn thần của mọi người tái hợp. Rồi những ai có tên trong sổ hằng sống sẽ được Đức Giêsu đưa về trời, sống vĩnh cửu trong Vương Quốc Thiên Chúa (Kh 20,11-15)

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

HAI PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO
(Suy niệm Mt 23,1-12)

Nguyễn Chính Kết

            Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu mô tả chân dung của giới chức sắc đạo Do Thái thời Ngài. Ngài nhấn mạnh đến khuynh hướng vị kỷ, ham danh, tự tôn tự đại, chuộng hình thức bề ngoài nhưng rỗng tuếch bề trong của họ. Để rồi Ngài yêu cầu các môn đệ, những người theo Ngài, phải có một thái độ ngược lại: tự xóa mình, quên mình, coi mình không là gì cả, để dấn thân hết mình phục vụ tha nhân. Như thế, bài Tin Mừng này mô tả hai phong cách: phong cách của những người lãnh đạo trong Do Thái giáo thời Ngài, và phong cách mà người lãnh đạo trong tôn giáo mới của Ngài phải có. Ngài mong những người lãnh đạo trong tôn giáo mới của Ngài đừng đi vào vết xe cũ đã đổ của những người đi trước. Sự khác biệt căn bản giữa hai phong cách ấy, một đằng là khuynh hướng vị kỷ của giới lãnh đạo cũ, và đằng kia là khuynh hướng vị tha mà giới lãnh đạo tôn giáo mới phải có.

      1. Khuynh hướng đặt nặng «cái tôi» của giới chức sắc tôn giáo cũ

            Trong môi trường tôn giáo, trong các hoạt động tôn giáo, các kinh sư và những người Pharisêu xưa có một động lực rất căn bản là «vì mình», coi «cái tôi» của mình là quan trọng nhất, muốn quy tất cả vinh quang, uy tín, quyền bính, quyền lợi về cho mình, để được sống vinh quang và an nhàn trên đầu trên cổ mọi người. Đang khi thực chất về mặt tâm linh của họ thì chẳng có gì, tất cả chỉ là bề ngoài. Họ giảng dạy những điều hay lẽ phải vì đó là chức năng của họ, nhưng họ giảng là để người khác nghe và thực hiện, chứ chính họ thì chẳng thèm làm. Vì thế, Đức Giêsu khuyên các môn đệ: «Tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng làm theo, vì họ nói mà không làm. Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì không buồn động ngón tay vào» (Mt 23,3-4).

            Đức Giêsu tố cáo tính thích hư danh của họ, thích «cái tôi» của mình được đề cao, ca tụng, được phình to lên trước mặt mọi người: «Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là “rápbi”» (Mt 23,5-7). Ai không chào hỏi hay xưng hô với họ như thế thì họ khó chịu ra mặt. Điều họ ham thích nhất là quyền bính: có quyền là có thể ép buộc người khác làm theo ý mình, có thể chi phối người khác, được mọi người quỵ lụy, xin xỏ, cầu cạnh, nể sợ. Họ thích mọi người phải nghe lời họ, làm theo ý họ, không thích nghe ai hay làm theo ai cả, vì thế, họ thường bỏ ngoài tai tất cả những góp ý của người khác.

            Với một tâm thức như thế, mọi việc làm của họ dù tốt đẹp hay vĩ đại đến đâu, đều trở nên những con số không to tướng trước mặt Thiên Chúa. Vì chỉ những việc làm nào được thúc đẩy hay phát xuất từ tình yêu thương chân thực mới có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Họ chỉ có thể được đánh giá cao trước người đời chứ không phải trước Thiên Chúa. Và như thế, họ đã được người đời thưởng công rồi (x. Mt 6,2.5), họ chẳng còn công trạng gì trước Thiên Chúa nữa. Việc truyền giáo của họ chỉ đạt được những thành quả hời hợt bên ngoài, không có chiều sâu tâm linh bên trong.

      2. Khuynh hướng từ bỏ «cái tôi» của người theo Chúa

            Để theo Ngài, Đức Giêsu đưa ra hai điều kiện rõ ràng: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo» (Mt 16,24). Như vậy, điều kiện căn bản nhất của những ai muốn theo Chúa là từ bỏ chính mình, nghĩa là coi nhẹ «cái tôi» của mình; và điều kiện kế đó là sẵn sàng chấp nhận hy sinh, thiệt thòi, đau khổ vì tình yêu đối với Ngài và tha nhân. Một khi đã thật sự từ bỏ mình, coi nhẹ «cái tôi» của mình, thì không còn ham được ca tụng, đề cao, không còn ham những hư danh ngoài đời, không còn thích được người ta gọi mình bằng những danh này hiệu nọ, và cũng không còn ham hố quyền bính nữa. Ngài khuyên những người theo Ngài: «Phần anh em, đừng để ai gọi mình là “rápbi”» (Mt 23,8a).

