|
|
Tháng Các Linh Hồn và Lòng Thảo Hiếu– Lm. Vũ Xuân Hạnh Công Phúc: Con Số Không Đỏ Chói -Khổng Nhuận Linh Đạo Mẹ Têrêxa Calcutta - Hoàng Văn Phúc Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J. Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện – Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D. Lá Thư Gửi Anh Charles – Lm. Piô Ngô Phúc Hậu Về Chuyện “Tượng Đức Mẹ Khóc” - Sư Huynh Hoàng Gia Quảng Giọt Lệ Cho Ai? - Lang Thang Chiều Tím Xin Dạy Con Nhìn Mẹ Khóc… - Trần Duy Nhiên Hoa Tâm - Maria Magdalena Bích Vân Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả, Chúa Nhật sắp đến, ngày 13 tháng 11, Đức Hồng Y José Sarava Martins, bộ trưởng Thánh bộ phong thánh, sẽ chủ tế thánh lễ phong chân phước cho anh Charles de Foucauld (1858-1916). Nếu Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II không qua đời, thì thánh lễ này đã được cử hành vào ngày Lễ Chúa Thánh Thần năm nay (xem: Chứng Nhân Thần Khí, Maranatha 44). Theo lời yêu cầu của những người trình hồ sơ phong thánh, sau thánh lễ, Tòa Thánh cho phép ghi chữ ‘anh’ (frère) thay vì ‘cha’ (père) trước tên của vị linh mục chân phước này, đúng như nguyện vọng suốt đời anh: Chân Phước Charles De Foucault, ‘anh’ Charles Chúa Giêsu, linh mục giáo phận. Cũng trong thánh lễ này, hai nữ tu người Ý cũng được nâng lên hàng chân phước, đó là Maria Pia Mastena (1881-1951), sáng lập dòng nữ tu Nhan Thánh, và Maria Crocifissa Curcio (1877-1957), sáng lập dòng Carmen thừa sai Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Qua việc phong chân phước này, văn phòng Phụng Vụ tòa thánh nhấn mạnh: “Các tôi tớ Chúa mà Giáo Hội công bố là chân phước lại gửi đến cho mỗi Kitô hữu một lời mời gọi đi theo con đường của Chúa, với tư cách là con cái Sự Sáng, trong tinh thần dấn thân rao giảng Phúc Âm Nước Trời.” “Đi theo con đường của Chúa!” Lời mời gọi liên lỉ này của Giáo Hội được lặp đi lặp lại mãi trong suốt quá trình lịch sử và đặc biệt từ Công đồng Vatican II: Sequela Christi! Cố nhiên, con đường của Chúa là con đường của Giáo Hội, vì Ngài đã thiết lập Giáo Hội để tất cả trở nên Một như ‘Cha và Con là một.’ Lễ phong chân phước được cử hành vào Chúa nhật Cung Hiến Đền Thờ Latêranô, tượng trưng cho sự hiệp nhất của mọi thành phần Giáo Hội lữ thứ, quanh vị đại diện thánh Phêrô. Cứ như thể ngay đầu tháng 11, phụng vụ đã hướng về Giáo Hội Trên Trời vào ngày 1, và Giáo Hội Ở Luyện Ngục vào ngày 2, thì một tuần sau, lại hướng đến Giáo Hội tại trần thế với lễ Cung Hiến Đền Thờ. Từ thuở xa xưa, người ta đã từng dâng hiến một nơi đặc biệt dành riêng để cầu nguyện. Tuy nhiên, đền thờ đầu tiên được dâng cho Thiên Chúa là đền thờ được vua Salomon xây dựng tại Giêrusalem vào khoảng năm 1000 trước Công nguyên. Lễ cung hiến kéo dài 8 ngày, và người Do Thái mỗi năm đều mừng lễ tưởng niệm ngày ấy. Vào những ngày đầu của kỷ nguyên Kitô giáo, Dân Chúa bị bách hại nên không có đền thờ, và chỉ cử hành các mầu nhiệm tại nhà tư nhân hoặc trong các hầm toại đạo. Mãi đến thế kỷ thứ IV, khi hoàng đế Constantinô ra sắc chỉ Milan để ngưng bắt đạo và cho phép xây dựng đền thờ thì Giáo Hội mới có nơi thờ phượng. Hoàng đế đã cho xây cất tại Rôma, trên lãnh địa của dòng họ Laterani, một đền thờ Kitô giáo, và đặt tên là Đền Chúa Cứu Thế, hay Đền thánh Gioan Latêranô. Hoàng đế tặng Giáo Hội đền này để làm nhà thờ chính tòa của Giáo Hoàng, và năm 324, Đức Thánh Cha Sylvestre đã dâng lễ cung hiến Thánh Đường Latêranô. Dù hiện nay Đức Thánh Cha không còn cư ngụ ở Latêranô, thì đền thờ ấy vẫn tượng trưng cho nhà thờ chính tòa của Giáo Hội Công giáo. Khi mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ, Dân Chúa qui tụ trong các Giáo Hội hiệu rằng mình hiệp nhất với Đền Thờ trên mọi đền thờ, ấy là chính Chúa Kitô. Đó là điều Ngài đã minh nhiên cho biết trong Phúc Âm. Khi các biệt phái yêu cầu Chúa Giêsu thực hiện phép lạ, Ngài bảo hãy phá bỏ ‘đền thờ’ và Ngài sẽ dựng lại trong 3 ngày. Sau này, qua biến cố Đức Giêsu chết đi và ba ngày sau sống lại, thì chính Ngài đã trở nên Đền Thờ Hằng Sống. Ngoài ra, trong dịp này, mọi Kitô hữu cũng được mời gọi suy nghĩ và trân trọng ‘Đền Thờ của Chúa Thánh Thần,’ là chính bản thân, để chúng ta trở nên xứng đáng thành Đền Thờ cho Chúa Ngự. Nhưng như lời Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong Ecclesia Dei: ‘Đức Mẹ là gương mẫu vẹn toàn của việc Sequela Christi và là Mẹ Giáo Hội.’ Vì thế con đường ngắn nhất đến với Chúa Kitô là đến với Đức Mẹ. Tuy nhiên đích đến của người con Giáo Hội là Chúa Kitô chứ không phải là Đức Mẹ, và chúng ta tôn kính Mẹ như là Mẹ Giáo Hội, Mẹ chúng ta, và là Đấng theo Chúa vẹn toàn. Trong những ngày vừa qua, có nhiều nguồn tin về “tượng Đức Mẹ khóc” tại quảng trường Công Xã Paris, trước Nhà thờ Chính Tòa Sài gòn. Những nguồn tin trên đã tạo ra nhiều phản ứng và dư luận khác nhau, đôi khi trái ngược nhau.” (thư ĐHY Phạm Minh Mẫn, 4/11/2005), vì thế Maranatha 64, ngoài những suy tư về tháng 11 dành để cầu nguyện cho các linh hồn, cũng dành nhiều trang để nói về hiện tượng này, nhưng nhất là nói đến vai trò của Đức Mẹ trong hành trình Sequela Christi. Và thông công cùng Giáo Hội, Maranatha vui mừng với Giáo Hội Việt Nam vì ngày 8 tháng 11 vừa qua, Toà Thánh đã bổ nhiệm linh mục Võ Đức Minh, tổng đại diện giáo phận Đà lạt, làm giám mục giáo phận Nha Trang. Xin tạ ơn Chúa và chúc mừng tân giám mục Nha trang, và nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho ngài và cho giáo phận của ngài. Trong tinh thần hiệp thông giữa giáo hội hữu hình và vô hình, chúng ta cùng dâng lên lời cầu trường kỳ của Giáo Hội lữ thứ: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến! MARANATHA
