|
|
Số 65 Ngày 19-11-2005
Việc Tạ Ơn Chúa- Đức Cha J.B. Bùi Tuần Suy Niệm Về Vua Giêsu - Đỗ Trân Duy Đức Giêsu Kitô: Vị Vua Trong Hộp Tái Chế - Khổng Nhuận Kính Nhớ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam - Lm. Vũ Xuân Hạnh Bà Thánh Đê – Bà Thánh Mặc Áo Hoa Hồng – Sư Huynh Trần Trọng An-Phong Kinh Cầu Các Thánh Chẳng Hề Được Phong - Lm. Tiến Lộc – DCCT Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J. Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện – Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D. Câu Chuyện Người Thừa Sai – Hoàng Quý
Lễ Tạ Ơn -
Phạm
Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả, Khởi đầu nào rồi cũng đều có một kết thúc. Kết thúc như Năm Phụng Vụ tuần lễ này, kết thúc như cuộc đời của mỗi một chúng ta và kết thúc như toàn thể những công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Ngày Chúa Nhật cuối cùng của mỗi Năm Phụng Vụ, trong tinh thần hướng đến sự viên mãn cánh chung, Giáo Hội tôn vinh Chúa Giêsu Kitô là Vua. Một điều khá lạ, ấy là Lễ Kitô Vua không phải được cử hành từ thời quân chủ, mà trái lại lễ này xuất hiện khi trên thế giới hầu như mọi ông vua đều đã bị lật đổ. Năm 1925, Đức Piô XI thiết lập Lễ Kitô Vua để khẳng định thẩm quyền tôn giáo của Giáo Hội trong lãnh vực trần thế, vào thời điểm mà con người hiện đại muốn loại trừ thẩm quyền ấy ra khỏi thế gian. Chúng ta là Kitô hữu không chỉ trong nhà thờ, mà còn trong cuộc sống gia đình, xã hội, chính trị. Giáo Hội có trách nhiệm và bổn phận nhắc cho các thế lực trần gian hiểu rằng Giáo Hội đang nối tiếp công trình của vị Vua trên hết các vua trong nhiệm vụ phục vụ con người. Không ai nắm giữ quyền lực tuyệt đối. Mọi quyền lực đều tùy thuộc vào Thiên Chúa. Tuy nhiên hình ảnh một Đức Kitô Vua bắt nguồn từ những truyền thống xa xưa. Các Kitô hữu tiên khởi đã tôn vinh vương quyền của Chúa Kitô đã khẳng định rằng “phải vâng phục Thiên Chúa hơn con người” (Cv 5, 29). Kitô giáo lúc bấy giờ đã giúp Kitô hữu trở thành một tầng lớp phản kháng mạnh mẽ nhất chống lại chủ nghĩa cực quyền của các hoàng đế La Mã, những người đã săn đuổi họ ròng rã trong 3 thế kỷ qua những cuộc bách hại đẫm máu. Vương quyền của Chúa Kitô được tôn vinh rạng rỡ nhất qua lễ Phục Sinh. Các ngày lễ Hiển Linh, Hiển Dung, Lễ Lá, Thăng Thiên cũng là những lễ mừng Chúa Kitô Vua. Mọi tượng ảnh dùng để thờ phượng trong Giáo Hội Đông Phương cũng như Giáo Hội Công giáo La Mã đều diễn đạt vương quyền của Đấng Pantocrator, nghĩa là Đấng cai trị mọi loài. Phải chăng đấy là một hình thức dương dương tự đắc? Qua các bài đọc phụng vụ, chúng ta thấy rằng thấy rõ rằng Vua Kitô không có một chút gì dính dấp với hình ảnh một ông Vua cực quyền, ngồi cao trên ngai vàng để sinh sát thần dân. Vương miện của Ngài là mão gai, ngai vàng của Ngài là thập giá. Được đặt vào cuối Năm Phụng Vụ, lễ này mang một ý nghĩa mới: ấy là ngày lễ hội mà Vua Kitô dẫn đưa toàn thể nhân loại và vũ trụ đến vinh quang vẹn toàn. Các vương miện trên thế gian này luân chuyển cho nhau trong lịch sử rồi đến một ngày nào đó cũng rơi xuống. Các thế lực và những thành đạt của thế giới rồi cũng sẽ đến lúc cáo chung. Trước những thăng trầm ấy, lịch sử nhìn rõ nét qua những lần can thiệp của Thiên Chúa trong Cựu Ước, lên đến đỉnh cao với thập giá Chúa Kitô, nối dài bằng hành trình phục vụ của Giáo Hội, cho đến khi mọi dân tộc đạt đến ‘vương quốc tình yêu không bao giờ lụi tàn.’ Trong thế giới hôm nay, một thế giới đang cố gắng đạt lên đến tột đỉnh của tiến trình phát triển để rồi không còn biết đặt niềm tin vào một thể chế hay một nhân vật nào, thì Đức Kitô Vua, một danh xưng như đã lạc hậu hằng trăm năm, bỗng mang nét thời sự hơn bao giờ. Chúa Kitô - Vua Tình Yêu đã ngự trị trong lòng của nhân loại qua một hành vi hiến tế trong nghi lễ Tạ Ơn: Ngài lấy bánh và rượu, những thành quả lao công con người, biến thành nghi lễ ‘phong vương’ qua một cuộc tử nạn trong tâm tình Tạ Ơn Thiên Chúa. Và tại Hoa Kỳ, tuần lễ cuối tháng 11 này cũng dành để mừng lễ Tạ Ơn. Thanksgiving trong tiếng Anh, Rendre grâce trong tiếng Pháp, cũng như Tạ Ơn - Trả Ơn trong tiếng Việt, đều có nghĩa là trao trả lại cho một ai đó cái ‘ơn,’ cái ‘phúc,’ cái ‘tặng phẩm’ mà người ấy cho mình bởi vì mình không thể tự sức mà có được. Trong quá trình lịch sử, con người đã từng cử hành lễ dâng hiến những sản phẩm đầu mùa để ‘tạ ơn’ Trời. Từ thuở xa xưa, người Hy Lạp, La Mã, Do Thái, Trung Hoa và Ai Cập đã có tục lệ này. Và ngay từ đầu lịch sử của Hoa Kỳ, năm 1671, con người cũng đã dâng hoa quả đầu mùa để ‘tạ ơn’ Thiên Chúa trong hành vi chia sẻ cho nhau những ‘hồng ân’ của sự sống mà mình nhận được một cách cụ thể qua hoa màu ruộng đất cộng với lao công của chính mình. Nhưng hành vi ‘tạ ơn’ ấy lên đến cao độ trong việc đổ máu hy sinh. Chúa Kitô là vị vua không chứng tỏ uy quyền bằng cách đàn áp hoặc giết chết dân, mà trái lại, đã đổ máu mình ra để nuôi sống họ. Và khi thể hiện vương quyền bằng cách ấy, thì đồng thời Ngài cũng ban vương quyền cho thần dân mình. Trong lịch sử Giáo Hội nói chung, và Giáo Hội Việt Nam nói riêng, không thiếu những Dân Chúa đã được chia sẻ vương quyền này trong một cuộc tạ ơn đổ máu. Ngày 24 tháng 11 năm nay, đất nước Hoa Kỳ mừng lễ Thanksgiving thì Giáo Hội cũng mừng kính lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Trong