            Khi ta sống một cuộc đời thánh thiện, được mọi người cảm phục, thì một cách tự phát, họ muốn biểu lộ sự kính trọng cảm phục ấy với ta bằng cách gọi ta là «rápbi». Ngay cả trong trường hợp này, Ngài cũng khuyên ta đừng để họ gọi mình như vậy. Nghĩa là Ngài muốn ta chủ động khuyên họ đừng gọi mình như thế. Lý do: «Vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau» (Mt 23,8b). Ngài muốn người theo Ngài, dù có cao cả đến đâu, cũng tự hạ mình xuống ngang với mọi người, coi mọi người là anh chị em ngang hàng với mình. Có thế ta mới tôn trọng họ, lắng nghe họ, không muốn áp đặt họ phải nghe mình, phải làm theo ý mình. Nếu họ có nghe lời mình thì là vì họ nhận ra lẽ phải ở nơi mình, và họ làm theo lẽ phải ấy chứ không phải làm theo ý mình vì nể nang hay vì sợ mình phật lòng. Ý tưởng này được Đức Giêsu nói rất rõ trong câu: «Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo là Đức Kitô» (Mt 23,10). Làm sao để họ quan tâm nghe theo ý muốn của Thiên Chúa, người lãnh đạo của họ và của ta, được tỏ lộ trong lương tâm họ, chứ không phải nghe theo ý muốn của ta. Làm sao để mọi người nhận ra không phải ta lãnh đạo, mà là Đức Kitô lãnh đạo nơi con người ta. Phải có tinh thần như Gioan Tẩy Giả: «Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi» (Ga 3,30); và ý riêng của ta cũng phải lu mờ đi để thánh ý của Ngài được nổi bật lên.

            Khuynh hướng từ bỏ «cái tôi» ấy không chỉ cần áp dụng trong Giáo Hội, giáo xứ, giữa giáo sĩ với giáo dân, mà trong tất cả mọi đoàn thể, tập thể, gia đình, giữa giáo dân với giáo dân, giữa người lãnh đạo với tập thể mình lãnh đạo. Phải làm sao để người ta thấy chính Đức Kitô đang lãnh đạo gia đình, tập thể, cộng đoàn… chứ không phải ta lãnh đạo. Cần ý thức rằng bản thân ta và ý của ta không là gì cả, mà Đức Kitô và thánh ý của Ngài mới là quan trọng. Hãy coi chừng, nếu không có ý thức phản tỉnh cao, thì khi điều hành cộng đoàn, rất nhiều trường hợp ta đặt bản thân ta cao hơn cả Thiên Chúa, và coi ý riêng của ta quan trọng hơn thánh ý Ngài. Mà thánh ý Ngài, trong rất nhiều trường hợp, được biểu lộ qua ý kiến hay ý muốn của đa số trong cộng đoàn: «Ý dân là ý Trời» (Vox populi, vox Dei). Nhưng nhiều khi ta lại ỷ vào quyền lãnh đạo của mình phủ nhận mọi ý kiến của người khác, để áp đặt ý riêng của ta lên ý của Thiên Chúa hay ý của đa số. Tất cả chỉ vì ta đã coi «cái tôi» của mình quá quan trọng, nghĩa là ta chưa thật sự «từ bỏ chính mình» như Đức Giêsu đòi hỏi những người theo Ngài.

      3. Một nghịch lý rất thực tế

            Trong đời sống tâm linh, nếu ta hồi tâm suy nghĩ, ta thấy ngay chân lý này: ta càng quan trọng hóa «cái tôi» của mình thì tâm linh ta càng trống rỗng Thiên Chúa, trống rỗng sức mạnh và tình yêu của Ngài. Giữa «cái tôi» của ta và sự sống của Thiên Chúa trong ta luôn luôn tỷ lệ nghịch với nhau. Cái này càng lớn lên thì tất nhiên cái kia càng nhỏ đi, và ngược lại. Nếu sự sống của Thiên Chúa trong ta quá ít do «cái tôi» của ta quá lớn, thì cách hành xử của ta sẽ trở nên y hệt như cách hành xử của các kinh sư và Pharisêu xưa. Ta sẽ là bản sao rất trung thành của họ, cho dù ta có dáng vẻ bên ngoài thánh thiện hay đạo mạo tới đâu, cho dù chức vụ trong tôn giáo của ta có cao vời tới đâu. Tất cả những gì tốt đẹp mà người ta thấy nơi ta chỉ hoàn toàn là bên ngoài, rỗng tuếch chiều sâu bên trong. Lúc đó ta cần lắng nghe lời cảnh báo của ngôn sứ Malakia trong bài đọc 1: «Hỡi các tư tế, nếu các ngươi không nghe và không lưu tâm tôn vinh Danh Ta, các ngươi đã đi trệch đường và làm cho nhiều người lảo đảo trên đường Luật dạy. Ta sẽ làm cho các ngươi đáng khinh và ra hèn mạt trước mặt toàn dân, vì các ngươi không tuân giữ đường lối Ta» (Ml 1,14b–2,2b.8-9). Lúc đó, lời của Đức Giêsu sẽ được ứng nghiệm: «Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên» (Mt 23,12).

***

            Điều kiện để theo Đức Giêsu là «phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo» (Mt 16,24). Nhưng trong thực tế đời sống, nhiều khi ta vừa muốn theo Ngài, lại vừa muốn giữ «cái tôi» của ta thật lớn, vừa muốn được hưởng thụ mọi ưu đãi của trần gian. Như thế ta có còn là môn đệ đích thực của Ngài nữa không? Xin Thiên Chúa giúp ta thành thật và can đảm nhận ra sự thật nơi mình, để ta cải thiện thành môn đệ đích thực của Đức Giêsu, Con Ngài●

Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 

LINH ĐẠO
 

LINH ĐẠO MẸ TÊRÊXA CALCUTTA

(tiếp theo Maranatha_62)

Hoàng Văn Phúc

IV. HOA TRÁI CỦA TÌNH YÊU LÀ PHỤC VỤ

1. Việc phục vụ của các nữ tu

Tình yêu đã đưa Thiên Chúa từ cõi linh thiêng đi vào lịch sử nhân loại. Người đã nhập thể làm người, chia sẻ phận người và để phục vụ con người. “Con người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc muôn người” (Mt 20, 28). Tình yêu đích thực dẫn đưa chúng ta đến việc phục vụ.