SUY
NIỆM THÁNG CÁC LINH HỒN và LÒNG THẢO HIẾU
Lm. Vũ Xuân Hạnh
Ca dao Việt Nam thì nhiếu lắm. Nó là sự đúc kết kinh nghiệm sống của bao nhiêu người qua bao nhiêu thế hệ mà thành. Dành riêng cho chữ hiếu, ca dao Việt Nam lại càng phong phú. Có lẽ chữ hiếu đứng hàng đầu trong ca dao Việt Nam. Bất cứ ai sinh ra làm người, nếu không từ giã cuộc đời quá sớm, đều có thể chứng kiến những cái chết của những người thân yêu của mình. Là người Công giáo, chúng ta mang trong mình dòng máu Việt Nam. Vì thế, nếu người Việt Nam đặt chữ hiếu lên hàng đầu, thì người Công giáo Việt Nam lại càng khắc sâu lề luật của Thiên Chúa trao ban một cách tuyệt đối về nghĩa đạo hiếu. Bởi nếu người Việt Nam, tự bản chất, vốn yêu mến chữ hiếu, thì người Công giáo nói chung và người Công giáo Việt Nam nói riêng, có lề luật Thiên Chúa ban làm hướng đạo cho mình. Chẳng hạn, khi khiển trách người Dothái về lối sống vụ hình thức, hay những kiểu làm dối trá nhằm tự đánh lừa lương tâm trong việc giữ đạo hiếu, Chúa Giêsu đã nói thẳng, nói dứt khoát: “Thiên Chúa dạy: 'Ngươi hãy thảo kính cha mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử'. Còn các ông, các ông lại bảo: 'Ai nói với cha mẹ rằng: Những gì con có để giúp cha mẹ đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thảo kính cha mẹ nữa'. Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà hủy bỏ Lời Thiên Chúa” (Mt 15, 4- 6). Với thái độ lấp liếm như thế, họ đã bị Chúa Giêsu vạch trần: “Hỡi những kẻ đạo đức giả kia, tiên tri Isaia đã nói rất đúng về các ông: “Dân này kính Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân'” (Mt 15, 7- 9). Bởi vậy, nếu sự hiếu thảo là trách nhiệm không thể thiếu của người Công giáo, thì tháng 11, tháng kính nhớ những người đã khuất mặt là dịp để ta ý thức lại bổn phận thảo hiếu của mình. Sự ý thức này đặt trên nền tảng của giới luật Thiên Chúa ban: I. ĐIỀU RĂN THỨ IV: THẢO KÍNH CHA MẸ “Ngươi hãy thờ kính cha mẹ để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi.” (Xh 20, 12). Đó là điều răn thứ IV trong Mười điều răn, Thiên Chúa ban cho trần gian qua ông Môisen. Lặp lại chính lề luật Thiên Chúa ban, trong kinh Mười Điều răn, Giáo Hội dạy: “Thứ bốn: Thảo kính cha mẹ.” Thứ tự của mười lề luật mà Thiên Chúa ban gồm hai phần rõ rệt (Xh 20, 2-17): - Phần thứ nhất, gồm ba giới răn đầu quy về Thiên Chúa (thờ phượng một Chúa duy nhất, tôn kính danh Người, dành ngày Sabbat để tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa). - Phần thứ hai là bảy giới răn còn lại hướng về loài người (thảo kính cha mẹ, tôn trọng sự sống, giữ thân xác thanh sạch, hãy sống công bằng, giữ tư tưởng trong sạch và không tham lam), thì điều răn thứ nhất trong phần thứ hai này, không nhắm bất cứ đối tượng nào khác nhưng chính là gia đình, là cha mẹ. Như vậy, với thứ tự như thế trong lề luật đến từ Thiên Chúa, cha mẹ chỉ đứng hàng thứ hai ngay sau Thiên Chúa. Cha mẹ cũng là đối tượng đầu tiên của tình yêu mà con người dành cho nhau. Vì thế, sau lòng kính mến đối với Thiên Chúa, con người phải dành sự kính tôn của mình đặc biệt đối với cha mẹ. Và còn hơn bất cứ một tình yêu dành cho đối tượng nào của loài người, tình yêu dành cho cha mẹ chính là thảo kính cha mẹ mình. Ta không buộc phải yêu ai bằng tình yêu thảo kính, ngoại trừ cha mẹ. Chỉ có cha mẹ mới xứng đáng được yêu kính bằng tất cả tình yêu thiêng liêng nhất, sâu đậm nhất xuất phát tận trái tim yêu thương của một người con. Đó là tình yêu thảo hiếu mà loài người phải sống. Không ai có quyền vượt qua lằn ranh của lề luật ấy. Bởi lề luật ấy là lề luật chính Thiên Chúa trao ban, nếu ta không tuân giữ, cũng đồng nghĩa với việc ta chống lại Thiên Chúa. Bất tuân lời của ai, là xúc phạm đến chính người đó. Không đón nhận Lời Thiên Chúa trao ban, là chính lúc ta xúc phạm đến chính Thiên Chúa, Đấng là tác giả của Lề luật. Đạo Công giáo trước hết là đạo của tình yêu. Hiếu nghĩa nằm trong bổn phận của lòng yêu thương này. Ta không được lãng quên trách nhiệm hiếu nghĩa với những ai đã có công sinh thành mình. Chỉ có sống hiếu, con người mới có thể có khả năng chứng tỏ tình yêu của mình dành cho nhau. Bởi nếu cha mẹ, và tất cả những ai có công dưỡng dục như chính cha mẹ mình, ta không thể yêu thương thảo hiếu, làm sao có thể nói đến tình yêu dành cho anh chị em quanh mình! II. TẤM GƯƠNG HIẾU THẢO CỦA CHÚA GIÊSU Rất nhiều lần Thánh Kinh, đặc biệt là các sách Tin Mừng cho thấy nơi Chúa Giêsu là cả một tâm hồn thảo hiếu. Đó là bằng chứng xác đáng và bài học cao cả cho mỗi người chúng ta. 1. Đối với Chúa Cha Chúa Giêsu luôn luôn làm tròn bổn phận của một người con và luôn luôn đẹp lòng Chúa Cha (Ga 8, 29). Chính Chúa Cha đã nhiều lần công khai tuyên bố Chúa Giêsu là Con yêu quý của mình, là Người Con luôn làm đẹp lòng mình (Mt 3, 17; 17, 5). Còn Chúa Giêsu đến trần gian là để làm việc của Chúa Cha, làm theo ý Chúa Cha: “Điều gì Chúa Cha làm, thì Người Con cũng làm như vậy” (Ga 19). Đó cũng là lý do mà Người ưu tiên làm việc của “Cha trên trời” (Lc 3, 49). Người đã không tìm vinh quang cho mình, nhưng chỉ tìm vinh quang Chúa Cha (Ga 7, 4). Bởi Chúa Giêsu nên một với Chúa Cha, vì thế, chỉ có ai hiệp nhất với Người, kẻ đó mới có Chúa Cha nơi mình, như cành nho gắn liền cây nho (Ga 15, 4; 17, 21- 23; 14, 20- 21; ). Tin Mừng còn ghi nhận Chúa Giêsu luôn luôn gặp gỡ và kết hợp với Chúa Cha trong sự cầu nguyện liên lỷ (Lc 6, 12; Mt 11,25- 26; 14, 23; 15, 23; 26, 36- 46; 26, 42- 44; 27, 46; Ga 6, 11; 11, 41; 12, 27- 28; 14, 16; 17, 1- 26 ). Nhiều lần Chúa Giêsu khẳng định, Người được Chúa Cha sai đến trần gian, vì thế Người tuân hành ý Chúa Cha. Chúa Giêsu đã không hành động, không giảng dạy, không xét đoán, không thực hiện điều gì mà không theo ý Chúa Cha và quy về Chúa Cha: “Vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 6, 38. 