tinh thần tôn vinh Chúa Kitô là Vua của chiều kích cánh chung, và hướng về cuộc ‘tạ ơn’ liên lỉ của Dân Chúa theo gương vị Vua của mình, Maranatha 65 sẽ cùng độc giả suy tư về vai trò của Chúa Kitô Vua, về chiều kích Tử Đạo và nên thánh, trong tâm tình ‘Tạ Ơn - Eucharisto’ của ngày lễ Thanksgiving. Thứ tư, ngày 16 tháng 11 vừa qua, khi ngỏ lời với 20,000 người đến lắng nghe ngài tại quảng trường thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Bênêdict XVI đã dùng Thánh Vịnh 135 để suy niệm về chiều kích vương đế của Chúa Kitô, từ đó chúng ta nhìn ra được ‘ơn’ của Thiên Chúa và biết sống tinh thần tạ ơn: “Qua Thánh Vịnh 135, chúng ta gặp được hai chiều kích của một Mặc Khải duy nhất của Thiên Chúa: Mặc Khải trong vũ trụ (cc 4-9) và Mặc Khải trong lịch sử (cc 10-25). Dĩ nhiên Thiên Chúa siêu việt vì Người là Đấng Tạo Dựng và Đấng cầm cân nảy mực cho mọi loài thọ tạo, nhưng Người cũng rất gần gũi với thọ tạo mình khi nhập thể vào không gian và thời gian…. Thánh Vịnh này cũng đánh thức chúng ta để nhớ lại những ơn lành, đến mọi ơn lành mà Thiên Chúa đã ban, và nếu tâm hồn chúng ta biết lắng nghe thì chúng ta sẽ khám phá ra rằng: đúng vậy, lòng nhân hậu của Thiên Chúa tồn tại từ muôn thuở cho đến đời đời, và đang hiện diện trong từng ngày sống của chúng ta.” Lời cuối cùng mà Thánh Kinh dâng lên Chúa Kitô Vua trong viễn ảnh cánh chung là một lời tôn vinh trong tâm tình tạ ơn. Chớ gì lời ấy cũng là lời của mỗi Kitô hữu chúng ta trong những ngày cuối Năm Phụng Vụ này: Lạy Chúa Kitô Vua, xin ngự đến, Maranatha! MARANATHA
Ðức Cha J.B. Bùi Tuần Tạ ơn Chúa là một việc rất quen trong đạo. Được ơn nào, dù nhỏ dù lớn, chúng ta vẫn thường cảm tạ Chúa. Cách tạ ơn được thực hiện tự do. Đơn sơ như dâng một bông hoa, một cây nến, một chút tiền để trên bàn thờ. Trọng thể như tổ chức thánh lễ, kiệu tượng ảnh, dựng bia kỷ niệm. Âm thầm như những lời chân thành tự đáy lòng, hoặc những việc hy sinh lặng lẽ kèm với tâm tình cảm tạ. Để mọi việc tạ ơn Chúa được chắc chắn là những việc lành, không dễ bị lạm dụng, tôi xin phép đưa ra mấy ý rút ra từ Phúc Âm. Ở đây, Chúa Giêsu dạy ta đâu là những ơn ta cần cảm tạ đặc biệt. 1/ Tạ ơn Chúa vì được làm người con bé mọn của Cha trên trời Phúc Âm thánh Luca kể: Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: Thưa Thầy, nghe đến Danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con. Đức Giêsu bảo các ông rằng: “Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho các con quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực kẻ thù. Tuy nhiên, các con chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục các con, nhưng hãy mừng vì tên các con đã được ghi trên trời." (Lc 10,17-20). Qua lời Chúa dạy trên đây, chúng ta thấy cách Chúa đào tạo các môn đệ. Các môn đệ hớn hở vì được Chúa ban quyền chức lớn. Thái độ hớn hở ấy không phải xấu, nhưng dễ làm cho các môn đệ tự phụ. Nên Chúa nhẹ nhàng cảnh giác họ nhớ rằng: Cũng vì kiêu ngạo tự phụ, mà Satan đã từ trời phải sa xuống vực thẳm. Cho nên, đừng dại dột mừng vì chức lớn quyền cao. Nhưng hãy mừng vì tên của mình được ghi trên trời. Được ghi do lòng thương xót Chúa. Lòng thương xót Chúa là Cha đoái nhận những kẻ bé mọn làm con của Cha. Kẻ bé mọn được thương thế nào, thì Phúc Âm thánh Luca kể tiếp: "Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói: "Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Vậy, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha." (Lc 10,21). Khi biết chắc chắn Chúa Cha rất thương những ai khiêm tốn, đơn sơ, hèn mọn, chúng ta sẽ an tâm chọn cách sống đó. Phần thưởng Chúa dành cho những ai sống như vậy sẽ là: Được làm con Cha, được ghi danh trên trời. Đó là ơn rất quý trọng. Đây là điều rất an ủi cho mọi người, đặc biệt là những ai không có chức quyền, không có địa vị trong xã hội và Giáo Hội. Họ chỉ được là con Chúa. Thế là quá đủ. Đó là điều chúng ta phải nhớ tạ ơn Chúa ưu tiên và suốt đời. 2/ Tạ ơn Chúa, vì được tin vào Chúa Giêsu là Đấng đem lại sự sống và sự sống lại Phúc Âm thánh Gioan kể dài biến cố Chúa Giêsu làm phép lạ cho ông Ladarô sống lại. Trước khi làm phép lạ này, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời và nói: "Lạy Cha, con tạ ơn Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân đứng xung quanh đây, nên con đã nói, để họ tin là Cha đã sai con." (Ga 11,41). Nói xong, Chúa Giêsu đã làm phép lạ cho Ladarô chết đã 4 ngày được sống lại. Câu chuyện trên đây cho ta thấy rằng: Chúa Giêsu được Chúa Cha sai đi, để làm chứng cho lòng thương xót Chúa. Lúc đó, gia đình Ladarô đang đau khổ, đám đông đang sầu buồn. Tất cả đều tưởng nỗi đau buồn ấy là cảnh vĩnh biệt sau cùng. Chúa Giêsu đã đến chia sẻ. Không những thế, Người đã cho Ladarô được sống lại. Thái độ này đã làm cho nhiều người tin vào Chúa Giêsu. Qua câu chuyện này, ta thấy thái độ đồng cảm của Chúa Giêsu dành cho những người đau khổ thất vọng đã là một cách làm chứng cho lòng thương xót Chúa. Chúa Giêsu đã tạ ơn Chúa Cha vì thái độ đó. Thực tế xưa và nay vẫn quý trọng những ai xót thương người đau khổ. Những ai đem lại cho người khác sự sống và sự sống lại một cách nào đó bao giờ cũng ví được như những hy vọng dẫn về Thiên Chúa. Chúng ta và cộng đoàn ta hãy là những người có cái tâm đồng cảm, xót thương. Được thế, chúng ta hãy hết lòng tạ ơn Chúa. Chúng ta hãy xin Chúa ban cho ta ơn đó một cách dồi dào. 3/ Tạ ơn Chúa, vì được phục vụ và hy sinh cho người khác Phúc Âm thánh Matthêu thuật lại việc Chúa Giêsu lập phép Thánh Thể như sau: "Cũng đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: Các con cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy. Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho các môn đệ và nói: Tất cả các con hãy uống chén này. Vì đây là máu Thầy, máu Giao ước, đổ ra cho muôn người được tha tội." (Mt 26,26-28). Đoạn Phúc Âm trên đây cho ta thấy: Trước khi Chúa Giêsu hy sinh mạng sống mình trên thánh giá, và trước khi Người hy sinh mình, để trở thành lương thực bé mọn dưới hình thức bánh và rượu, Người đã tạ ơn Chúa Cha. Người tạ ơn Chúa Cha, vì Người được hy sinh để làm chứng cho tình yêu Chúa Cha đối với nhân loại tội lỗi. Người tạ ơn Chúa Cha, vì Người được làm chứng cho việc thi hành thánh ý Chúa Cha đến cùng độ. Người coi sự hy sinh như vậy là làm vinh quang cho Chúa Cha, và cũng là một vinh dự cho chính Người. Người coi đó là con đường để trở về cùng Cha, Đấng đã sai Người. Chúng ta cũng hãy như vậy. Khi được như vậy, chúng ta hãy tạ ơn Chúa. Trên đây là ba lý do đã được Chúa Giêsu nói lên lời tạ ơn Chúa Cha. Có thể có nhiều lý do khác nữa đã khiến Chúa Giêsu dâng lời tạ ơn. Chắc là thế. Nhưng chúng ta vẫn nên coi ba lý do kể trên như những chỉ hướng quan trọng, mời gọi chúng ta hãy tạ ơn Chúa một cách đặc biệt. Tôi thiết nghĩ, ba chỉ hướng đó rất cần cho ta, để đời tạ ơn của chúng ta có cơ sở vững chắc. Tâm tình tạ ơn Trong mọi việc tạ ơn, ta không thể không để ý đến những tâm tình. Một tâm tình được coi là hết sức quan trọng trong tạ ơn, đó là khiêm tốn. Thánh Phaolô nói: "Tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi... Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh." (2 Cr 12,9-10). Như vậy, việc tạ ơn vừa ca tụng quyền năng của Chúa, mà cũng vừa xác nhận sự yếu đuối của ta. Giữ được tâm tình như thế trong bản thân ta đã là việc khó. Phương chi giữ được tâm tình đó trong một tập thể đông đảo, nhất là khi việc tạ ơn được thực hiện bằng việc tổ chức với nhiều khâu phức tạp. Xác thịt, thế gian, ma quỷ không dễ gì để ta tạ ơn Chúa một cách thánh thiện đâu. Chúng có thể biến việc tạ ơn thành dịp phát sinh đủ thứ tội lỗi. Vì thế, việc tạ ơn Chúa luôn đòi sự tỉnh thức đi đôi với lòng khiêm tốn. Giữ được tâm tình như thế, chúng ta mới thực hiện được lời thánh Phaolô khuyên ta: "Trong mọi hoàn cảnh và trong mọi sự, các con hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha." (Ep 5,20)● ¶
MỪNG KÍNH LỄ CHÚA KITÔ VUA
SUY NIỆM VỀ VUA GIÊSUĐỗ Trân Duy Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa và là Thiên Chúa (Ga 1:1). Người từ một nơi trí khôn con người không thể hiểu, đã xuống thế làm người và sống với loài người (Mt 1:23). Nhưng Ngôi Lời không phải chỉ có một mình, bản thể của Người còn là Ngôi Cha và Thần Khí. Như vậy Ba Ngôi cùng tác động trong kế hoạch nhập thế. Ý niệm này không phải để giải thích Thiên Chúa là gì, nhưng để nhấn mạnh vào điểm: Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa cho Thiên Chúa nhưng là Thiên Chúa cho loài người. Chính kế hoạch nhập thế của Ngôi Lời cũng có sự góp sức của con người. Một nữ nhân, tự xưng là tôi tá hèn mọn, Đức Maria, đã trở thành nhà tạm của Thần Khí (Lc 1:48). Sau đó qua quyền năng của Thần Khí, Đức Maria sinh ra xác phàm cho ngôi Lời.
Đấng Mêsia (Kitô) Từ thời Cựu Ước, Thần Khí đã ngầm chỉ sự xuất hiện của Ngôi Lời qua hình bóng Đấng Mêsia. Mêsia hay Kitô (Messiah hay Christos, tiếng Hylạp) nghĩa là “Đấng được Thiên Chúa sức dầu” phong vua, vì vậy Đấng Mêsia ám chỉ vị vua. Các ngôn sứ và thánh vịnh đều dùng danh xưng Mêsia để chỉ vị vua tương lai của Israel. Các ngôn sứ cho biết Đấng Mêsia thuộc dòng dõi Giacóp qua Đavít (St 49:10; IIVua 8:19; Tv 53:7). Triều đại Người tồn tại đến muôn đời (II Sam 7:5-13; Isa 9:5-6). Biên giới của Vương Quốc Người mở rộng đến vô tận. Mọi dân tộc đều quy phục Người (Tv 50:1-4; 72:8-11). Người là ánh sáng của muôn dân ngoại (Is 52:10). Ngôn ngữ Người sắc như tên và bén như gươm (Is 49:1)[1]. Mọi dân tộc trông mong lời giảng dậy của Người (Tv 42:1-6; 49:1-3). Người lập quốc không qua quyền bính thế tục nhưng bằng đức khiêm nhường và chịu đựng đau khổ. Bởi vâng lời Thiên Chúa Người hi sinh mạng sống để cứu độ muôn dân (Is 53:10). Ơn cứu độ của Người không dành riêng cho một dân tộc nào nhưng cho mọi dân tộc (Is 52:13; 53). Tiên tri Đaniel miêu tả Đấng Mêsia qua linh ảnh một nhân vật gọi là Con Người (Son of Man). Đaniel thị kiến một vị thần đến từ Thượng Đế. Vị này được ban cho quyền thế trên muôn dân. Đaniel không biết trình thuật vị này thế nào nên gọi là Con Người, nghĩa là một vị thần trông giống như người (Đn 7:13-14). Cuối cùng chính Đức Giavê tiết lộ về Đấng Mêsia. Khi vua Akhaz trong hoàn cảnh đối đầu với quân thù, Giavê sai Isaiah báo cho vua biết Thiên Chúa sẽ can thiệp để cứu dòng Đavít. Isaiah nói, “Thiên Chúa sẽ cho vua một dấu chỉ. Hãy nghe, một trinh nữ sẽ sinh ra một con trai, và sẽ được gọi là Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta)” (Is 7:14). Tiên tri Mikêa chỉ điểm nơi Đấng Mêsia sẽ sinh ra, “Hỡi Bêlêhem, Êphrata, mảnh đất nhỏ nhất trong vùng Giuđa. Nơi