Mẹ Têrêxa đã khẳng định như thế : “Việc làm của cầu nguyện là tình yêu, và việc làm của tình yêu là phục vụ. Hãy cố cho đi không điều kiện bất cứ điều gì họ cần ngay lúc đó. Điểm chính là làm cái gì đó, dù nhỏ, và cho thấy sự chăm sóc của bạn qua những công việc mất thì giờ. Điều này đôi khi có nghĩa làm điều gì đó về phần thể xác (như chúng tôi chăm sóc người bệnh và hấp hối) hay đôi khi có nghĩa hỗ trợ tinh thần cho những người cô đơn. Nếu một bệnh nhân muốn xin thuốc, hãy cho họ thuốc; nếu họ muốn được an ủi, hãy an ủi họ.

Tất cả chúng ta là con cái Thiên Chúa nên thật quan trọng để chia sẻ quà tặng của Người. Đừng lo lắng tại sao có nhiều vấn đề trên thế giới này - chỉ cố đáp ứng nhu cầu của người khác. Có người nói với tôi rằng nếu chúng ta làm việc bác ái cho người khác thì nó sẽ giảm trách nhiệm của chính phủ đối với người nghèo và người cần giúp đỡ. Chính tôi không lưu tâm đến điều này, vì chính phủ thường không ban phát tình yêu. Tôi chỉ làm những gì tôi có thể : phần còn lại không phải là việc của tôi.

Thiên Chúa quá tốt với chúng ta : những công việc của tình yêu luôn luôn là phương tiện được gần Thiên Chúa hơn. Hãy xem những gì Chúa Giêsu đã làm khi Ngài sống ở trần gian ! Ngài chỉ làm những việc tốt. Tôi nhắc nhở các chị nữ tu rằng ba năm của cuộc đời Chúa Giêsu dùng để chữa lành những người đau yếu và cùi hủi, trẻ em và người khác; và đó chính là những gì chúng ta đang làm, rao giảng Tin Mừng qua hành động của chúng ta. Điều tiên quyết của chúng ta là phục vụ, và đó là sự phục vụ có thật, hết lòng mà chúng ta cố gắng thi hành và cho đi.

Chúng tôi cảm thấy rằng những gì chúng tôi làm chỉ là một giọt nước trong đại dương, nhưng nếu không có giọt nước đó thì đại dương cũng sẽ bớt đi. Tỉ như, chúng tôi mở trường dạy các trẻ em nghèo biết yêu quý việc học và biết giữ gìn sạch sẽ. Nếu chúng tôi không làm vậy, các em sẽ lang thang ngoài đường.

Nếu cần có tổ chức để săn sóc tốt hơn, tùy theo hoàn cảnh, thì chúng tôi khuyên nên làm như vậy, nhưng vì chúng tôi phục vụ những người nghèo nhất nên chúng tôi không bao giờ quay mặt đi nếu họ cần sự giúp đỡ.”

Để thấy thêm những kết quả của tình yêu trong hành động, Mẹ đề nghị chúng ta trước hết hãy thử chút công việc của Dòng Thừa Sai Bác Ái, rồi chia sẻ cảm nghiệm với một số người tình nguyện giúp Hội Dòng của Mẹ. Trong cách này, chúng ta sẽ thấy hiệu quả của việc làm một điều gì đó, dù nhỏ, có thể có tác dụng - không chỉ trên người được nhận, mà còn trên người thi hành công việc săn sóc.

Ngày nay, công việc của Dòng Thừa Sai Bác Ái gồm nhiều loại và được chia ra như sau :

Việc Tông Đồ qua những lớp Giáo Lý, học hỏi Kinh Thánh, nhóm hoạt động Công Giáo, và thăm viếng bệnh nhân, người già và tù nhân.

Chăm Sóc Y Tế qua các nhà thương, bệnh viện người cùi, dưỡng đường cho bệnh nhân bị cùi, những nhà dành cho trẻ em mồ côi, những em bị tật nguyền tâm lý và thể lý, những người hấp hối và tuyệt vọng, người bị bệnh AIDS và ho lao, những trung tâm suy dinh dưỡng và những bệnh xá lưu động.

Việc Giáo Dục qua các trường tiểu học trong các khu nhà nghèo, lớp dạy may cắt, lớp thương mại, lớp cho người tàn tật, lớp mẫu giáo ở làng, và những chương trình giữ trẻ.

Dịch Vụ Xã Hội qua chương trình an sinh và giáo dục trẻ em; giữ trẻ; nhà cho người vô gia cư, người nghiện rượu và ma túy; nhà cho những người mẹ không chồng; nơi tạm cư ban đêm; và trung tâm dạy điều hoà sinh sản.

Dịch Vụ Cứu Tế qua những trung tâm thực phẩm và quần áo, nơi chúng tôi cung cấp thực phẩm khô, hay thức ăn nấu chín, và cứu trợ khẩn cấp cho gia đình.