57; 8, 16). Hay đúng hơn, chính Chúa Cha hoạt động nơi Chúa Giêsu: “Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình” (Ga 14, 10). Chúa Giêsu luôn luôn chu toàn thánh ý Chúa Cha trong mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh. Người vâng phục thánh ý Chúa Cha cách tuyệt đối, dù đứng trước cái chết: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho Con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý Con mà xin theo ý Cha” (Mt 26, 39). Và cuối cùng, nhận lấy cái chết bi thương trên đồi Sọ, Chúa Giêsu đã chứng tỏ lòng yêu mến, sự thảo hiếu của Người đối với Chúa Cha lên đến cực độ (Ga 19, 28- 30). 2. Đối với Đức Maria và thánh Giuse. Mặc dù luôn luôn hướng về Chúa Cha, và ưu tiên thực hiện thánh ý Chúa Cha, Chúa Giêsu vẫn không quên nghĩa vụ thảo hiếu với người cha, người mẹ trần thế của mình. Thánh Luca đã từng ghi nhận chi tiết này: “Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nagiaret và hằng vâng phục các ngài” (Lc 3, 51). Về mặt nhân trần, là con của Đức Maria, và nghĩa tử của thánh Giuse, Chúa Giêsu rất mực yêu mến cha mẹ. Người là con ngoan trong gia đình Nagiaret. Người đã lao động cùng với cha mẹ trần thế để sinh sống. Là Thiên Chúa nhập thể, Chúa Giêsu hướng về Chúa Cha ngay trên trần thế, nhưng tình yêu đối với Chúa Cha nơi Chúa Giêsu, không bao giờ lấy mất tình yêu mà Người dành cho Đức Mẹ và thánh Giuse. Dù không được nhấn mạnh khía cạnh vâng phục và yêu thương thảo kính đối với cha mẹ trần gian, nhưng các Tin Mừng, trong khi ghi nhận cuộc đời và những hoạt động của Chúa Giêsu, đã hé mở cho ta một tình yêu lớn lao mà Chúa Giêsu dành cho Đức Maria và thánh Cả Giuse. Chẳng hạn, tại tiệc cưới Cana, chính Chúa Giêsu đã khẳng định: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến” (Ga 2, 4). “Giờ chưa đến”, nghĩa là lúc đó chưa phải đã đến lúc Chúa Giêsu công khai chứng minh quyền năng Thiên Chúa của mình, nhưng Chúa Giêsu vẫn vâng lời Đức Mẹ đề nghị: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2, 3), thực hiện phép lạ đầu tiên biến nước thành rượu ngon. Một người con thảo hiếu như Chúa Giêsu, chắc chắn không để mẹ mình phải hụt hẩng khi thốt lên lời đề nghị ấy. Dù không có gì liên can giữa “bà và tôi”, và dù “giờ” chưa đến, nhưng vì Đức Maria, vì lời khẩn cầu của Mẹ, Chúa Giêsu đã không từ chối, nhưng đã hành động. Trong cuộc đời công khai của mình, Chúa Giêsu vui lòng nhận lấy tước hiệu “con của bác thợ mộc Giuse, con của bà Maria” khi được người đồng hương gán cho mình (Ga 6, 42; 7, 27; Lc 4, 22- 23). Nhất là trên thánh giá, khi biết mình sắp trở về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu trối Đức Mẹ cho thánh Gioan và trối thánh Gioan cho Đức Mẹ, càng là bằng chứng cho thấy tình yêu thương của Chúa Giêsu đối với mẹ mình (Ga 19, 26- 27). Phải chăng hành động trao gởi này, là cách thức Chúa Giêsu muốn an ủi Đức Mẹ, muốn làm dịu đi những đau khổ, những cô đơn mà Đức Mẹ gánh chịu? Phải chăng Chúa Giêsu mong muốn bên cạnh người mẹ của mình, luôn luôn có một người con nâng đỡ, chở che luc ấy, cũng như trong những năm tháng già nua tuổi tác? Chúa Giêsu đã sống đạo hiếu hoàn hảo. Đến lượt chúng ta, bước theo Người, làm môn đệ của Người, chúng ta cũng hãy là những người con thảo hiếu với tất cả những ai có công sinh thành, dưỡng dục chúng ta. III. THÁNG CÁC LINH HỒN VÀ LÒNG THẢO HIẾU Dù đích thực là Thiên Chúa, tấm gương làm con của Chúa Giêsu vẫn sáng mãi và được nêu cao muôn đời để bất cứ ai, nếu sống trong cuộc đời này biết mình không vô cội vô nguồn, sẽ cố gắng nên tốt lành trong trách nhiệm làm con như Người. Có một điểm mạnh nơi Chúa Giêsu dạy ta một bài học lớn và ý nghĩa hơn bất cứ một bài học nào trong cuộc đời. Điểm mạnh đó là, dù là Thiên Chúa - Đấng hằng hữu từ đời đời, tác thành và cứu chuộc mọi loài - một khi đã chọn cho mình một người mẹ, người cha trần thế, Chúa Giêsu vẫn thảo hiếu với người cha, người mẹ ấy, huống hồ là chúng ta, những con người được sinh ra bởi những con người. Đàng khác, tháng các linh hồn, Hội Thánh dành kính nhớ tất cả những ai đã qua đời, nay còn đang được thanh luyện trong luyện ngục. Sự kính nhớ này, trước tiên hướng về những người thân thuộc, cách riêng là tổ tiên, ông bà cha mẹ của mình. Sự tưởng nhớ dành cho những người khuất mặt không còn có thể thể hiện bằng những nghĩa cử cụ thể “nâng khăn, sửa túi”, nhưng là sự tưởng nhớ tận đáy tâm hồn và lòng biết ơn sâu xa của chúng ta là những người còn sống. Là Kitô hữu, lòng kính nhớ các Đẳng linh Hồn nói chung và ông bà cha mẹ của mỗi một người, nay đã qua đời nói riêng, có thể thực hiện bằng cách thế mà Hội Thánh hướng dẫn và chấp nhận: dâng thánh lễ, lời cầu nguyện, lời kinh, tiếng ca, sự hy sinh, chay tịnh, bố thí, lãnh bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể và hòa giải của cá nhân hay tập thể, hay của mỗi gia đình để hưởng nhờ ơn Chúa, nhường lại cho ông bà cha mẹ đã ra đi và cho cả các Đẳng Linh Hồn. Chúa cần sự nỗ lực cộng tác của ta với ơn cứu độ của Chúa. Bởi Chúa không cứu độ loài người cách áp đặc, nhưng cần tâm hồn nhiệt thành của ta để ơn cứu độ trở thành giá trị cứu độ đích thực cho chính ta và cho anh chị em quanh mình. Không chỉ dừng lại nơi những người đã qua đời, tháng các Linh Hồn còn nhắc ta bổn phận thảo hiếu với chính những người thân còn sống cạnh bên ta. Sách Giáo lý Công giáo khi bàn về bổn phận của con cái, đã viết: “Lòng tôn kính của con cái đối với cha mẹ (hiếu thảo) phát xuất từ sự biết ơn đối với những người đã cho chúng được và nhờ tình yêu và lao công của họ, giúp chúng lớn lên về tầm vóc, khôn ngoan và ân sủng. 