ngươi sẽ xuất hiện một Đấng thống trị Israel. Nguồn gốc của Người có từ thời khởi thủy” (Mik 5:1-2). Tuy nhiên từ đời vua Akhaz dọc theo lịch sử Do Thái không ai dám hỏi dấu chỉ đó là ai. Nay thánh Mátthêu tiết lộ dấu chỉ ấy chính là trinh nữ Maria. Ngôi Lời được sinh ra trong dòng dõi Đavít bởi vì thánh Giuse là hậu duệ của vua Đavít (Mt 1:18-25). Thánh Giuse không phải là cha thể xác của Ngôi Lời, nhưng khi ngài đặt tên cho hài nhi, theo tục lệ thời ấy, là chấp nhận hài nhi làm con của mình. Hài nhi có tên là Giêsu, trong tương lai sẽ nối ngôi vua của tổ phụ Đavít. Tuy nhiên sự huyền nhiệm của dấu chỉ còn mang ý nghĩa sâu xa hơn. Vì con trẻ Giêsu cũng là Đấng Emmanuel, nên triều đại Đavít lập tức mở rộng qua Vương Quốc Thiên Chúa. Triều đại Đavít không còn giới hạn trong mảnh đất Do Thái nhưng trải rộng khắp thế gian (Mt 28:19). Vương quốc mới bao gồm tất cả mọi vương quốc, nên vua Giêsu sẽ là vua trên các vua. Giáo Hoàng Bênêđích XVI nhận định rằng khi thánh Mátthêu thuật lại lời tiên tri Isaiah, ông không nói “trinh nữ sẽ gọi con trẻ là Emmanuel” nhưng nói “người ta sẽ gọi con trẻ là Emmanuel” (Mt 1:23). Thuật ngữ “Người ta” ám chỉ loài người chúng ta. Muôn dân sẽ nhận ra con trẻ là Emmanuel[2]. Vua Giêsu là Thiên Chúa ở cùng với loài người. Ngôn sứ cuối cùng, Gioan Tẩy Giả, xác nhận Đức Giêsu là Đấng muôn dân mong đợi (Ga 1:29-36). Đấng EmmanuelOái oăm thay, dân được tuyển chọn không nhận ra Đấng Emmanuel (1Ga 3:1). Chức vị vua Giêsu không nằm trong sự mong đợi của giai cấp lãnh đạo Do Thái. Ngay trong đêm giáng sinh, tin “vua dân Do Thái ra đời” lan truyền khắp nơi (Mt 2:2; Lc 2:10-12). Vua đang trị vì là Hêrốt hoảng sợ bị mất ngôi, nên săn đuổi hài nhi để giết đi. Thánh Giuse nửa đêm phải lén đưa gia đình qua Ai Cập lánh nạn. Cho đến khi vua Hêrốt lìa trần, bấy giờ thánh gia mới dám hồi hương. Thánh gia định cư ở vùng Galilê. Đức Giêsu lớn lên và đi khắp miền Galilê giảng đạo. Người nhận mình là Đấng Mêsia nhưng bảo các môn đệ giữ kín điều ấy (Mt 16:16-20). Tuy nhiên Người không phủ nhận khi có ai biết Người là Đấng Mêsia (Ga 4:25-26). Người thường tự xưng là Con Người (Mt 12:8; Mc 2:28; Lc 17:22; Ga 6:53). Người cũng xác định Đấng Con Người chính là Vua (Mt 25:31). Rồi Người tuyên bố hiến chương bát phúc cho quốc gia của Người (Mt 5:3-10). Qua lối sống, Người biểu lộ phong cách của Đấng Emmanuel như đã được hình dung trong Cựu Ước. Lời phán của Người mang quyền lực đuổi quỉ, chữa bệnh nan y, và truyền cho kẻ chết sống lại (Mt 11:5). Người nhân danh chính Người để tha tội cho kẻ có tội (Mc 2:10). Người sửa đổi luật Môisen để kiện toàn luật lệ. Người truyền đạo cho dân ngoại, làm nhiều phép lạ, và nói tiên tri. Khi Người vào thành Giêrusalem dân chúng nghe tin túa đến cầm lá vạn tuế đón chào và hát rằng: “Hôsanna con vua Đavít! Chúc tụng đấng nhân danh Chúa mà đến! vua Israel!” (Ga 12:12-15; Mt 21:9). Lời giảng đạo của Người mâu thuẫn với lối sống của các vị chức sắc trong giáo hội Do Thái. Vì vậy họ sinh lòng thù hận và muốn diệt trừ Người. Các vị trưởng tế vin vào danh xưng vua để gán cho Người tội phản nghịch Xêda, vua của đế quốc La Mã đang thống trị Do Thái. Họ điệu Người đến dinh tổng trấn Philatô để mượn tay người La Mã giết Người. Trong sảnh đường các vị trưởng tế tố cáo Người nhiều điều. Trước sau Người chỉ đứng im lặng. Cuộc thẩm vấn Đức Giêsu của Philatô (Ga 18:33-37) là một diễn trình rất quan trọng cho nền tảng Kitô học. Cuộc thẩm vấn này cần nên chiêm niệm theo tâm tình của chúng ta. Philatô hỏi Đức Giêsu: “Phải ông là vua dân Do Thái không?” Đức Giêsu nghe rất rõ câu hỏi. Người đã im lặng chờ đợi nó và chỉ có nó mới khiến Người lên tiếng: “Tự ông nói ra điều đó, hay có kẻ cho ông biết như thế?” Câu trả lời của Người không phải là bản dữ kiện thông tin, nhưng là một câu hỏi. Ngay lúc ấy Ngài đổi ngược vị trí từ một bị can thành Đấng Emmanuel. Câu hỏi của Người chính là dành cho chúng ta, “Tự chính ngươi, ngươi cho Ta là ai?” Chúng ta phải tự mình trả lời câu hỏi này. Chúng ta không thể dựa vào những gì người khác nói. Nhìn ra Đức Giêsu là ai là một tâm chứng, nó không phải là mớ kiến thức vay mượn từ bên ngoài. Philatô trả lời: “Tôi có là dân Do Thái đâu?” Rất dễ cho Philatô đáp “tôi nghe người ta nói”, nhưng ông không dám nói thế vì lòng ông đang hoang mang. Chính vợ ông đã tiết lộ cho ông biết một dấu chỉ siêu nhiên về người bị can này (Mt 27:19). Ông trả lời theo ý tránh né đối diện với vấn đề. Tôi có phải là dân Do Thái đâu mà cần biết ông là ai? Đức Giêsu mở ra một cánh cửa chưa từng bao giờ có, “Nước Ta chẳng thuộc về thế gian này.” Vương quốc của Người không thuộc về Do Thái nhưng là cho tất cả. Tất cả mọi người đều thuộc về Đức Giêsu, mặc dù họ có biết hay không. Philatô hỏi: “Thế trong nước ấy ông là vua hay sao?” Đức Giêsu nói chính xác từng chữ: “Đúng như ông nói, Ta là vua. Vì lý do ấy mà ta sinh ra, cũng vì cớ ấy mà ta đến thế gian để làm chứng cho lẽ thật. Hễ ai thuộc về sự thật đều nghe tiếng ta.” Đây là tất cả những gì Đức Giêsu muốn cho chúng ta biết và hiểu. Bất cứ ai, hễ tin vào Đấng Emmanuel đều là dân của Người, tức dân Chúa. Cuối cùng Philatô ngạc nhiên thốt lên: “Vậy ông đã làm gì?” Họ tố cáo là ông muốn làm vua Do Thái. Nếu ông phủ nhận, vậy ông đã làm gì khiến họ muốn giết ông? Ông là người vô