Sau đây là một vài mô tả về công việc phục vụ của Hội Dòng Mẹ Têrêxa :

Chị Charmaine Jose diễn tả :

“Chúng tôi là những người bụi đời và công việc của chúng tôi là trên hè phố. Chúng tôi cầu nguyện khi rảo bước, khi đến thăm các gia đình, khi ở với đứa trẻ hấp hối, hay đem thuốc cho những người cần. Một chị mỗi ngày đi một con đường để xem những gì chúng tôi có thể giúp người nghèo. Chúng tôi cũng đến những ngôi làng là nơi rất ít phương tiện và mở những trung tâm y tế ở đó. Có khi chúng tôi phải săn sóc khoảng 2.500 bệnh nhân hàng tuần ở những nơi đó.

Nhiều chị được huấn luyện là y tá hay bác sĩ, nên họ thường làm việc ở nơi phát thuốc, và những người được huấn luyện chăm sóc trẻ em làm việc ở trung tâm. Chúng tôi cũng có trường cho các em bụi đời là những em bị ngược đãi và làm điếm. Chúng thường không có thức ăn, không được hỗ trợ, hay thuốc men. Bởi thế chúng tôi gom góp các em lại, dạy dỗ chúng, cho chúng ăn, cho chúng mặc, và ít lâu sau chúng tôi tìm người bảo trợ các em, để các em có thể đi học và hoàn tất việc học...”

Chị Dolores, người điều khiển Nirmal Hriday nói :

“Chúng tôi không bao giờ hỏi tại sao họ phải sống trên vỉa hè: chúng tôi không cần biết câu chuyện đời họ. Chúng tôi không xét đoán vì bất cứ tình cảnh nào của họ, vì tất cả những gì họ muốn là một chút tình yêu và săn sóc và họ thỏa mãn. Chúng tôi chỉ chăm sóc những người được đem đến cho chúng tôi và Thiên Chúa làm phần còn lại qua chúng tôi.

Khi một người được đưa đến trung tâm, họ thường được tắm rửa. Nhưng đôi khi có người quá yếu nên chúng tôi chỉ cho họ nằm, lau mặt cho họ, và tiếp nước biển. Đôi khi chúng tôi cần chăm sóc những người bị thương tích hay bị đi tiêu chảy. Nhiều người bị ho lao và bị xuất huyết - việc trước hết là phải cầm máu.

Có khi, người bệnh vừa nằm xuống giường là tắt thở. Có lúc, họ khỏe hơn, có thể ngồi trên giường hay đi đứng một chút, và một số về nhà, dù rằng nhà của họ chỉ là hè phố. Bởi thế một số về nhà và khi đau yếu họ lại trở lại. Chúng tôi bảo sẽ giữ cho họ một chỗ nằm.”

 Chị Theresina người gốc Hoa Kỳ, là Giám Đốc Vùng Anh Quốc và Ái Nhĩ Lan, cho biết những công việc ở Anh :

Khi các nữ tu bắt đầu công việc ở đây chúng tôi thấy cần giúp đỡ những người cô đơn sống nhờ trợ cấp xã hội. Chúng tôi thường thấy những cặp vợ chồng già không có máy sưởi trong mùa đông và chúng tôi cung cấp cho họ một máy sưởi, hay chúng tôi thấy họ sống không có bàn ghế vì lý do này nọ. Một số người rất đơn giản và họ không biết tiếp xúc với ai - đằng sau những bức tường là những người cô đơn rất cần được thăm viếng.

Trong những ngày đầu, chúng tôi thường ra ngoài ban đêm để đi tìm những người vô gia cư. Ngày nay, chúng tôi có những nơi tạm trú cho đàn ông và phụ nữ ở Kilburn, Luân Đôn; và ở Liverpool, phía Bắc Anh quốc, có nơi tạm trú cho các ông, các phụ nữ và một chỗ phân phát đồ ăn - và chúng tôi cũng cung cấp những việc mục vụ, thăm các gia đình, và chương trình giáo lý cho trẻ em. Đôi khi chúng tôi đưa họ đi chơi và tổ chức những dịp đặc biệt - tỉ như, chúng tôi đưa 320 người ở sáu vùng biển đi thăm Worth Abbey.

Khi Mẹ Têrêxa đến nhà dành cho các ông ở Kilburn tháng Ba năm 1994 ngài thấy hai phòng trống và nói, 'Những phòng này dành cho bệnh nhân bị bệnh AIDS.' Đó là lần đầu tiên tôi nghe về việc có thể nhận người bị bệnh AIDS nhưng Mẹ buột miệng nói lên - người được linh ứng, tôi nghĩ vậy, vì tôi nhớ vẻ mặt của người khi đứng trong căn phòng ấy và nói lên điều đó. Bởi thế tôi cố biến thành hiện thực và nó không dễ. Bây giờ, qua sự giúp đỡ của một người phục hồi bệnh nghiện rượu và ma túy, và của chính người bị bệnh AIDS, chúng tôi tiếp nhận những người không thể bảo vệ được chính họ.”

