Số 66 Ngày 03-12-2005

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Lạy Chúa Giêsu, Xin Ngự Đến! - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Sống Mùa Vọng Tỉnh Thức - Mong Manh

Anrê - Vị Tông Đồ Giàu Tình Bạn - Trần Duy Nhiên

Phỏng Vấn Thánh Phanxicô Xaviê – Hoàng Sóc Sơn

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D.

Ánh Sáng và Bóng Tối - Gm. Bùi Tuần

Chưa Tìm Được Thời Gian – Maranatha dịch

Nụ Hôn Của Bé -  Sưu Tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa quý độc giả,

 

Thứ tư ngày 30-11-2005, Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI đã gửi một sứ điệp đến đức thượng phụ của Giáo Hội Constantinople, nhân lễ thánh Anrê, là quan thầy của Giáo Hội này. Như mọi năm, một phái đoàn giám mục Rôma, dưới sự hướng dẫn của vị chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Thăng Tiến sự Hiệp Nhất Kitô Hữu, Đức Hồng Y Walter Kasper, đã đến Phanar để dự lễ quan thầy này.

Trong sứ điệp, Đức Thánh Cha nhắc rằng năm nay là kỷ niệm 40 năm ngày gặp gỡ giữa đức thượng phụ Athénagoras và Đức Phaolô VI, và tiếp nối con đường của những vị tiền nhiệm, ngài xác định lại lời cam kết là cổ võ cho việc đối thoại, đồng thời tỏ ý định muốn đến Istanbul trong thời gian sớm nhất.

Đức Thánh Cha bày tỏ rằng “Giáo Hội Công Giáo cam kết cổ võ cho mọi sáng kiến hữu ích để củng cố đức ái, tình liên đới, và đối thoại thần học’ và hy vọng sẽ đạt đến một ‘sự hiệp thông ngày càng sâu xa hơn, để vượt qua những trở ngại còn tồn tại,’ để rồi hai Giáo Hội có thể ‘cùng cử hành Thánh Thể, hy lễ của Chúa Kitô nhằm đem sự sống cho thế gian.’

Trong khi thánh Anrê được rất mực tôn kính trong Giáo Hội Chính Thống, thì các tín hữu Công giáo lại không hề để ý đến vị thánh đặc biệt này trong khi thánh Anrê chính là vị tông đồ tiên khởi, và là người đã đưa Phêrô đến gặp Chúa Giêsu. Có lẽ vì thế mà trong những ngày bắt đầu niên lịch phụng vụ, Giáo Hội đã  dành để mừng kính hai vị thánh có hai chiều kích Tin Mừng hoàn toàn trái ngược nhau: Thánh Anrê, ngày 31-11 và thánh Phanxicô Xaviê, ngày 3-12.

Thánh Phanxicô là một con người sáng chói. Rất trẻ, ngài đã là một giáo sư triết học nổi danh tại Paris, khiến ngài có khuynh hướng tự phụ và chạy theo vinh dự thế gian. Trong thời gian này, I-nhã Loyôla cũng đến Paris để nâng cao kiến thức của mình. I-nhã là một tâm hồn thao thức muốn tìm những người bạn xuất sắc để đặt nền tảng cho Hội Bạn Hữu Chúa Giêsu (Compagnie de Jesus), mà sau này trở thành vị sáng lập Dòng Tên (của Chúa = Giêsu). I-nhã nhận ra nơi Phanxicô một con người có thể thực hiện được những việc lớn, nên kết bạn với vị giáo sư trẻ này. Trong quá trình trò chuyện, I-nhã thường nói với Phanxicô: ‘Được lời lãi cả thế gian, mà mất linh hồn thì có ích gì?’ Câu nói này cứ thấm dần đến độ Phanxicô cũng bị Thiên Chúa thu hút như I-nhã. Ngày 15-8-1534, I-nhã và Phanxicô cùng năm thanh niên khác đã tuyên khấn ở nguyện đường dưới hầm nhà thờ Montmartre, và đấy cũng là ngày Dòng Tên được khai sinh.

Năm 1537 được thụ phong linh mục ở tuổi 31, thì bốn năm sau, Phanxicô Xaviê vui mừng vì đuợc phái đi truyền giáo tại Ấn Độ. Ngài đến Goa, lúc bấy giờ là kinh đô của Ấn Độ, một thành phố đã bị con buôn Bồ Đào Nha đã làm cho dân địa phương có một cái nhìn đầy ác cảm với Kitô giáo. Với nỗ lực truyền giảng và cầu nguyện, ngài đã hoán cải được thành phố ấy. Sau sứ mạng này, một sứ mạng khác chờ đợi ngài.