tội. Kitô hữu chúng ta đều biết Đức Giêsu bị giết bởi một nguyên nhân khác. Cho nên câu hỏi “Vậy ông đã làm gì?” vang dội trong tâm hồn chúng ta một cảm xúc rất sâu xa. Trong thông điệp Redemptor Hominia (Đấng Cứu Chuộc loài người) Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tái tuyên xưng “Chúa Cha cùng Thần Khí xức dầu và tấn phong Đức Giêsu Kitô làm Tư Tế, Ngôn Sứ và Vua” (Cat 783). Cả ba chức vụ này đều có tính cách duy nhất. Trong tân Ước danh xưng Tư Tế chỉ dành riêng cho Đức Giêsu. Nền tảng của chức vụ này là cuộc hiến tế trên thập giá và cuộc phục sinh của Người. Chức Ngôn Sứ cũng chỉ áp dụng cho Đức Giêsu, vì Người là Con duy nhất của Thượng Đế và là mặc khải cuối cùng. Đức Giêsu là vua vì thế giới được tạo ra qua Người và cho Người. Ba danh xưng trên là ba sứ mạng của chương trình cứu độ. Đức Giêsu đã thực hiện sứ mạng này bằng cách thành lập một triều đại mầu nhiệm gọi là Vương Quốc Thiên Chúa (Nước Trời). Vương Quốc ấy ở đâu. Người không nói “Nước Ta chẳng ở thế gian này” nhưng nói “không thuộc thế gian này.” Như vậy Nước Trời ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Lý do Đức Giêsu nhập thế là để thành lập Nước Trời trong thế gian. Đức Giêsu lên tiếng kêu gọi: “Hỡi muôn dân, ai thuộc về sự thật, nghe tiếng Ta.” Đấng Chăn LànhNgay cả Kitô hữu cũng có một thời khó khăn trong sự nhận diện Đấng Emmanuel. Mặc dù Kitô hữu chúng ta hiểu Vương Quốc mầu nhiệm là gì, nhưng danh xưng vua vẫn dẫn trí óc nhiều người đi vào quan hệ vua-tôi của mô thức chủng tộc. Kitô hữu đã quan niệm đời sống đạo như sau. Chúng ta là công dân của Vương Quốc Thiên Chúa. Thiên Chúa là Vua, nhân loại là thần dân. Thần dân không có liên hệ thân mật với Vua, ngoại trừ lòng trung thành, tôn kính và tuân giữ luật của Người. Bản tính con người thường hướng về dục vọng xấu, nên con người không bao giờ tuân giữ được luật Chúa cho trọn vẹn. Những vi phạm luật bị coi là tội lỗi. Ai phạm luật sẽ trở thành kẻ có tội. Kẻ có tội không có cách nào thoát khỏi án phạt vì Thượng Đế không thể hủy bỏ luật công chính của mình. Tuy nhiên khác với những vị vua trần thế, Thượng Đế là Đấng yêu thương dân mình. Thay vì dùng luật để xử án, Người đã dùng một giải pháp khác không chống lại luật công chính của Người. Thượng Đế đã gửi con yêu quí duy nhất của Người, là Đức Giêsu, đi nhận cái chết để đền tội thay cho con người. Đức Giêsu đã hòa giải giữa Thượng Đế—Đấng tạo luật và xử luật—và con người là kẻ tội phạm. Nhờ đó con người được ơn cứu chuộc. Đáng lý ra truyền thống giữ đạo theo khuôn mẫu trên chỉ hợp với suy luận của người thời trung cổ, trên thực tế nó vẫn còn hợp với số đông người ngày nay. Đức Giêsu cố tránh liên hệ vua-tôi theo não trạng chính trị trên. Trong thời gian giảng đạo, dân chúng nhiều lần muốn tôn Người lên làm vua. Người biết ý họ nên luôn luôn bỏ đi trước khi việc ấy có thể xảy ra. Trọng tâm của mô thức vua-tôi là vấn đề tội lỗi (được hiểu là phạm luật Chúa). Tội lỗi đã ngăn cản Thượng Đế và con người gần nhau. Con người đối diện với nỗi sợ hãi khi đến với Thượng Đế. Sự nhấn mạnh vào ý thức tội lỗi đã dẫn đến nhận thức: con người là kẻ có tội, sống trong tội, và không thoát khỏi tội. Mục đích tử nạn của Đức Giêsu là để chuộc tội cho thiên hạ, nhưng tội lỗi có thể được tha, bản chất tội lỗi của người vẫn tồn tại. Vì vậy giữ đạo là cuộc phấn đấu tuân theo luật buộc để hoàn tất những điều kiện mà Thượng Đế đòi hỏi. Người là Đấng siêu ngã kiểm soát mọi hành vi và tư tưởng của con người để luận án thưởng phạt. Mức độ chu toàn luật định và đền tội sẽ minh định sự cứu rỗi của linh hồn trước tòa phán xét cuối cùng. Truyền thống liên hệ vua-tôi của nhân chủng quá đơn giản về mặt tâm linh. Mô thức sống đạo vua-tôi không có chỗ cho ơn sủng của Thiên Chúa xen vào. Khi Đức Giêsu giảng đạo, Người mô tả Thượng Đế là nguồn tình thương, nguồn tha thứ, và nguồn ân sủng. Người dậy dân gọi Thượng Đế bằng danh xưng thân mật Abba (Bố) (Mc 14:36; Rm 8:15). Một Abba, chậm nổi giận, hằng ngày nhìn ra đường để mong đứa con hoang đàng trở về. Khi mới thấy nó từ đàng xa, Abba vội chạy ra không phải để phán xét hay kết án, nhưng để vui mừng đón tiếp và tha thứ (Lc 15:11-24). Trong luật “thưởng phạt công bằng” chúng ta được cứu rỗi vì chúng ta sống đúng luật Chúa. Đức Giêsu kiện toàn lại rằng, chúng ta được cứu rỗi nhờ đức tin của chúng ta và nhờ lòng thương của Thiên Chúa. Tuy Đức Giêsu tự nhận là Đấng Mêsia, nhưng Người ví dân của Người là đàn chiên và Người là Đấng Chăn Lành (Cat 763-764). Chủ chăn biết từng con chiên của mình bằng tên. Chủ chăn đi trước đàn chiên để dẫn lối, tìm nguồn nước, tìm nơi có cỏ ngon, và tìm nơi trú ẩn cho chiên. Chủ chăn hy sinh cả mạng sống của mình cho sự an toàn của chiên (Ga 10:1-16). Như vậy vua Giêsu không chú tâm đến luật lệ, nhưng đến tình yêu thương. Để cho dân Người gần gũi hơn, Người ví mình là chú rể và dân của Người là cô dâu (Lc 5:34). Chúng ta là người yêu của Đức Giêsu, những cô dâu, đón chờ chàng rể (Mt 25:1-13). Đó là sự liên hệ của những người thuộc về nhau và hòa vào nhau để tồn tại. Sống đạo trong mô thức tâm linh không nhấn mạnh vào ý thức tội lỗi, nhưng vào mức độ gắn bó vào Thiên Chúa. Thiên Chúa không xuất hiện như Đấng xa cách và đầy quyền uy. Người là “cột lửa trong đêm” và đám mây ban ngày” dẫn lối cho dân đi