2. Công việc của các nam tu sĩ

Thầy Geoff là người Úc và kế vị người sáng lập General Servant là Thầy Andrew, đứng đầu các Thầy Dòng Thừa Sai Bác Ái chia sẻ:

“Ở Los Angeles công việc chính của chúng tôi là trông coi một trung tâm cho những người di dân bất hợp pháp gốc Mễ, nhiều người sống ở vỉa hè. Đây là chỗ mà, ba ngày một tuần, từ 75 cho đến 100 thanh niên, tuổi từ mười bốn đến mười tám đến ăn, tắm rửa, chữa bệnh và cắt tóc - và nghỉ ngơi. Trong một căn nhà dành cho các ông, chúng tôi săn sóc 8 người bị tàn tật thể lý và tâm lý.

Ở Tokyo, Nhật bản, chúng tôi làm việc với những người say rượu trên đường phố. Đây là việc toàn thời gian. Thỉnh thoảng có đánh nhau và mọi sự có thể rắc rối - chúng tôi cố giữ không có ẩu đả trong nhà chúng tôi. Những người Nhật say rượu thường đàng hoàng hơn so với những người ở các quốc gia khác. Ở Los Angeles chúng tôi có những thầy làm việc với các trẻ du đãng để giúp họ, và ở Hồng Kông chúng tôi làm việc với những người nghiện cần sa ma túy. Chúng tôi cũng làm việc ở những nơi nguy hiểm hơn - trong những thành phố như Bogota và Medellin ở Colombia, là nơi có nhiều bạo động xảy ra. Chúng tôi chứng kiến nhiều vụ ẩu đả nhưng tránh không can dự vào. Dân chúng biết công việc của chúng tôi nên họ không quấy rầy chúng tôi.

Công việc của chúng tôi rất khác với những tổ chức khác. Điều đó không có nghĩa là cái này thì tốt hơn cái kia, nhưng có nhiều tổ chức nỗ lực lo cho người nghèo và giúp họ thoát ra khỏi tình cảnh này, cái tình cảnh đầu tiên đã khiến họ nghèo nàn. Đây là nỗ lực có ích, nhất là qua sự giáo dục, nhưng nó có thể trở thành vấn đề chính trị. Người nghèo mà Dòng Thừa Sai Bác Ái được mời gọi để phục vụ là những người, bất kể bạn làm gì cho họ, vẫn phải lệ thuộc cách nào đó vào người khác. Chúng tôi thường bị hỏi, 'Thay vì cho họ câu cá, sao thầy không dạy họ cách câu ca ?' và chúng tôi trả lời rằng đa số những người nghèo của chúng tôi không có sức để giữ cái cần câu. Và tôi thường nghĩ rằng đây là chỗ bị hiểu lầm - và đôi khi bị chỉ trích - về công việc của chúng tôi, vì không có sự phân biệt rõ ràng giữa loại người nghèo của chúng tôi và của người khác.

Phát triển thì chắc chắn có giá trị nhưng phát triển không phải là những gì người nghèo cần. Nếu một người đang chết thì không còn thì giờ để phân tích tại sao hắn lại ở trong tình trạng này và kể ra cả một chuỗi chương trình có thể ngăn ngừa được. Điều chúng tôi muốn nói là, 'Hãy để người khác giải quyết vấn đề đã đưa họ rơi vào tình cảnh này, nhưng để chúng tôi giúp họ chết trong an lành và xứng đáng.' Trong nhiều trường hợp, chúng tôi cung cấp sự chăm sóc ngắn hạn hơn họ và đơn giản nói rằng : Người này cần giúp đỡ - chúng ta có thể làm gì giúp họ ? Nếu những thay đổi chính trị làm giảm bớt tình trạng này trong tương lai thì chúng tôi rất hân hoan, nhưng chúng tôi không có thì giờ hay sức lực, hay thường là khả năng, để có thể làm được nhiều. Thiên Chúa, trong sự khôn ngoan của Người, nối kết tất cả lại. Người biết không một ai có thể giải quyết được mọi hoàn cảnh, bởi thế Người thúc dục người này làm việc trên vài lãnh vực này và người kia làm việc trên những lãnh vực kia.

3. Sức lôi cuốn của tinh thần phục vụ

Mẹ Têrêxa cho rằng bất cứ ai cũng đều có thể làm những điều tốt đẹp cho Thiên Chúa bằng cách đến với người nghèo trong chính quốc gia của họ. Dân chúng đầy tình yêu Thiên Chúa, muốn thi hành những công việc yêu thương. Đây là mong ước mà Thiên Chúa ban cho chúng ta - là phục vụ qua việc làm của tình yêu và được linh ứng bởi Chúa Thánh Thần để hành động khi được mời gọi.

Có rất nhiều người tình nguyện đến giúp công việc phục vụ của Hội Dòng Mẹ. Họ đến từ nhiều thành phần văn hóa và đức tin khác biệt. Tất cả những gì Mẹ đòi hỏi nơi họ là có thể cho đi tình yêu và thời giờ cho tha nhân.

Chị Dolores có nhiều kinh nghiệm làm việc với người tình nguyện và chị đã có lời khuyên sau : “Những người tình nguyện đến làm việc với chúng tôi phải có đầu óc cởi mở và sẵn sàng làm bất cứ việc gì, vì đó là cách Thiên Chúa muốn mọi người như vậy. Đa số công việc là phụ giúp các tu sĩ nam nữ trong tinh thần của Mẹ Têrêxa và Dòng Thừa Sai Bác Ái, vì phương cách của chúng tôi thì khác với thế giới bên ngoài hay những tổ chức bác ái khác. Cách của chúng tôi thì đơn giản và những người đến giúp đỡ và chia sẻ công việc phải cùng làm việc với chúng tôi. Thí dụ, khi tôi nói, 'Hãy đem bệnh nhân này đến bệnh viện' hay 'Hãy tắm cho họ,' thì người tình nguyện phải thi hành ngay vì chúng tôi không theo những quy tắc nhất định. Tuy nhiên, những người đến giúp chúng tôi họ thật siêng năng làm việc.”