Đối diện với muôn ngàn khó khăn, xuất phát từ việc không biết gì về ngôn ngữ, văn hóa địa phương, kèm với những cuộc săn đuổi, cấm đoán, xuất phát từ những nhà lãnh đạo tôn giáo sở tại, không mặn mà gì với Kitô giáo. Thế nhưng trong 11 năm rong ruổi, ngài đã truyền giảng phúc âm cho 52 lãnh thổ khác nhau, bao gồm nhiều hòn đảo từ Ấn Độ đến Biển Đông, và rửa tội cho không biết bao nhiêu là tân tòng. Thành công lớn nhất của Ngài là chinh phục đuợc nước Nhật. Năm 1552, tuy mang bệnh nặng nhưng đức ái Chúa Kitô đã thúc bách ngài ra biển chờ thuyền sang Trung Hoa, và khi thuyền chưa kịp đến thì ngài đã chết trên bờ, với cặp mắt hướng về miền đất mà ngài khao khát đặt chân tới. Ngài qua đời khi chưa tròn 46 tuổi! 

Ngược lại với thánh Phanxicô, trong các sách của Tin Mừng và cả trong truyền thống Giáo Hội, thánh Anrê là vị tông đồ thật mờ nhạt, và cái mờ nhạt của ngài cũng mang chiều kích tông đồ bất ngờ trong chương trình của Thiên Chúa và công cuộc rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu. Hai thái cực của đời sống đạo, được biểu trưng bằng hai vị Kitô hữu điển hình, một Anrê âm thầm ở thế kỷ thứ nhất, một Phanxicô Xaviê ngang dọc bốn phương trời để rao giảng Tin Mừng vào thế kỷ thứ 16, đã được nhắc đến vào những ngày đầu Năm Phụng Vụ và cũng bắt đầu cho Mùa Chờ Mong.

Maranatha_66 với tâm tình khao khát chờ mong Chúa Đến với nhiều chiều kích khác nhau của Mùa Vọng để chúng ta có thể sống đúng với ý nghĩa của sự chờ đợi trong Mùa Tím này: (1) Chúng ta sống lại tâm tình của dân Do Thái chờ đợi Đấng Messia, nghĩa là chờ đợi ngày ra đời của Chúa Giêsu cách đây hơn 2000 năm. (1) Đồng thời, chúng ta cũng chờ đợi Chúa Kitô đến vào ngày cánh chung. (3) Ngoài ra, khi đang sống giữa chờ mong của thời gian hiện tại và lữ hành chờ mong Chúa đến trở lại, chúng ta khắc khoải chờ đợi hằng ngày xin Chúa Kitô đến trong Giáo Hội của ngài.

Cũng vì thế, Mùa Vọng cũng là mùa để tự thẳm sâu tâm hồn mỗi tín hữu, chúng ta luôn vang vọng lời cầu xin tha thiết hơn bao giờ: Maranatha! Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!

MARANATHA

  

 

 

LẠY CHÚA GIÊSU, XIN NGỰ ĐẾN

Lm. Vũ Xuân Hạnh

“MARANATHA - LẠY CHÚA GIÊSU, XIN NGỰ ĐẾN!” (Kh 22, 20), điệp khúc của mùa Vọng, tiếp tục vang lên trong mùa Vọng 2006 này.

Sống mùa Vọng, Hội Thánh mượn lại tâm tình trông chờ Chúa Cứu Thế của người Cựu Ước để sống niềm hy vọng Người kết thúc thời Tân Ước và dẫn đưa đoàn dân mới vào Giêrusalem mới có Trời mới Đất mới. Trong hy vọng cánh chung ấy, Hội Thánh không ngớt cầu nguyện: “Maranatha - Lạy Chúa Giêsu xin ngự đến!”

“Maranatha - Lạy Chúa Giêsu xin ngự đến!” là lời cuối cùng trước khi kết thúc sách Khải Huyền, quyển sách cuối cùng của toàn bộ Thánh Kinh Kitô giáo do thánh Gioan Tông đồ, “Người môn đệ Chúa yêu” viết.