trong sa mạc nhân sinh về vùng đất hứa. Như vậy chúng ta hãy chuyển từ khuôn mẫu truyền thống vua-tôi qua khuôn mẫu tâm linh. Trong khuôn mẫu thứ hai con người thuộc về Đấng chăn lành Giêsu Kitô, bất kể chúng ta có hiểu hay không (Ga 10:16). Đấng Kitô không tách rời chúng ta nhưng đi với chúng ta trong cuộc đời cho đến tận thế. Sống đạo là khả năng nhận diện sự hiện hữu của Đấng Kitô. Tuy con người bản chất vẫn là kẻ tội lỗi, nhưng không ở vị trí thụ động là kẻ bị phán xét, mà được nhận diện là kẻ lạnh nhạt với tình yêu của Chúa. Một vị thế chủ động trong nỗ lực hàn gắn tình yêu. Trong chiều hướng ấy tội lỗi không thuần túy là phạm luật Chúa, nhưng là sự bội ước tình yêu và không có tình yêu. Đức Giêsu gọi kẻ tội lỗi là kẻ mắc nợ (Lc 7:36-44). Có một tình yêu bao la ẩn trong từ ngữ ẩn dụ “mắc nợ”. Kẻ mắc nợ chưa hẳn là kẻ có tội, vì vẫn còn có dịp để trả nợ. Nhưng nếu gọi hắn là “kẻ tội lỗi”, trong tiếng gọi ấy đã có sự kết án rồi. Nói cho cùng, con người chúng ta, ai mà không mắc nợ ít hay nhiều. Đức Giêsu đã dậy chúng ta cầu nguyện: “Xin Cha tha nợ cho chúng con, như chúng con cũng tha cho những kẻ có nợ với chúng con.” Hãm mình đền tội không phải là thi hành án phạt, nhưng để hoàn chỉnh cho xứng đáng trở lại với tình yêu, để có lại đời sống tâm linh. Chúng ta đến với Chúa không phải với thành tích thi hành luật, nhưng với lòng cảm mến, vì ai cảm mến nhiều thì được tha nhiều, ai cảm mến ít thì được tha ít (Lc 7:47). Tất cả những biểu tượng trong lối sống đạo cổ truyền vẫn tồn tại nguyên vẹn trong nếp sống mới. Tuy nhiên ý nghĩa của những biểu tượng này được chuyển qua giá trị tâm linh. Nếu vạn vật hiện hữu theo luật nhân quả thì yêu thương chính là nguyên nhân nội tại của Thiên Chúa. Thiên Chúa là nguyên nhân và cũng là cứu cánh của con người. Vì vậy cuộc sống của chúng ta là tiến trình nỗ lực của ý chí tự do đi tìm gặp Thiên Chúa. Tình yêu của Thiên Chúa được cụ thể qua Đức Giêsu, Thiên Chúa hữu hình. Thánh Kinh dẫn dắt chúng ta hiểu Đức Giêsu là Đấng Mêsia và Emmanuel. Những danh xưng này là những ý niệm để chiêm niệm. Thiên Chúa không thể ngưng đọng trong 1 danh xưng nào theo mô thức văn hóa trần thế. Người là Emmanuel nhưng lại chịu chết để cứu đàn chiên. Người là Vua nhưng lại đóng vai đầy tớ rửa chân cho thuộc hạ. Người là Mêsia nhưng lại nồng nhiệt như vị hôn phu. Đó là sức mạnh tình yêu của Thiên Chúa. Con người được sinh ra qua hình ảnh Thiên Chúa, con người cũng chỉ có thể tồn tại nếu có tình yêu. Chúng ta nên như những cây đèn đón tân lang trong đêm tối của cơn mê tham dục. Đèn không nên trống rỗng khiến phải tắt ngấm chìm vào đêm đen. Tâm hồn chúng ta nên đầy tràn dầu Thần Khí để đón Đấng kính yêu ¶
667. Người ta hối tiếc và than van: "Đời tàn" ngược lại, con phấn khởi và reo lên: “Niềm hy vọng hồng phúc và ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô sắp đến.” 679. Giữa những đau khổ, oan ức, những giả dối, bất công, con hãy vững vàng tuyên xưng với toàn thể dân Chúa: “Và người sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết, Nước Người sẽ không bao giờ cùng.” 987. Con trung thành theo một vị lãnh đạo là Chúa Kitô và đại diện của Ngài: Đức Thánh Cha, các Giám Mục, kế vị các Thánh Tông Đồ. Sống và chết vì Hội Thánh như Chúa Kitô. Đừng nghĩ chết vì Hội Thánh mới hy sinh. Sống vì Hội Thánh cũng đòi hỏi nhiều hy sinh. Trích Đuờng Hy Vọng - Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận
ĐỨc Giê-su Kitô – VỊ Vua trong Recycle Bin (hỘp tái chẾ) Khổng NhuậnGiáo Hội dành đặc biệt tuần cuối cùng của năm phụng vụ để long trọng mừng lễ kính trọng thể Đức Giê-su Ki-tô – Vua vũ trụ vì Thiên Chúa đã đặt muôn loài dưới chân Đức Kitô.(1Cr 15:27). Lại những cuộc rước sách tưng bừng tung hô Đức Giê-su Kitô Vạn tuế, Vạn tuế! Chúa Giê-su là vua. Chúa muôn thủa là Chúa, là vua muôn vua!! Đứng về mặt nhân loại mà nói, Đức Giê-su mới được khoảng một tỷ người công nhận Ngài làm vua, còn khoảng năm tỷ người khác chẳng biết Đức Giê-su là ai. Riêng đối với người Công giáo, mỗi năm một lần, người ta lôi vị vua ra khỏi hộp tái chế tung hô, ca hát, ngợi khen. Rồi sau đó lại tỉnh bơ dời Ngài vào trong hộp tái chế (move Him to the Recycle Bin). Ôi, Đức Giê-su Kitô – Vị Vua trong Recycle Bin!! Lý do rất chính đáng. Tuần tiếp theo đi vào Mùa Vọng, người ta phải mặc lấy tâm tình sám hối, mong đợi đấng cứu tinh chứ! Vì thế xin mời đức Vua vui lòng trở lại hộp tái chế. Hẹn năm sau, các thần dân sẽ lại hân hoan tung hô Ngài vào đúng ngày lễ trọng đại và huy hoàng như Đức Giê-su Kitô Vua thủa xưa khải hoàn vào thành thánh Giê-ru-sa-lem. Sự thật rành rành như thế, chúng ta thử làm một cuộc phỏng vấn đơn giản: Bạn có tin Đức Giê-su là vua không? Tin quá đi chứ! Không những Ngài làm vua dưới đất mà còn làm vua cả trên trời nữa đấy!! Thật là chí lý. Thế Ngài có làm vua tâm hồn bạn không? À..À...cái vụ này coi bộ lạ quá! Chưa ai hỏi tôi câu này, làm sao tôi biết đường trả lời đây!! Bạn thử lục lọi Hộp Tái Chế trong cái Vi-tính-Tâm-Hồn của bạn xem có bóng dáng Vị- Vua- Trời- Đất đó không? Có lẽ tìm cả năm cũng chưa chắc có, vì tôi có bao giờ nghĩ rằng Ngài là Vua của tôi lòng tôi đâu! Tôi chỉ thấy hình ảnh một vị vua oai phong với Vương Miện cao sang, với Vương Trượng uy quyền trong các nhà thờ hay trên các đài cao trên đỉnh núi, lưng đèo.