'Hãy hết lòng tôn kính cha con, và đừng quên ơn mẹ đã mang nặng đẻ đau. Hãy luôn luôn nhớ công ơn dưỡng dục sinh thành, công ơn ấy con lấy chi đáp đền cho cân xứng' (Hc 7, 27- 28)” (số 2215). Thực tế của đời sống hằng ngày, ta chứng kiến biết bao cuộc chia ly rơi nước mắt của bao nhiêu người, cũng có thể là của chính ta. Nhưng trong những giọt nước mắt ấy, chắc không thiếu gì giọt ân hận vì đã sống thiếu bổn phận nghĩa hiếu. Vô phúc cho tất cả những ai phải mang niềm ân hận này suốt đời vì không sống tròn chữ hiếu. Hãy sống ngay hôm nay, sống cho hoàn hảo chữ hiếu trong chính lúc này, lúc còn có thể sống, để mai này, dù có chia tay với người thân, lòng ta thanh thản nhẹ nhàng, không cảm thấy mất bình an vì bất hiếu. Hãy làm cho giọt nước mắt tiếc thương người thân ra đi, không lẫn một giọt hối hận cay đắng nào! Nhưng tháng các Đẳng Linh Hồn còn nhắc ta về một chữ hiếu rộng hơn, thuộc về điều răn thứ IV. Đó là lòng biết ơn của ta đối với tất cả những ai làm ơn cho mình. Sách Giáo lý Công giáo ghi nhận: “Điều răn này còn rộng mở tới bổn phận của học trò đối với thầy, thợ với chủ, kẻ thuộc cấp đối với người chỉ huy, công dân đối với tổ quốc và với tất cả những người điều hành cai trị đất nước” (2199a). Ca dao Việt Nam có viết: “Cây có gốc mới nở ngành sanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu, người ta có gốc từ đâu? Có cha có mẹ, rồi sau có mình.” Nếu lòng thảo hiếu dành cho các bậc sinh thành hết sức quan trọng đối với người Việt Nam, thì điều đó đối với các tín hữu Công giáo lại càng lớn lao và là một đòi buộc ngặt không thể thoái lui hay chối cãi. Lòng thảo hiếu của đức tin Công giáo lớn đến nổi, không chỉ là điểm quy chiếu giữa những con người với nhau, mà còn có lề luật hoàn hảo của Thiên Chúa và mẫu gương sống động của chính Đấng Thiên Chúa làm người làm chuẩn mực tuyệt đối hướng dẫn đời sống hiếu thảo của mọi người. Lạy Chúa, xin dẫn đưa linh hồn ông bà, cha mẹ, anh chị em của chúng con đã qua đời về dự tiệc vui trong Nhà Chúa muôn đời ¶
CÔNG PHÚC: CON SỐ KHÔNG ĐỎ CHÓI Khổng Nhuận Dụ ngôn những nén bạc nổi tiếng thường được hiểu là những ân huệ, những tài năng, những của cải Chúa ban. Chúng ta cần phải sử dụng chúng để sinh lời. Chuyện xưa kể rằng… Một linh hồn kia vừa lìa khỏi thế gian, liền bay tới trước tòa Chúa. Chàng ta bước tới TRÌNH DIỆN Đức Giê-su với một vẻ tự tin chen lẫn tự hào. Vừa gặp Ngài, anh ta đã ngẩng cao đầu kể lể: “Lạy Chúa, Chúa biết đấy. Con đã thực hiện những việc đạo đức cá nhân một cách xuất sắc: Đọc kinh tối sáng ngày thường. Sáng nào cũng đi lễ, rước lễ đầy đủ. Chúa cũng thừa biết rằng: Mỗi ngày con còn dành cả tiếng đồng hồ để đọc Kinh Thánh, và cầu nguyện nữa đấy.” “Tốt lắm!” Đức Giê-su mỉm cười phê một con số không đỏ chói. “Chắc Chúa cũng thừa biết con là một ca trưởng. Con đã từng o tiếng hát của ca viên thánh thót như tiếng hát thiên thần. Chúng con đã đại diện cho cả cộng đồng dân Chúa dâng lên Ngài những bài ca chúc tụng tôn vinh, ngợi khen cảm tạ,thờ phượng, mến yêu... “ “Té ra bấy lâu nay nay các ngươi giành quyền đại diện cho cả cộng đồng dân Ta, hèn chi ta thấy họ đứng, ngồi, quỳ như tượng gỗ, Ta tưởng họ bị câm hết rồi chứ!!!” Đức Giê-su hơi cau mày phê một con số không đỏ chói. “Lạy Chúa, con đã từng bỏ ra nhiều thời gian, bỏ nhà bỏ cửa. Con phải lo cho công việc nhà xứ, đi an ủi kẻ liệt, cầu nguyện cho người ốm đau. Về tới nhà đã khá khuya, vợ con đã ngủ cả rồi!! Bù lại, rất nhiều người biết ơn và khen con hết lời vì con đã mang lại cho họ nhiều hy vọng và niềm vui.” “Công phúc con quả là không nhỏ, nhưng không hiểu bổn phận làm chồng, làm cha con bỏ cho ai đây? mặc cho vợ con vò võ mong chờ con về với mái ấm gia đình!” Đức Giê-su lắc đầu phê một con số không đỏ chói. “Lạy Chúa, trong cộng đoàn, sau bao năm phấn đấu, con đã được anh em bầu làm huynh trưởng chóp bu. Con đã bỏ nhà bỏ cửa, bỏ vợ bỏ con ra đi đến những nơi xa xôi Loan báo Tin Mừng cho những người nghèo khó nữa cơ.” “Hay lắm!” Đức Giê-su nheo mắt phê một con số không đỏ chói. “Chúa biết không? Ngay cả các linh mục cũng phải phục con sát đất!! quá giờ cơm trưa rồi mà chúng con vẫn còn hát vang những bài ca tán tụng Chúa!!” “Ta cũng phục con sát đất nữa đấy!” Và Đức Giê-su gật gù phê một con số không đỏ chói. Chàng ta hơi có vẻ hụt hẫng và lúng túng, nhưng vẫn còn điều muốn nói. “Lạy Chúa, Chúa con giao cho con một cộng đoàn lên tới hàng chục ngàn người khiến con cảm thấy gánh nặng quá lớn. Con đã phải bỏ biết bao công sức và lo lắng ngày đêm khi phải quyết tâm gìn giữ truyền thống cộng đoàn. Con phải kiểm soát và giành quyền quyết định từ việc lớn tới việc nhỏ kẻo có người đi sai đường lối cộng đoàn.” “Ta biết công khó của ngươi; nhưng Ta mong chờ một mục tử chăm sóc đoàn chiên trong