Như vậy, sách Khải Huyền kết thúc, nhưng không phải đã kết thúc sứ mạng của Chúa Giêsu. Quyển Thánh Kinh đã kết thúc với sự kết thúc của sách Khải Huyền, vẫn chỉ là kết thúc một quyển sách Thánh chứa đựng Lời mạc khải của Thiên Chúa, chứ không bao giờ kết thúc triều đại của Chúa Giêsu.

Cũng giống như mạc khải của Chúa Giêsu đã kết thúc với cái chết của thánh Gioan, vị Tông đồ cuối cùng trong hàng ngũ Tông đồ, vẫn chưa từng kết thúc những tiến triển và những khám phá phong phú mà kho tàng mạc khải gợi hứng cho Hội Thánh.

Và cũng như ơn cứu độ từ ngàn xưa của Thiên Chúa đã kết thúc nơi cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu, vẫn chưa bao giờ ngừng chảy trong lòng thế giới, giữa vô số những tâm hồn thành tâm thiện chí từ đời nọ đến đời kia.

Cũng vậy, việc trao ban Thánh Thần của Chúa Giêsu đã hoàn tất trong ngày lễ Hiện Xuống, vẫn chỉ là một khởi đầu cho triều đại của ơn Thánh Hóa mà Chúa Giêsu thực hiện nhờ Thánh Thần của Người.

Tất cả những kết thúc đã từng xảy ra trong dòng Lịch Sử Thánh mà Thiên Chúa đã thực hiện giữa loài người, chưa bao giờ kết thúc, nhưng vẫn chỉ là sự khởi đầu cho những kết thúc mới. Bởi thế, những gì Thiên Chúa đã thực hiện nơi Chúa Giêsu để nhân loại hưởng nhờ, vẫn là khởi điểm, là sự hướng về và nhắm phục vụ hạnh phúc đời đời của loài người. Bởi chỉ nhận ra tỏ tường rằng thế giới vẫn không ngừng khởi đi từ những kết thúc, nhờ chính vai trò kết thúc và khởi điểm của Chúa Giêsu, đúng như sách Khải Huyền khẳng định: Chúa Giêsu “là Anpha và Ômêga, là Đầu và là Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng” (Kh 22, 13) Vì thế, Hội Thánh không những không bao giờ dừng sự hy vọng của mình nơi Chúa Giêsu, mà còn tin tưởng mạnh mẽ và tha thiết kêu nài Người ngự đến (Kh 22, 20).

Nhưng chúng ta không thể chỉ biết hô to khẩu hiệu của mùa Vọng: xin Chúa ngự đến, mà không dấn thân để Chúa ngự đến trong chính tâm hồn mình, trong anh chị em xung quang, trong thế giới mà mình đang hiện diện và đồng hành. Đó là khả năng, là niềm vinh dự Chúa ban cho từng người, nhưng cũng là trách nhiệm đòi buộc trong từng ngày sống của mình. Vậy, tôi thử đề nghị vài cách thức chúng ta cần làm để Chúa ngự đến trong chính mình và nơi mọi người:

1. Chấp nhận chính mình.

Trước hết, phải nói ngay rằng, chấp nhận chính mình mà tôi muốn đề cập ở đây không có nghĩa là một thái độ an phận, sống “tà tà”, ù lỳ, tự biện hộ cho khả năng yếu kém, không muốn làm việc, không muốn vươn lên, thậm chí có khi còn ngụy biện cho những sai trái, kể cả tội lỗi của mình.

Nhưng chấp nhận chính mình là thái độ tích cực của người nhận biết mình, để rồi luôn cố gắng, nỗ lực hết sức để cải thiện mình, làm cho mình ngày một hoàn hảo hơn. Thái độ chấp nhận mình theo nghĩa tích cực này rầt cần thiết cho người Kitô hữu trong đời sống đức tin.

Nếu chúng ta không bằng lòng với mình, chắc chắn sẽ không bao giờ bằng lòng với bất cứ ai, trong bất cứ việc gì, hoàn cảnh nào. Vì thế, chấp nhận chính mình sẽ giúp ta dễ đón nhận anh chị em hơn. Ta cũng có thể dễ dàng thánh hóa mọi môi trường, mọi nghịch cảnh mà mình phải gánh lấy.

Chấp nhận chính mình, ta sẽ yêu mến Thánh Giá Chúa Kitô đang diễn lại trong chính đời sống hôm nay của ta. Nhờ đó, ta ngày càng kết hiệp mật thiết với Thánh Giá Chúa, trở nên thánh thiện như Chúa muốn, nhằm bổ túc hình ảnh Thánh Giá của Chúa trong chính đời sống của ta. Sự chấp nhận ấy, đã từng được thánh Phaolô chia sẻ: “Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Sự gì còn thiếu nơi cuộc khổ nạn của Đức Kitô vì thân thể Người là Hội Thánh, thì tôi xin góp phần để hoàn tất.” (Cl 1, 24).