Chị Theresina ở Luân Đôn đồng ý : “Người tình nguyện giúp đỡ rất nhiều cho chúng tôi và chúng tôi có thể trông nhờ vào họ cho đến mức độ nào đó, dù rằng chúng tôi luôn sẵn sàng để tự tay làm mọi việc. Nếu chúng tôi cần người tình nguyện giúp đỡ thì chúng tôi cầu xin và nếu không có ai đến thì chúng tôi yêu cầu người nghèo giúp chúng tôi, và họ rất vui vẻ để thi hành. Chúng tôi luôn thu xếp trong phương cách đơn giản - chúng tôi nấu ăn và phân phát. Điểm chính yếu là tiếp tục phục vụ, giúp đỡ, và nếu có người tình nguyện thì công việc của chúng tôi có hiệu quả hơn.”

Sau đây là nhận xét của một người tình nguyện về việc bạn có thể vừa cho vừa nhận khi giúp đỡ. Cô Mary là một bác sĩ làm việc ở Kalighat trong một thời gian :

“Thử tưởng tượng bạn đến một chỗ nào đó và được bảo rằng, 'Hãy đem người này đi tắm.' Đó là điều kiện tiên quyết không thể tin được mà bạn không phải nói bạn là ai, những gì bạn phải có là ý muốn giúp đỡ. Đó là một trong những điều mà Mẹ muốn - để người ta tiếp xúc với người nghèo. Nó có lợi cho chúng ta cũng như cho người nghèo. Chúng tôi đã vượt qua sự chia cách lớn lao này, nó không phải là ‘hàng triệu’ người, nhưng là người bạn tiếp xúc với.”

4. Bác ái trong hành động

Những người tình nguyện trên khắp thế giới đến Calcutta là để giúp đỡ người đau yếu và người hấp hối, hay giúp đỡ những trẻ em ở trung tâm Shishu Bhavan. Họ là những người rất tốt đã cho đi cách rộng lượng. Nhiều người phải hy sinh nhiều khi đến đây, để chia sẻ trong việc yêu thương người nghèo, để cảm nhận sự gần gũi với Chúa Giêsu. Đối với một số người, sự có mặt ở đây đã cho họ cơ hội để tình yêu Thiên Chúa được sâu đậm hơn. Họ chia sẻ kinh nghiệm về những gì họ cảm nhận khi phục vụ người nghèo và những gì họ có thể làm cho chính cộng đồng của họ. Hãy thi hành một công việc nào đó cho người nghèo. Đó là điểm chính trong thông điệp của họ. Xin trích dẫn một vài trường hợp.

Donna: Tôi được huấn luyện thành y tá và tôi ngưng làm việc ở Scotland, là nơi tôi sống, để đi du lịch. Khi tôi đang làm việc ở Sydney thì ý định giúp đỡ những sứ vụ của Mẹ Têrêxa nảy ra trong đầu. Tôi không phải là người Công Giáo - tôi được lớn lên theo đạo Tin Lành Tô Cách Lan và cha tôi là người vô thần. Tôi quyết định sang nước Ấn là khi tôi xem phim Gandhi. Tôi không thích thú lắm về lịch sử nước Ấn cũng như triết lý của Gandhi, loại vị tha và đời sống khiêm tốn mà ông muốn nói lên. Tôi bị tò mò khi thấy sự liên hệ giữa triết lý của ông và của Mẹ Têrêxa.

Sau khi viết thư và được mời sang Calcutta, tôi bắt đầu làm việc trong nhà của các em, Shishu Bhavan. Ấn tượng đầu tiên của tôi về Nhà Mẹ và những nhà khác là sự đơn giản và bình an của những nơi này. Nó như thiên đàng ở giữa những ồn ào và hôi hám mà tôi thấy trên đường phố ở Calcutta.

Khi làm việc với Dòng Thừa Sai Bác Ái có thể nói là cuộc đời tôi đã có nhiều thay đổi - bạn không thể nào ở đó một thời gian khá lâu mà không có những biến chuyển trong đời. Tôi không còn kinh ngạc khi thấy những người nghèo và dơ bẩn, và bây giờ tôi thực tế hơn trong những gì tôi có thể làm cho người nghèo. Tôi biết rằng khi về nhà tôi sẽ tham dự vào công việc giúp đỡ người vô gia cư. Và sống với những nữ tu có đức tin mạnh mẽ đã an ủi tôi, giúp tôi thi hành công việc này - niềm vui và đức tin của họ đã lây lan. Dường như bất cứ ai đến đây và làm việc thiện nguyện đều cảm nhận một thông điệp và họ biến nó thành hành động khi trở về nhà. Hãy thi hành một điều gì, và đó là điểm chính của thông điệp, và chúng ta không phải tiếp tục đến Calcutta và cố trở nên giống như các nữ tu mới có thể làm được những điều ấy.