Đúng rồi, tôi
Quả thật, tôi thỉnh thoảng cũng tự hào như thế. Như vậy hóa ra Đức Giê-su Ki-tô – Vua vũ trụ, Vua tâm hồn chẳng đóng một vai trò nào trong cuộc sống đạo của bạn, chẳng dính dáng gì với cuộc sống thường ngày của bạn phải không? Tôi phải thú nhận rằng hóa ra đúng là như vậy thật. Từ sáng đến tối, mạnh Chúa, Chúa sống; mạnh tôi, tôi sống. Tôi còn thấy mình sống chẳng khác gì những người bạn trong cùng cơ quan. Cũng cố làm việc đàng hoàng suốt “8 giờ hành chánh vàng ngọc” kẻo cấp trên trách mắng đâm ra mất mặt với đồng nghiệp nhất là với phái nữ. Bạn xoay tôi như chong chóng. Bây giờ tôi hỏi lại bạn vài điều. Trước hết, Đức Giê-su Ki-tô – Vua vũ trụ, Vua tâm hồn đóng một vai trò nào trong cuộc sống đạo của anh? Tất nhiên là Ngài đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc đời của tôi. Ai chẳng nói được như thế! Nhưng làm sao anh nhận thức và quả quyết như vậy? Trước kia tôi cũng mù mù mờ mờ, nhưng từ khi mần mò đi tìm Ngài qua Kinh Thánh và qua chia sẻ với bạn bè tôi dần dần nhận ra khuôn mặt của Ngài – một khuôn mặt vô hình tướng. Và tôi cũng dần dần nhận ra sư hiện diện và hoạt động của Ngài ngay trong tâm hồn mình. Tất nhiên là cái tôi cũng dần dần nhỏ đi nhường cho sự hiện diện của Ngài lớn lên trong tôi. Chính vì thế, có thể nói rằng Ngài chính là Vua tâm hồn tôi. Một câu hỏi cuối cùng: Tại sao Giáo Hội đặt ra đủ thứ linh tinh nào là mùa Vọng, mùa Giáng Sinh, mùa Chay mùa Phục Sinh rồi đủ các thứ lễ: Chúa Ba Ngôi, Thánh Tâm Chúa Giê-su, Chúa Thánh Thần, hàng chục lễ kính Đức Mẹ, hàng trăm lễ kính các thánh. Tôi có cảm tưởng mình đang cưỡi ngựa xem hoa. Một vườn hoa với rực rỡ sắc màu và ngào ngạt hương thơm nhưng chẳng thưởng thức trọn vẹn được cánh hoa nào. Tệ hơn nữa tôi có cảm tưởng mình biến thành tên lính tốt trong đèn kéo quân quay tít mù theo chu kỳ phụng vụ. Quay cả mấy chục năm rồi, mà chẳng đi đến đâu. Hiện tại thì sống tình tang, ai sao tôi vậy, tương lai đời sau thì mờ mịt chẳng biết ra sao. Đây là một câu hỏi nghiêm túc và đầy ý nghĩa. Tôi xin mạn phép trình bày theo thiển kiến riêng của mình. Giáo hội là một người mẹ có hàng tỷ con, nên người mẹ phải giới thiệu thật nhiều con đường. Người con nào cảm thấy thích hợp con đường nào thì cứ con đường ấy mà đi. Điều quan trọng là đã chọn con đường nào thì cứ theo đường đó mà tiến bước. Tất nhiên là hoàn toàn có thể rút tỉa những điều hay điều tốt của con đường khác để hoàn thiện con đường của mình hơn. Cuối cùng là con đường nào cũng có những mẫu số chung: khắc khoải, đi tìm, khám phá, gặp gỡ và thực tập sống với Chúa ngay trong lòng mình. Và những thực tập phát sinh ra cảm nghiệm, từ cảm nghiệm củng cố xác tín. Chính vì thế tôi mới có thể xác tín với anh một cách dễ dàng như vậy. Anh hiểu chứ? Cảm ơn anh. Tôi hiểu điều anh nói, nhưng để sống chắc là đòi hỏi thời gian. Chắc chắn là cần thời gian vì thực sự tôi cũng đã dành gần 20 năm để sống điều mình khám phá đấy bạn ạ. Hèn chi... Mến chúc bạn mau tìm ra con đường nào thích hợp nhất cho mình rồi từ đó lên đường bằng những suy tư, khám phá, gặp gỡ, cảm nghiệm và xác tín...khiến cho cuộc sống đời Kitô hữu của bạn ngày càng dồi dào, bình an và hạnh phúc đích thực ¶
KÍNH MỪNG CÁC
THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT
KÍNH NHỚ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM Lm. Vũ Xuân Hạnh Tin Mừng đến với dân tộc Việt nam gần 500 năm, thì hết 300 năm, Giáo Hội Việt Nam thấm đẫm dòng máu các anh hùng tử đạo. Giai đoạn bách hại nặng nề nhất là vào thế kỷ 19, trong các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Cuộc bách hại để lại một trang sử đầy nghiệt ngã cho dân tộc Việt Nam: những người Việt Nam tàng nhẫn sát hại nhau. Chính những đồng bào Việt Nam chung cội, chung nguồn lẽ ra phải yêu thương nhau, lại quay mũi kiếm giết nhau hàng loạt. Thật vinh phúc cho Giáo Hội Việt Nam, một Giáo Hội còn non trẻ, nhưng lại căng tràn sức sống, đạp trên đầu sóng ngọn gió, vượt thắng mọi thử thách, mọi đau đớn, mà cho đến nay, dẫu đã qua đúng một thế kỷ, thời gian đủ bình tĩnh để suy niệm, sao vẫn còn nghe hãi hùng, vẫn còn nghe nhức nhối tâm can, làm lặng đi mọi tư tưởng, mọi lời nói, mọi thanh âm. Những người con đất Việt tưởng như gục ngã không thể gượng dậy nổi dưới bàn tay tàn bạo của làn kiếm, mã tấu, gông cùm, tù đày, lửa nung, bá đao, tùng xẻo, xiết cổ, chém bay đầu…, lại là sức mạnh ngàn đời của một đức tin không gì lay chuyển nổi. Bởi Thân xác các thánh Tử đạo dù bị giết, nhưng đức tin của các ngài thì không ai giết được. Một Giáo Hội còn non trẻ đến thế, lại có sức