2. Thanh luyện bản thân.

Hình ảnh viên đá cuội trên bãi biển cho ta bài học về sự thanh luyện bản thân. Hết thời gian này đến thời gian khác, viên đá tự mài mòn, gọt dũa trong không biết bao nhiêu con thủy triều và hàng vạn vạn lớp sóng nhỏ to xô đẩy. Đến một ngày viên đá trở nên viên đá cuội không còn một góc cạnh nào, nhưng trơn bóng.

Cũng vậy, thanh luyện bản thân là ta tự gọt dũa, mài mòn những góc cạnh xù xì, gai nhọn trong tương quan sống với chính mình, với anh chị em, với tất cả những hoàn cảnh sống mà mình gặp phải.

Thanh luyện bản thân từ lời ăn tiếng nói, cử chỉ, cái nhìn, diện mạo bên ngoài đến đời sống tâm hồn như bỏ đi một thói quen xấu, một đam mê tội lỗi, bỏ đi những cái nhìn ghen tương, ganh tỵ, nuôi trong lòng sự oán giận, căm thù, óc hẹp hòi, tham lam của cải, mê quyền lợi, quyền lực, kiếm tìm danh giá, dù chỉ là danh giá ảo.

Thánh Phaolô hướng dẫn chúng ta cách thức thanh luyện bản thân mình: “Anh em hãy mặc lấy những tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm cung, ôn hòa, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau và tha thứ cho nhau, nếu người này có chuyện phải oán trách người kia. Như Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau. Trên hết mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương, đó là dây ràng buộc điều toàn thiện.” (Cl 3, 12- 14).

3. Loại bỏ việc giữ đạo duy hình thức.

Coi trọng hình thức mà không nhắm đến nội dung là một nguy cơ có thể dẫn tới mất linh hồn. Bởi biết bao nhiêu người, biết bao nhiêu lần, chỉ quen sống và làm việc đạo đức mà bỏ qua rất nhiều tinh thần của việc đạo đức. Nếu như thế, thì sống cả một đời không hề có một chút công nghiệp nào trước mặt Chúa, bởi họ không giữ Chúa bằng nội tâm của mình qua tất cả các việc làm, nhìn bên ngoài có vẻ thánh thiện, tốt lành, nhưng bên trong chứa đầy những ẩn ý như: khoe khoan, tự cao, tự đắc, kiêu ngạo ngầm.

Nếu sống như thế, ta chẳng khác gì những Pharisêu, những Biệt phái thời Chúa Giêsu. Họ rất “ngoan đạo”, họ giữ kỹ và luôn luôn đề cao mọi thực hành đạo đức cá nhân và tập thể, coi trọng và gìn giữ kỹ lưỡng truyền thông đức tin của cha ông. Họ yêu mến Thiên Chúa, vì thế, họ cầu nguyện nhiều. Họ nhân danh Thiên Chúa trong suốt đời sống của họ. Nhưng thật nghiệt ngã và mỉa mai: chính họ giết chết chính Đấng là Thiên Chúa làm người, đồng thời tự tách mình khỏi ơn cứu độ của Người.

Cũng giống các Pharisêu và biệt phái ưa chuộng hình thức, chúng ta đã nhiều lần lên án anh chị em, đã nhiều lần gây tổn thương anh chị em, chai cứng lòng mình, trởû nên kiêu ngạo vì tự tưởng tượng rằng mình đạo đức. Đúng là đạo đức, nếu chỉ nhìn từ bên ngoài. Rõ ràng, trước mắt mọi người, mình rất đạo đức, sống rất gần Thiên Chúa. Nhưng thực tế chua chát làm sao, bởi tất cả đều chỉ là cái vỏ bọc mà thôi.

Duy hình thức: nguy hiểm vô cùng!

4. Đón nhận ý kiến xây dựng của anh chị em.

Thay vì đón nhận người khác và những gì họ đề nghị với mình, vốn rất tự nhiên, chúng ta nổi nóng, dễ ác cảm với người đang có ý kiến với mình.