tình thương thân tình, chứ đâu cần cơ quan cảnh sát và sắc lệnh của tổng thống.” Rồi Đức Giê-su lạnh lùng phê một con số không đỏ chói. Lần này chàng ta bối rối ra mặt, mồ hôi vã ra như tắm!! Chàng tưởng rằng với biết bao công phúc mà mình đã lập, chắc chắn Chúa sẽ dang rộng cánh tay và trìu mến ôm ấp mình vào lòng. Không ngờ cho tới bây giờ mà mình vẫn còn nhận được một dãy con số không đỏ chói!!! May quá anh còn nhớ mình đã thay mặt các anh em nói lời ngôn sứ trước mặt cộng đoàn hàng trăm lần. Anh ta run run ấp úng:"Lạy Chúa, lạy Chúa, nào con đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri – nói Lời Ngôn Sứ cho anh em đó sao?” (Mt 7:22) Đức Giê-su nghiêm giọng: “Ta không hề biết ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta.” (Mt 7:23) Anh đã hoàn toàn mất tự chủ. Anh đã cố tình giữ con bài cuối cùng để cứu vãn tình thế. Lần đó, anh đã trừ được một con quỷ dữ ra khỏi một cô gái đáng thương. Mọi người thầm coi anh là thánh sống. Nhưng giờ đây đừng trước một dãy con số không đó chói. Anh không còn một chút tự tin nào nữa. anh rụt rè lí nhí: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào con đã chẳng từng nhân danh Chúa mà trừ quỷ đó sao? "(Mt 7:22). Một lần nữa, Đức Giê-su tỏ vẻ cương quyết:“Ta không hề biết ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta” (Mt 7:23) Thế là thế nào?? Chả lẽ suốt cuộc đời phục vụ công trình của Chúa mà lại lãnh hậu quả bi đát như thế này sao?? Chàng ta không thể hiểu nổi!!! Đức Giê-su đã đọc được tất cả nỗi thất vọng của anh, Ngài hiền từ thông cảm và nhẹ giọng: “Thôi, ta cho ngươi trở lại trần gian suy nghĩ lại cách sống của mình. Hẹn gặp lần sau nhé.” ..... Hơn muời năm trời suy tư về cuộc sống của mình. anh đã từng ngày, từng tháng khám phá ra rằng: Lúc đầu quả thực là anh dấn thân vào công trình của Chúa với mục đích rất tốt, nhưng tháng ngày trôi qua, qua với những thành công rực rỡ anh đã gặt hái được... Anh bắt đầu chạy theo danh thơm tiếng tốt và lời khen của người đời. Anh càng dấn thân, càng hy sinh, anh càng cảm thấy mình quan trọng. Anh đã ở trên lưng cọp. Anh không thể xuống được nữa. Cái tôi của anh càng lớn nhanh.... Cuối cùng, Anh nhận ra rằng: Tôi đang phục vụ cho công trình của Ngài, nhưng còn chính bản thân Ngài, tôi lại loại bỏ ra đàng sau... ....... Gần hai mươi năm sau... Lần này, Anh không tự hào TRÌNH DIỆN Chúa, nhưng chính là mong mỏi GẶP GỠ Chúa, anh vui vẻ, nhẹ nhàng tới trước nhan Ngài. Không một công phúc để trình, không một thành tích để khoe. Lần này, anh chờ đợi Ngài lên tiếng trước. Lạ quá, Đức Giê-su không nói một lời nào. Ngài chỉ đưa ra dãy số không đỏ chói ngày xưa và mỉm cười dịu dàng. Ngưòi ta tưởng Ngài sẽ phê thêm con số một ở ngay đầu dãy số không đỏ chói. Nhưng không, trước mắt anh, những con số không đỏ chói bỗng nhảy múa và biến thành một trái tim lung linh chiếu sáng. Thì ra trái tim Chúa và trái tim anh đã nên một trong tình yêu muôn thủa, tròn đầy ¶
Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA THÁNG 11 NĂM 2005
Ý Chung: Cầu cho các đôi vợ chồng được thánh hoá trong đời sống thường ngày. Xin cho các đôi vợ chồng biết noi gương thánh thiện của những người đã nên thánh trong những hoàn cảnh thường ngày của đời sống hôn nhân. Ý
Truyền Giáo:
Cầu cho các linh mục, tu sĩ
và giáo dân trong các xứ truyền giáo được huấn luyện thường
xuyên. Xin
cho các vị mục tử trong các xứ truyền giáo biết kiên trì lo
liệu cho các linh mục, tu sĩ và tông đồ giáo dân được huấn
luyện thường xuyên.
LINH ĐẠO
(tiếp theo Maranatha_63 và hết) Hoàng Văn Phúc HOA TRÁI CỦA PHỤC VỤ LÀ BÌNH AN 1. Thiên Chúa là nguồn mạch bình an (Rm 15,33; Pl 4,9; 1Tx 5,23; 2Tx 3,16) Theo Mẹ Têrêxa, những công việc bác ái thường là công việc của bình an. Bất cứ khi nào chúng ta chia sẻ tình bác ái với người khác, chúng ta sẽ nhận thấy sự bình an đến với chúng ta và với họ. Khi có bình an, thì có Thiên Chúa. Khi có Thiên Chúa, là có bình an - đó là cách Thiên Chúa chạm đến tâm hồn chúng ta và tỏ cho chúng ta thấy tình yêu của Người bằng cách đổ tràn sự bình an và niềm vui vào tâm hồn chúng ta. Mẹ Têrêxa chia sẻ: “Nhiều nhà của chúng tôi trên khắp thế giới được gọi là ‘Quà Tặng Tình Yêu’ hoặc là ‘Quà Tặng Bình An’ bởi vì đó là một cách để tạ ơn Thiên Chúa vì những ơn huệ của Ngài. Chúng tôi dâng hiến những nhà này như những chỗ nghỉ ngơi cho người nghèo, nhưng chỉ có Thiên Chúa mới có thể hoàn tất công việc của chúng tôi.” Chị Dolores và Thầy Geoff giải thích như sau: “Hai sự chữa lành thể xác và tinh thần đều được cung ứng cho bất cứ ai đến Nirmal Hriday. Chúng tôi chỉ có thể chữa trị và an ủi phần xác, còn sự chữa lành tinh thần chúng ta phải quay về với Thiên Chúa. Như thế, phải biết ưu điểm và nhược điểm của mình để quay về với Thiên Chúa vì quá khứ của tất cả chúng ta đều có những đau khổ, và Người sẽ chữa lành tất cả. Thật đơn giản, chỉ cần chúng ta quay về với Người, Người sẽ cho chúng ta sự xoa dịu bên trong, sự xoa dịu tinh thần này giúp chúng ta sống thánh thiện và đẹp lòng Chúa hơn.” “Nếu chúng ta nhằm giúp đỡ phần thể chất của bệnh nhân, và tất cả nỗ lực của chúng ta dành cho họ được khích động bởi nỗ lực yêu thương họ, thì nó cũng có kết quả tinh thần. Về phương diện chữa trị thể lý chúng ta nhìn thấy căn bệnh và biết lượng thuốc cần cho con bệnh. Đây là những bước căn bản và hợp lý. Về phương diện tinh thần, khi giúp đỡ bệnh nhân, bạn không xét đoán và để sức mạnh tinh thần tự do triển nở thì càng