chịu đựng sự giày xéo quá sức tưởng tượng của người đời. Giờ nhìn lại sự nhiệm mầu của sức chịu đựng, ta chỉ còn có thể bật thốt lên như thánh nữ Têrêsa: “Tất cả là hồng ân.” Hồng ân nhận được không chỉ là một quà tặng, nhưng còn là một quà tặng vinh dự, một quà tặng của niềm kiêu hãnh thánh thiện. Hồng phúc tử đạo không chỉ là một hành động dâng hiến tận cùng mà còn là một dâng hiến vinh thắng tận cùng. Đó không là một vinh phúc lớn lao lắm hay sao! Một vinh phúc lớn lao mà một Giáo Hội còn non trẻ như Giáo Hội Việt Nam, lại có thể cùng Giáo Hội hoàn vũ đã qua mấy ngàn năm, vẽ thêm vào đó một đường lịch sử của đức tin không bao giờ mệt mõi, không bao giờ dừng lại. Các thánh Tử đạo đã viết sử bằng máu của mình. Còn chính Thiên Chúa, Người cũng đã làm cho Giáo Hội Việt Nam được khai sinh, lớn lên và phát triển nhờ dòng máu các thánh. Nếu cuộc bách hại để lại một trang sử đầy nghiệt ngã cho dân tộc Việt Nam, thì đối với đức tin, đó lại là một trang sử hùng tráng cho Giáo Hội Việt Nam nói riêng và Giáo Hội hoàn vũ nói chung: Bởi những người con đất Việt càng yêu mến quê hương, yêu mến bản thân mình, luyến tiếc cuộc đời, luyến nhớ người thân… và điều đặc biệt: yêu mến các vua quan là những người bên trên mình, thì càng yêu mến đức tin khôn cùng. Chính cái chết của các thánh Tử đạo là một lời nói xác quyết và chung quyết cho mọi lời tuyên xưng đức tin rằng: Không có bất cứ cái gì có thể ngang bằng đức tin… Hiểu rất rõ Chúa Giêsu, Đấng mà mình tôn thờ vượt trên tất cả, dẫu là chính bản thân các vua quan hay lệnh truyền của các vua quan đi nữa, không có gì sánh ví được với Đức Chúa mà lẽ ra các vua quan cũng phải tôn thờ, các thánh Tử đạo đã chối từ một cuộc sống dễ dãi. Hiểu rất rõ Chúa Giêsu, Đấng mà mình tôn thờ là Đức Chúa của mình, vì thế, dẫu chỉ là hai que củi vắt chéo trên mặt đất, bình thường chỉ là hai que củi không hơn, không kém, nhưng để biểu lộ đức tin, thì bất cứ một bàn chân giẫm đạp nào, bất cứ lời lụy mạ nào, hay bất cứ một hành động nào đối lại đức tin khi đứng trước hai que củi ấy, tất cả đều là sự chà đạp đức tin, chà đạp Giáo Hội, chà đạp chính Đấng mà mình tôn thờ. Ngược lại, bất cứ một hành động hay một lời nói nào để tuyên xưng đức tin mà phải tôn trọng hai que củi hình chữ thập ấy, điều đó không còn đơn thuần là hai que củi hình chữ thập nữa nhưng là hình tượng Thánh Giá, hình tượng của lòng tin, hình tượng của một tâm hồn quả cảm quyết một lòng tôn thờ Đức Chúa của mình! Hiểu rất rõ điều đó, cho nên dù chỉ là đối điện với hai que củi vắt chéo hình chữ thập, các thánh Tử đạo không chỉ đứng trước hai que củi, nhưng là đối diện với nỗi giằng co mạnh bạo, đối diện với sự chọn lựa không khoan nhượng, nhưng dứt khoát: đức tin hay cuộc sống trần thế. Và cái giá phải trả cho sự chọn lựa đứng về phía đức tin là bị tước đoạt tất cả những gì đang có trong cuộc trần. Bị tước đoạt cả sự sống, cả đến giọt máu sau cùng. Máu các thánh Tử đạo Việt Nam đã dệt đỏ thắm dòng lịch sử Giáo Hội Việt Nam, vì thế, các thánh Tử đạo mãi mãi vẫn xứng đáng sống trong lòng Giáo Hội và nơi từng người tín hữu Việt Nam. Vượt trên tất cả mọi tấm gương, vượt trên tất cả mọi bài học, máu các thánh phải là chính cuộc sống của những người Việt Nam Công giáo hôm nay, khi làm người Việt Nam giữa dân tộc mình, và làm người giữa đời ¶
Nhân ngày lễ kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xin
gởi đến anh chị em một vở kịch ngắn về vị thánh nữ duy nhất
của Giáo Hội tại Việt Nam. Không phải vì đàn bà Việt Nam thiếu
người thánh thiện, nhưng vì tục lệ của dân Việt không cho phép
vua quan giết đàn bà trẻ con.
Người
giới thiệu:
Bà thánh Đê không phải là một nữ tu, cũng phải là một chức sắc
nào cả trong giáo xứ, bà chỉ là một bà mẹ Việt Nam bình
thường, thế nhưng cuộc đời của bà đã trở nên phi thường vì bà
đã được diễm phúc sống những Lời sau đây của Chúa Giê-su:
(Ngừng
đọc và để nhạc nhẹ dẫn dần đến một bài thánh ca suy tôn cuộc
tử nạn của Chúa do ca đoàn và toàn dân cùng hát, hay thay bài
thánh ca bằng một vũ khúc suy tôn Thánh Giá).
Người giới
thiệu:
Bà Thánh Đê, nhủ danh là I-nê Lê Thị Thành, sinh tại làng Bái
Điền, địa phận Thanh Hóa, vào khoảng năm 1781; nhưng sau này
theo mẹ về quê sống tại làng Phúc Nhạc, địa phận Phát Diệm.
Năm lên 17 tuổi bà kết duyên cùng ông Nhất và sinh được 2
trai, 4 gái. Vì con trai đầu lòng tên Đê, nên theo tục lệ thời
ấy, dân chúng gọi hai người là ông bà Đê. Suốt 60 năm trời,
cuộc đời của bà êm đềm trôi qua trong nghĩa vụ làm người vợ
thảo, mẹ hiền.
Cảnh I
:
Cảnh công đường. Quan ngồi xử án. Lính lôi bà ra. |