Chúa Giêsu đã từng dạy ta hãy sữa lỗi cho nhau trong tình huynh đệ, không phải một lần, mà đến ba lần, và mức độ tăng dần lên: lúc đầu hai người với nhau. Nếu không nghe, sẽ cậy nhờ hai hay ba người để cùng sửa lỗi. Vẫn không nghe, thì đem ra cộng đoàn. Nếu vẫn không thành công, kể như người mắc lỗi bị loại ra khỏi đời sống cộng đoàn, giống như một người ngoại (Mt 18, 15- 17).

Bị kể như người ngoại, đó là hình phạt của những kẻ cố thủ trong những sai lầm của mình. Chúng ta đừng như thế, nhưng hãy mềm dẻo đón nhận ý kiến của anh chị em, nhờ đó, ơn phần rỗi mà Chúa trao ban thuộc về chúng ta. Nếu không, sẽ bị kể như dân ngoại, cũng có nghĩa là bị loại khỏi ơn cứu rỗi.

Độc ác hơn, nhiều người được góp ý, chẳng những không sửa lỗi, lại còn trả thù, tố ngược lại người giúp đỡ mình. Đó chính là thái độ của các nhà lãnh đạo chính quyền và lãnh đạo tôn giáo Do thái thời Chúa Giêsu. Họ đã dồn nén sự tức tối, sự căm thù đối với Chúa Giêsu, vì nhiều lần, Chúa dám vạch trần tội lỗi của họ. Kết quả của những dồn nén ấy, chính là việc thủ tiêu Chúa Giêsu, để họ được rãnh mắt, rãnh tay sống theo cách của mình.

Chúng ta mà sống như thế, chẳng những cản trở sự ngự đến của Chúa, mà còn tự hủy diệt mình trong cuộc sống đời đời.

5. Luôn sống tâm tình tạ ơn Chúa.

Chúng ta có gì mà đã không đón nhận từ Thiên Chúa! Vì thế, luôn luôn sống trong tâm tình biết ơn Chúa là điều cần thiết và cấp bách.

Chúa Giêsu là mẫu gương cho chúng ta trong việc sống lòng biết ơn này. Tin Mừng nhiều lần cho biết Chúa Giêsu “dâng lời cảm tạ” Chúa Cha (Mt 26, 26- 28).  như “Lạy Cha là Chúa trời đất, con ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, mà lại mạc khải cho những người bé mọn” (Lc 10, 21). hoặc “Lạy Cha, con tạ ơn Cha, vì Cha đã nhậm lời con” (Ga 11, 41).

Việc tạ ơn Thiên Chúa của Chúa Giêsu là tấm gương sáng, đặc biệt quan trọng và cần thiết thúc giục chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh, suốt đời mình.

Việc tạ ơn của Chúa Giêsu cũng thúc giục ta hãy nhân danh Người mà tạ ơn Thiên Chúa. Ta cũng được mời gọi mượn lấy tâm tình con thảo, vâng phục, khiêm cung của Chúa Giêsu mà tạ ơn Thiên Chúa.

Thánh Phaolô đã chẳng hướng dẫn chúng ta thực hành việc tạ ơn như thế đó sao: “Trong mọi hoàn cảnh và trong mọi sự, các con hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha” (Ep 5, 20).

Chúa Giêsu sẽ ngự đến nơi lời cầu nguyện và tạ ơn Thiên Chúa của chúng ta. Bởi chính trong sự cầu nguyện xuất phát tự lòng tin, đã là một tâm hồn chất chứa chính Chúa Giêsu.

6. Ý thức truyền giáo.

Để có thể truyền giáo, trước nhất người truyền giáo phải mang trong tâm tư mình ý thức truyền giáo và nuôi dưỡng nhiệt tình truyền giáo suốt đời mình. Ấp ủ trong tâm tư mình ý thức truyền giáo, đồng nghĩa với việc người truyền giáo luôn nuôi dưỡng hình ảnh Chúa Giêsu, để chính hình ảnh đó đồng hành với mình, thúc đẩy mình dấn thân truyền giáo. Bởi chỉ khi nào nơi người truyền giáo có Chúa, họ mới có thể đưa Chúa đến anh chị em của mình.

Hình ảnh Đức Maria đi thăm viếng bà Isave, làm cho Mẹ trở nên mẫu gương của nhà truyền giáo, bởi trước khi Mẹ mang Chúa Giêsu nơi thân xác mình đến gia đình bà Isave, Mẹ đã mang Chính Thiên Chúa trong tâm tư của Mẹ suốt những chuỗi ngày sống.