yêu thương người bệnh bao nhiêu, bạn càng cảm thấy cái gì đó đến với bạn và người bệnh về phương diện tinh thần bấy nhiêu. Hãy để Thiên Chúa làm việc trong phương cách của Người và rồi mọi sự sẽ xảy đến. Chắc chắn tôi đã từng thấy người ta thay đổi, được tỏ lộ trong một phương cách nào đó là họ đã ý thức được lòng yêu thương của Thiên Chúa. Tuy không nói lên bằng lời nhưng rõ ràng trong thái độ họ cho thấy sự bình an trong con người họ. Thí dụ, nhiều người tàn tật thường hủy hoại thân thể - đập đầu vào tường hay xé quần áo, chăn nệm - nhưng khi họ được chú ý hay được đối xử một cách mềm mỏng, thì sự thay đổi rõ ràng xảy ra. Chúng tôi thật sự không biết những biến đổi trong con người họ nhưng chúng tôi nhận thức rằng có sự chữa lành nào đó đã xảy ra trong tâm khảm của họ.” Sự chữa lành tinh thần này dường như ảnh hưởng đến rất nhiều người. Người chữa bệnh cũng như bệnh nhân chia sẻ sự bình an của Thiên Chúa. Chị Sarah, một trong những người tình nguyện ở nhà dành cho người bị bệnh AIDS ở Hoa Kỳ, chia sẻ vài nhận xét của chị khi làm việc và đã bị ảnh hưởng như thế nào “Những người đến căn nhà này biết rằng họ sẽ phải chết, họ thấy đây là chỗ thật bình an để nghỉ ngơi - là chỗ mà giả như họ có chút ao ước tìm kiếm Thiên Chúa thì họ sẽ biết được Người trong bất cứ phương cách nào thích hợp với họ. Tỉ như, có người tin vào thuyết luân hồi, có người không. Chúng tôi nói chuyện với nhau thật nhiều về Thiên Chúa và đời sau, so sánh những tư tưởng về sự sống đời này và tưởng tượng những gì sẽ xảy ra vào đời sau. Tất cả những người mà tôi nói chuyện đều rất tin tưởng vào Thiên Chúa. Có khi, nhất là lúc họ gần chết, họ muốn có đức tin của các nữ tu và muốn được rửa tội, nhưng điều này không bao giờ ép buộc. Tôi thấy rằng khi làm việc ở đây, đối với tôi vật chất không còn quan trọng và tôi thấy quân bình hơn. Khi làm việc ở văn phòng, tôi ở trong một chỗ thường được gọi là thế giới thật, nhưng khi làm việc tình nguyện với Dòng Thừa Sai Bác Ái mỗi tuần một ngày, tôi nhận ra rằng đây mới là thế giới thật. Nhà cửa thì không sang trọng hay đẹp đẽ nhưng dân chúng ở đây là những người thật sự sống động, là những người được tái sinh bởi vì họ đang chết. Những người trong phố đang sống nhưng họ thật sự không sống chút nào. Làm việc ở đây giúp tôi nhận biết những gì quan trọng ở đời này và ý thức về đời sau. Tôi biết có nhiều người sống mà không có một chút ý thức gì về đời sau. Điều Thiên Chúa cho tôi thấy là Người yêu thương tất cả mọi người, bởi thế tôi là ai mà xét đoán người khác ? Đời sống tôi, do bởi tình nguyện với Dòng Thừa Sai Bác Ái, đã phong phú hơn, có chiều sâu hơn, và quân bình hơn giữa vật chất và tinh thần. Tôi đã tìm thấy sự bình an.” Chị Dolores đã thêm những cảm nghiệm của chị về sự bình an của Thiên Chúa khi làm việc với những người hấp hối : “Khi mới đến nhà dành cho người bị bệnh AIDS, nhiều người thật sự tuyệt vọng. Nhưng sau khi được các nữ tu và người tình nguyện ân cần chăm sóc, họ đã tìm thấy sự bình an trong tâm hồn. Bởi thế, đến với nhà chúng tôi, đối với họ giống như một sự trở về. Nhiều người nói, ‘Đây là chỗ sau cùng tôi sống, chỗ sau cùng tôi ở,’ và tôi luôn nói với họ rằng, ‘Không phải vậy, đây chỉ một chỗ. Từ đây bạn sẽ đến một chỗ thật sự là nhà của bạn, là nơi Cha chúng ta trên trời đang đón chờ.’ Và nhiều người khao khát đến đó. Khi ở với một người vào giây phút sau cùng và họ ra đi thật bình an, điều đó nhắc nhở tôi rằng, tất cả chúng ta đều phải trải qua giây phút ấy vào một lúc nào đó. Chính tôi cũng ao ước có thể ra đi cách bình an, trong phương cách tốt đẹp này. Tất cả chúng ta đều phải trở về với Thiên Chúa - chúng ta phát sinh từ Người và chúng ta sẽ trở về với Người - bởi thế khi giúp người khác vào giây phút cuối đời của họ, chúng ta đã tự giúp chính mình.” Chị Theresina nhớ một người đã đến thăm trung tâm ở Luân Đôn và đã viết thư cho chị : “Sau khi gặp chúng tôi, ông đã viết thư nói rằng khi ở với chúng tôi ông tìm thấy điều mà ông không thể mua được hay ngay cả tự tìm thấy cho chính ông - đó là sự bình an tinh thần. Ông nói ông đã sống trong cảnh rất giầu sang và đó là những lúc ông ít được bình an nhất.” 2 Khi quên mình là lúc gặp lại bản thân Theo Mẹ Têrêxa, mọi người đều có quyền được hạnh phúc và bình an. Chúng ta được dựng nên vì điều này - được sinh ra để hạnh phúc - và chúng ta chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc thật và bình an thật trong cuộc tình với Thiên Chúa : có niềm vui, có hạnh phúc lớn lao khi yêu thương Thiên Chúa. Nhiều người nghĩ, nhất là ở Tây Phương, tiền của sẽ mang lại hạnh phúc. Nhưng khi giàu sang chúng ta khó hạnh phúc hơn vì chúng ta khó có thể tìm thấy Thiên Chúa : chúng ta có quá nhiều điều để lo lắng. Tuy nhiên, nếu Thiên Chúa cho chúng ta sự giàu sang, thì hãy dùng nó trong mục đích của Người - là giúp đỡ người khác, giúp đỡ người nghèo, tạo nên công ăn việc làm cho họ. Đừng phung phí tài sản. Có cơm ăn, chỗ ở, phẩm giá, tự do, sức khỏe và giáo dục tất cả cũng là quà tặng của Thiên Chúa. Đó là lý do chúng ta phải giúp đỡ những người kém may mắn hơn chúng ta. Chúa Giêsu nói : “Những gì con làm cho người bé mọn nhất trong anh chị em Ta là làm cho chính Ta.” (Mt 25,40) Bởi thế, điều đáng buồn phiền nhất là khi chúng ta làm điều sai lầm, làm mất lòng Thiên Chúa cách nào đó, ví dụ như do sự ích kỷ và thiếu bác ái. Khi chúng ta làm người nghèo đau khổ, và chúng ta làm đau khổ nhau thì chúng ta đã làm Thiên Chúa đau khổ. Mọi sự là do Thiên Chúa ban cho và lấy lại, bởi thế hãy chia sẻ những gì chúng ta được ban cho, kể cả chính chúng ta. Hãy vui với hiện tại, điều đó đã đủ. Mỗi giây phút là tất cả những gì chúng ta cần, không hơn không kém. Hãy vui sống và nếu qua hành động chúng ta tỏ ra tình yêu tha nhân, kể cả những người nghèo hơn chúng ta, chúng ta cũng đem lại hạnh phúc cho họ. Thế giới sẽ tốt đẹp hơn nhiều nếu mọi người mỉm cười nhiều hơn. Bởi thế hãy mỉm cười, hãy hăng hái, hãy vui lên vì Thiên Chúa yêu thương bạn. Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô Assisi nhắc nhở cho chúng ta phương thế chúng ta có thể tạo được sự bình an trong đời sống bằng cách hy sinh cho tha nhân với tấm lòng trong trắng và độ lượng: Lạy Chúa, xin giúp con trở nên khí cụ bình an của Chúa, Để nơi thù hận, con đem đến tình yêu... Dave, John, và Rupert, những tình nguyện viên đã tìm thấy niềm vui và bình an khi giúp đỡ người nghèo chia sẻ cho chúng ta: “Kể từ khi tôi làm việc tại Luân Đôn, tôi nhận được nhiều hơn là cho đi. Có niềm vui trong công việc, nhưng nó không phải là tiếng cười hay buổi liên hoan - niềm vui có chiều kích riêng biệt. Nó có thể rất nhẹ nhàng và bất ngờ và cũng có thể là một niềm vui do bình an sâu thẳm như cha mẹ vui mừng khi sinh con, hay khi bạn kết hôn. Tôi sung sướng và vui vẻ được ở đây và tôi coi điều đó quan trọng - công việc làm ở đây thì thật quan trọng - mặc dù rằng tôi không quá hăng hái. Tôi bình thản hơn nhiều và bây giờ tôi thấy thoải mái khi làm việc cho tha nhân.” “Đối với tôi, làm việc ở Kalighat là một cảm nghiệm có thể thay đổi cuộc đời. Lúc đầu tôi nghĩ chỉ làm việc một hai ngày nhưng sau hôm đó tôi đã quyết định đến đó mỗi ngày liên tục trong một tháng. Tôi thấy rằng mỗi chiều khi hoàn tất công việc và nghỉ ngơi, tôi cảm thấy như ở Thiên Đàng. Tôi không nói đó là những gì các chị cảm thấy qua công việc hàng ngày, nhưng đó là một khía cạnh khác của đời sống mà chúng ta có thể có được. Công việc đem lại một cảm giác khác với những gì bình thường - tôi thật sự không biết diễn tả như thế nào, nó thật sự bình an. Sự bình an ngút ngàn đổ xuống trên tôi mỗi ngày.” “Tôi trở nên một con người trọn vẹn hơn khi có cơ hội làm việc với Dòng Thừa Sai Bác Ái. Không ai tốt hơn người khác - đó là điều tôi đã học được khi đối xử với người khác trong hoàn cảnh khác nhau với những giới hạn của nó. Càng cho đi bao nhiêu bạn càng nhận được bấy nhiêu. Và khi bạn cho đi, bạn sống yêu thương và giúp đỡ, thì thế giới nhận được nhiều hơn, hơn cả những gì chúng ta biết từ những cố gắng nhỏ bé của chúng ta. Nó giống như một loại thấu cảm với tâm hồn thế giới.” Thông điệp sau cùng của Mẹ về sự bình an là : chúng ta hãy yêu thương nhau như Thiên Chúa yêu thương mỗi người. Chúa Giêsu đến để công bố cho chúng ta tin mừng Thiên Chúa yêu thương chúng ta và Người muốn chúng ta yêu thương nhau. Khi đến giờ chết và trở về với Thiên Chúa, chúng ta sẽ nghe Người nói : “Hãy đến và chiếm lấy Nước Trời đã được chuẩn bị cho con, bởi vì Ta đói và con đã cho Ta ăn, Ta trơ trụi và con đã cho Ta áo mặc, Ta đau yếu và con đã thăm viếng Ta. Bất cứ những gì con làm cho người bé mọn nhất của anh em Ta là con đã làm cho chính Ta” (Mt 25,35-40). *** Từ thủa ban đầu, Thiên Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Người (St 1, 26). Khi đến thời viên mãn, Thiên Chúa đã xuống thế làm người nơi Đức Giêsu Kitô (x Ga 1,14; Cl 1,15). Nhờ cuộc tử nạn và phục sinh của Đấng Cứu Thế, con người được lãnh nhận đầy tràn Thánh Thần (x. Ga 20,22; Cv 2,4.16-18; 4,31; 8,15; 10,45; 11,14; 15,8; 19,4) và trở nên đền thờ của Thiên Chúa (1 Cr 3,16-17). Con người cũng đã được đính hôn cho Thiên Chúa (x. 2 Cr 11,2). Như thế, con người chính là hiện thân của Thiên Chúa, là Thiên Chúa ẩn mình. Phục vụ con người là phục vụ Thiên Chúa (x. Mt 25,31-46). “Đức Giêsu Kitô vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8,9). Noi gương Thầy Chí Thánh, Mẹ Têrêxa và con cái Mẹ trong Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái đã chọn lựa con đường phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo. Trở nên nghèo để phục vụ những người nghèo, Mẹ và con cái Mẹ không những đã làm cho những người nghèo trở thành giàu có, giàu nhân phẩm, giàu tình yêu, giàu niềm tin, giàu niềm vui, giàu hy vọng mà chính bản thân Mẹ và con cái Mẹ cũng được trở nên giàu sang phú quý vì đã chiếm hữu được Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch mọi sự sang giàu (x. Rm 11,33; Pl 4,19). Nếu để tâm suy niệm và cố gắng thực hiện những bước căn bản trong linh đạo của Mẹ Têrêxa (thinh lặng, cầu nguyện, tin tưởng, bác ái, phục vụ, và bình an) chúng ta có thể khám phá ra những lợi ích của một lối sống đơn giản. Nếu chúng ta thấy khó khăn để sống thinh lặng hay không thể cầu nguyện sâu đậm, chúng ta hãy thử dâng hiến những hành vi bác ái nhỏ bé, cách liên tục cho người khác, rồi chúng ta sẽ thấy tâm hồn mình rộng mở, để có thể đón nhận tặng phẩm lớn lao là chính Thiên Chúa. Điều quan trọng là phải sống theo sự thật và trong tình bác ái bằng cách thực hiện một điều gì đó cho tha nhân, bất cứ điều gì, vì hành động yêu thương này sẽ làm cho chúng ta và người khác được lớn lên về mọi phương diện, có thể vươn tới tầm vóc viên mãn của Đức Giêsu Kitô (x. Ep 4,13.15)
¶ Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay(tiếp theo Maranatha_63) Nguyên tác LAY SPIRITUAL TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.