Judith: “Trong khi đang làm việc với người nghèo ở Melbourne, Úc Đại Lợi, trong căn nhà dành cho người nghiện rượu vô gia cư mà tôi đã làm việc trong suốt thời gian sinh viên đại học. Tôi rất vui thích nhưng cảm thấy rằng tôi muốn thử làm việc xã hội ở một quốc gia khác. Điều này tiềm tàng trong tâm trí tôi khá lâu cho đến khi có thời gian thuận tiện để rời Úc. Tôi đến Calcutta vì tôi biết về dòng nữ Loreto, tôi được các chị dạy học khi còn ở Úc. Đầu tiên tôi định dạy Anh văn, nhưng tình cờ tôi tiếp xúc với nhóm tình nguyện ở đây và trở thành người tình nguyện toàn thời gian với Dòng Thừa Sai Bác Ái Truyền Giáo. Tôi ở đây được sáu tháng và rất thích đường lối làm việc. Tôi đến Kalighat, nhà cho người hấp hối, và mỗi sáng vào lúc tám giờ Chị Dolores bắt đầu một ngày làm việc bằng phần chia sẻ. Mỗi người chúng tôi nói khoảng năm mười phút về cảm nghiệm, tư tưởng của mình để chia sẻ. Nó hoàn toàn tùy ý và hiển nhiên không có ý nghĩa tôn giáo - ở đây có đủ loại người với những quan điểm khác biệt - nhưng thời gian này thật cần thiết trước khi chúng tôi làm việc.

Bạn thật sự phải quên đi những gì bạn được huấn luyện vì đây không phải là bệnh viện, nó là một mái nhà. Sự chăm sóc thì rất căn bản, nhưng không thể cẩu thả. Có rất nhiều điều để cảm nghiệm, và đôi khi tôi thấy khiếp sợ những người bệnh tật. Sự khiếp sợ trùm lấp con người tôi cả tháng đến nỗi tôi không thể hoàn tất được những việc thật đơn giản, tỉ như săn sóc một người lở loét vì liệt giường lâu ngày. Tôi không thể băng bó vết thương cho họ vì tôi không còn xúc động. Tôi nghỉ ba tuần lễ - các chị hoàn toàn không phê bình tôi và khuyến khích tôi nghỉ ngơi, giữ gìn sức khỏe, vì họ biết công việc rất khó khăn. Khi trở lại làm việc, tôi làm việc liên tục trong ba tháng liền, ba tháng ấy là thời gian tốt đẹp nhất mà tôi có được khi ở đây. Tôi cảm thấy vui thỏa khi tự để mình phải đau khổ. Kalighat thật dị thường vì chúng tôi phải giáp mặt với sự sống và sự chết mỗi ngày.

Từ khi ở đây, đức tin Công Giáo của tôi được canh tân. Càng thăng tiến trong cảm nghiệm tâm linh Kitô giáo tôi càng cảm thấy sống động. Đó không phải là vấn đề đức tin, mà chỉ là nhận thức rằng một điều gì đó bên trong con người tôi đang thao thức. Và hàng ngày bị choáng ngợp bởi cái chết, tôi kinh hoàng trước phẩm giá của công việc phục vụ những người mà họ đến đây chỉ để được cơm ăn áo mặc, được đối xử như một con người sau khi họ đã sống như một con vật. Tôi thấy thật rõ ràng là khi những người này chết, họ có người bên cạnh, những người quanh họ là những người thật sự lo lắng cho họ, coi họ có sạch sẽ không, vân vân. Phẩm giá của người chết thật lạ lùng - đây là điều quan trọng về Kalighat.

Tôi biết là tôi sẽ tiếp tục làm việc với người nghèo bởi vì sự vui thỏa và hạnh phúc mà công việc phục vụ đem lại. Ở đây tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết, do đó tôi không thể nào quên được thời gian ở đây. Nhìn về quá khứ, tôi thấy mình bất hạnh biết chừng nào - tôi biết nhiều người có tâm trạng này, sự bất an này, và họ tự thuyết phục mình phải hài lòng với điều đó. (còn tiếp)

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_61)

Nguyên tác LAY SPIRITUAL TODAY của Lm. Jess S. Brena, S.J.

 

Linh Ðạo Giáo Dân Là Gì?

Người giáo dân bình thường hiểu như thế nào về cụm từ "Linh Ðạo Giáo Dân"?

Chúng ta sẽ không tranh luận xem trong số các câu trả lời cho câu hỏi nầy câu nào chính xác về mặt thần học. Nếu có một số cách diễn tả được chúng ta thu dụng, thì không phải vì đó là những cách diễn tả duy nhất đúng, mà vì đó là những giải đáp hay những định nghĩa "có thể làm việc được", có thể giúp mọi Kitô hữu có được một nhận thức rõ hơn về ơn gọi của mình, ơn gọi "kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, và không ngừng thánh hóa bản thân TRONG và XUYÊN QUA những kinh nghiệm phổ biến nhất của con người trong đời thường này."

DANH XƯNG GIÁO DÂN

Từ "Giáo dân" ở đây không hề có nghĩa tiêu cực (chữ Layman trong Anh ngữ vừa có nghĩa là mù tịt, không rành, không chuyên môn vừa có nghĩa là giáo dân), cũng không có là khinh bỉ (hiểu như là một công dân hạng hai trong dân Chúa). Một nhà thần học Giáo Dân đã phát biểu như sau:

"Vượt qua cái mặc cảm xấu hổ, người giáo dân phải cảm thấy vinh dự được gọi là GIÁO DÂN, và phải hãnh diện tuyên bố rằng mình là những người giáo dân đã ý thức bổn phận cao quý hàm chứa trong chức danh ấy của mình."