Nhu Cầu Xây Dựng Một Nền Linh Ðạo Giáo Dân Tốt Ðúng là người ta đang viết nhiều và thảo luận nhiều về phẩm giá, ơn gọi, sứ mạng và vai trò đặc biệt của người giáo dân trong Giáo Hội và trong xã hội ngày nay. Người giáo dân được mời gọi đảm nhận một vai trò rất tích cực và rất quyết định trong thời đại hôm nay, họ phải có tiếng nói quan trọng và mạnh mẽ. Nhưng để đóng trọn vai trò các Kitô hữu giáo dân cần có một căn bản vững chắc về thần học và linh đạo. Và quả thật họ đang đòi hỏi điều đó và rất mong muốn hàng giáo phẩm nghiêm túc xem xét vấn đề nầy, đồng thời đầu tư nhiều hơn vào việc đó. Ðàng khác, người giáo dân cũng phải biết khiêm tốn và thực tế để nhìn nhận sự thật rằng chưa hẳn chuyên môn về kinh tế hoặc về báo chí là sẽ trở thành những nhà thần học hay những triết gia uyên thâm được. Về vấn đề nầy, Hồng Y L. Bernadian của Chicago đã lên tiếng: "Thượng Hội Ðồng họp tại Roma từ ngày 1 đến 30 tháng 10 năm 1987 về giáo dân sẽ là một biến cố quan trọng trong đời sống Giáo Hội. Nhưng người giáo dân sẽ đảm nhận vai trò ấy thế nào, cốt yếu là tùy phẩm chất sống đạo của họ. Những công tác mục vụ, tông đồ và những chương trình thật rất quan trọng, nhưng nếu không có một linh đạo giáo dân lành mạnh... sẽ dễ có nguy cơ trở thành vụ hình thức và thậm chí sẽ gây hiệu quả ngược". (Chicago "Sunday Examiner", số ra ngày 12-6-1987) 1. Một nhu cầu bức bách Nhìn vào một thế giới như thế giới hôm nay, ta thấy nhân loại đang trải qua những bước phát triển rất lớn. Trên mọi bình diện, người ta đang đòi được tham dự vào công việc quản lý xã hội để làm nên lịch sử của chính mình. Họ đang chuyển từ tình trạng thụ động - giao khoán việc suy nghĩ và lãnh đạo vào tay một số ít người - sang thế chủ động. Người Kitô hữu giáo dân không nằm ngoài cao trào đó. Họ cũng đứng trước những thách đố, những khả năng, những trách nhiệm và những bổn phận như mọi người mà trước đây họ chưa từng gặp: Sứ điệp cuối cùng của Thượng Hội Ðồng Giám Mục, số 12 về việc đào tạo giáo dân đã làm dội lại khát vọng ấy của người giáo dân hôm nay: "Rõ ràng nơi người giáo dân có một nỗi khát khao về đời sống nội tâm, về linh đạo và về việc chia sẻ công tác Tông Ðồ trong sứ mạng của Giáo Hội." Ngày nay chúng ta thường nghe nói đến "giờ của giáo dân", hay một hình ảnh mới về giáo hội, một Giáo Hội trong đó mọi người đồng trách nhiệm và đều có phần. Tất cả những điều nầy rất hay, rất đẹp về mặt thần học, nhưng rồi nó cũng sẽ không đi đến đâu, nếu cả giáo sĩ lẫn giáo dân không biết đi sâu vào linh đạo của nhau. Trong việc nầy giáo dân phải khẩn trương hơn để bắt kịp, bởi vì xưa nay họ vẫn bị đối xử như những công dân hạng hai, được nuôi dưỡng bằng một thứ linh đạo thừa thãi của nền linh đạo vốn được vạch riêng cho các đan sĩ hoặc được châm chước cho nhẹ đi để phù hợp với họ. Giáo dân đã được tập cho quen hạ giá những nghĩa vụ và những hoạt động trần thế, những con đường để nên thánh. Ðã lâu lắm rồi, người giáo dân không còn hiểu được làm thế nào mình có thể kết hiệp với Thiên Chúa trong chính đời thường của mình, làm thế nào dứt bỏ được quan niệm cho rằng chỉ những việc "nhà thờ" mới thực sự giúp người ta nên thánh. Những bài chia sẻ mà bạn đang đọc lúc nầy đây sẽ là một nhát cuốc vỡ đất giúp các Kitô hữu (càng nhiều càng tốt) khám phá lại nguồn nuôi dưỡng phong phú ẩn dấu trong những công việc nghề nghiệp và gia đình thường ngày - trên con đường nên thánh đích thực. Ðây là những chứng từ của một số người đã khám phá được nguồn phong phú đó: "Tôi cũng có một số phương thức để mà khởi sắc đời sống thiêng liêng của mình, nhưng có lẽ không có phương thức nào tốt hơn là trao đổi với Janat, vợ tôi và với các con: Kim, Lisa, Julie, và Mark. Với họ tôi đã trở thành một người giữa bao nhiêu người khác đang cùng dò tìm ánh sáng". "Hôn nhân không phải là một tai họa như một số bạn trẻ hôm nay phàn nàn. Với chúng tôi đó là một ơn gọi đẹp đẽ và ngọt ngào, bởi vì chúng tôi đã chọn nó một cách tự do, để sống với nhau tình yêu và đức tin chung của mình". "Công việc của một người vợ, một đứa on dâu, một bà mẹ như tôi rất quan trọng. Tôi hãnh diện vì mình là một phụ nữ. Khi tôi và chồng tôi yêu nhau là chúng tôi đang vâng phục ý Người. Tôi hãnh diện vì mình là một người mẹ. Cộng tác với Thiên Chúa trong việc sáng tạo nên ba đứa con là một thành tích đáng thưởng lắm chứ! Khi tôi dẫn các con tôi đến với Ðức Giêsu, thì chúng tôi cùng nhau tôn thờ Người, là những lúc chúng tôi cảm mến được niềm thỏa mãn lớn lao nhất trong đời sống". "Là một giáo viên, khi đứng lớp, tôi thấy mình như đang ở trong trường học của Người, đang làm công việc của Người, đang săn sóc các con cái của Người. Khi giúp chúng khám phá những điều kỳ diệu của thế giới thụ tạo nầy và qua đó khám phá ra sự quan tâm săn sóc của một người cha yêu thương, tôi nhận ra rằng nghề giáo dục là một ơn gọi vô cùng cao quý". 2. Linh Ðạo giáo dân được diễn giải bởi các giáo sĩ Trong quá khứ, linh đạo giáo dân mà người ta tống cho các Kitô hữu là một linh đạo sặc mùi nhà tu. Nếu một giáo dân muốn đào sâu hơn đời sống thiêng liêng của mình, anh ta sẽ đi tìm cảm hứng nơi các tu viện, nơi những vị thánh giáo sĩ, tu sĩ, hoặc anh ta sẽ tìm kiếm những "chuyên gia" về khoa thần học tu đức và huyền nghiệm. Linh đạo giáo dân cũng đã bị "giáo sĩ hóa" một cách trầm trọng. Cho đến Công Ðồng Vatican II, giáo sĩ vẫn là người giải thích linh đạo giáo dân. Giáo dân đã phó mặc cho những vị được gọi là "chuyên gia" về linh đạo (giáo sĩ và tu sĩ), không cố gắng t |