LINH ÐẠO CÓ MỘT HAY NHIỀU

LINH ÐẠO là "một cách biểu hiện tinh thần Kitô giáo của riêng mỗi người". Chỉ có một Ðức Kitô và một tinh thần Kitô giáo, nhưng có nhiều cách để sống tinh thần đó trong cuộc sống hằng ngày. Vì vậy, người ta hoàn toàn có đủ lý do để đi tìm không phải chỉ một Linh Ðạo.

Nếu thế, thảo luận về LINH ÐẠO GIÁO DÂN là một việc rất hữu ích và thích đáng. Linh đạo ấy có thể được mệnh danh là "linh đạo hoàn cảnh", nghĩa là, bước theo Ðức Kitô trong mọi hoàn cảnh sống cụ thể của người giáo dân. Như một phụ nữ đã diễn tả rằng khi ủi quần áo là lúc chị trò chuyện với Chúa và cảm thấy Ngài thực sự hiện diện với mình.

LINH ÐẠO GIÁO DÂN là cách thức một người giáo dân, trong hoàn cảnh cụ thể của mình, đáp trả.

"Lời mời gọi mọi Kitô hữu, bất luận trong hoàn cảnh sống nào, hãy đạt được sức sống Kitô hữu viên mãn và đạt tới Ðức Ái trọn hảo"

Tiếng gọi phổ quát ấy đã rõ mồn một:

"Chúa truyền cho Môsê hãy nói với cộng đồng con cái Israel rằng: "Hãy nên Thánh, vì Ta - Thiên Chúa của các ngươi - là Thánh" (Lv. 19,1-2)

MỘT SỐ NÉT TRONG LINH ÐẠO GIÁO DÂN

1. Một Linh Ðạo bám sâu vào cuộc sống trần thế

Ðó là một linh đạo bám sâu vào cuộc sống trần thế, chứ không phải là sự đào tẩu hay lẩn tránh thế gian, như tránh né những vấn đề xã hội, chính trị, kinh doanh, hối lộ, gia đình, công việc làm ăn và hồi hộp. Một trong những đặc điểm riêng của linh đạo giáo dân là linh đạo đó có liên hệ với đời sống thường ngày, - nghĩa là có qui chiếu cụ thể đến cuộc sống gia đình và nghề nghiệp, đến những thời gian nghỉ ngơi giải trí, những cuộc hội họp, những cú điện thoại v.v... Ðời sống của người giáo dân dệt bởi vô vàn thực tại và bởi các mối tương quan nhân loại đan kết nhau chằng chịt. Chính trong những tình huống cụ thể nầy, họ phải đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa với thái độ cầu nguyện và tôn thờ, nhờ đó khám phá ra Tạo Hóa là Thiên Chúa Hằng Sống luôn hiện diện đằng sau mọi thực tại. Chỉ bằng cách đó người giáo dân mới có thể vượt qua được sự phân lập cố hữu giữa Ðức Tin và cuộc sống.

Ðức Cha Don Silvester ở Sri Lanka đã tuyên bố:

"Giáo Hội cần phải cung ứng cho người giáo dân mẫu gương sống động là những vị thánh đã sống bậc sống của mình, làm cha làm mẹ, làm người lao động, làm chuyên viên trong các vấn đề phát triển và công tác xã hội. Cần phải dành tầm quan trọng hơn nữa cho những vụ điều tra loại nầy để tôn phong chân phước và tôn phong hiển thánh"

Hôm mồng 4 tháng 10 năm 1987, Ðức Thánh Cha đã tôn phong chân phước cho 3 giáo dân của thế kỷ 20, - một nam (23 tuổi) và hai nữ (26 và 15 tuổi). Vài ngày trước hôm khai mạc Thượng Hội Ðồng về Giáo Dân, Ngài cũng đã tôn phong Hiển Thánh cho một giáo dân Philippines và 3 giáo dân Nhật Bản.

"Cho tới bây giờ, sự thánh thiện của tu sĩ và giáo sĩ vẫn được đề cao hơn khiến nhiều người tưởng rằng sự thánh thiện giữa hàng ngũ giáo dân không có nhiều bằng nơi đời sống tu trì và nơi hàng giáo phẩm".

2. Một Linh Ðạo Nhập Thể

Một nét đậm khác trong linh đạo giáo dân là tinh thần nhập thể. Ðối với chúng ta, Ðức Kitô nhập thể không phải là một biến cố đã xẩy ra một lần là xong. Trái lại, Người vẫn tiếp tục nhập thể một cách nhiệm mầu nơi cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Thật là một ơn gọi mới, mỗi người được mời gọi nhập thể vào môi trường xã hội mình đang sống, như Ðức Kitô vậy. Vì thế, Linh đạo nhập thể là linh đạo đề cao một sự hiện diện có sức tác động. Linh đạo ấy mặc nhiên đã đánh giá tích cực về thế giới và về việc dấn thân vào thế giới để thánh hóa và cứu độ thế giới.

3. Một Linh Ðạo cho cuộc sống giữa lòng thế giới

Ðặc điểm chính trong vai trò của người giáo dâ