Cũng vậy, để hiệu quả Chúa đến trong lòng người được phát sinh, người truyền giáo không thể chỉ làm truyền giáo, nói truyền giáo, mà còn phải sống truyền giáo. Bởi khi sống truyền giáo, dù một người chỉ sống suốt đời trong bốn bức tường của đan viện, vẫn có thể trở thành nhà truyền giáo lỗi lạc.

Hoặc diễn tả cách hình ảnh như thánh Phaolô: “Anh em là bức thư của Đức Kitô được trao cho chúng tôi chăm sóc, không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người.” (2Cr 3, 3).

Hiểu được tầm vóc hết sức quan trọng của việc truyền giáo, người truyền giáo sống gắng bó với Chúa Giêsu mật thiết đến nỗi, tâm hồn họ là chính bức thư Chúa gởi cho anh chị em mình. Nói cách khác, để đem Chúa đến cho anh chị em, người truyền giáo phải sống làm sao để khi anh chị em nhìn thấy họ là nhìn thấy chính Chúa Giêsu trong họ. Đó là sống truyền giáo.

Nếu nuôi dưỡng và ý thức truyền giáo được như thế, chúng ta đã làm cho lời cầu nguyện “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!” trở thành hiện thực.

****

Vài suy nghĩ về việc sống điệp khúc mùa Vọng “Maranatha - Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” như thế, giúp bản thân tôi tới gần Chúa hơn. Gần Chúa cũng có nghĩa là, Chúa đã đến trong tôi. Tôi tin như thế. Nguyện xin Chúa hãy hoàn tất nơi tôi những gì Người đã khởi đầu, và xin Người khởi đầu nơi tôi những gì Người chưa kết thúc.

Sống mùa Vọng, trong tâm tình của “Người môn đệ Chúa yêu”, tôi mượn lại chính lời cầu nguyện của thánh Gioan Tông đồ để hết lòng dâng lời cầu xin: “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!” Chúa Giêsu làm cho lòng tôi tràn ngập chính Người, để tôi biết chấp nhận mình, từ đó thanh luyện bản thân, tránh mọi lối sống đạo hình thức, biết lắng nghe để sửa đổi bản thân nên hoàn thiện hơn. Chúa Giêsu đến tràn ngập tâm hồn tôi, giúp tôi sống tâm tình tạ ơn Thiên Chúa suốt đời mình. Với tâm tình tạ ơn đó, tôi sẽ reo lên vui mừng như lời thiên thần đã từng chúc tụng Đức Maria: Tôi “đã được ân sủng của Chúa Giêsu” (Kh 22, 21/Lc 1, 28).

Sống mùa vọng, trong tâm tình “Người môn đệ Chúa yêu”, tôi nguyện xin Chúa Giêsu ngự đến để chuẩn bị trong tôi đón mừng lễ Giáng sinh thánh thiện và chính Người sẽ thực sự nhập thể và hạ sinh trong lòng tôi. Tôi tin, khi tôi có Chúa Giêsu, tôi sẽ can đảm sống ý thức truyền giáo và để cho niềm ý thức ấy choáng ngập tâm tư tôi, suốt đời sống của tôi.

Sống mùa Vọng, mượn lấy tâm tình của “Người môn đệ Chúa yêu”, tôi xin Chúa Giêsu hãy ngự đến dẫn đưa thế giới này đi vào quỹ đạo cánh chung, để tất cả mọi người sống trong niềm vui ơn cứu độ mà chính Chúa Giêsu đã thực hiện. Xin Người hoàn tất thế giới trong bình an vĩnh cửu vì, “mãi mãi Người vẫn cứ là Đầu và là Cuối.” Là Đầu và là Cuối, Chúa Giêsu kết thúc thế giới này, nhưng lại khởi đầu một triều đại mới trong khung cảnh của Trời Mới Đất Mới, nơi có thành thánh Giêrusalem mớ

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

 

 SỐNG ĐỨC TIN

 

 

SỐng Mùa VỌng TỈnh thỨc

Mong manh

Nỗi trăn trở

Khi nghe chia sẻ nơi các nhóm, khi nghe những câu hỏi với những thắc mắc, khi chứng kiến những cuộc sống chung quanh, khi nghe giảng giải trên tòa giảng, khi đọc những bài viết tâm tình hoặc những bài gợi ý chia sẻ Tin Mừng soạn sẵn... thường làm cho tôi suy nghĩ và trăn trở. Nhất là những buổi tối, nghe hoặc đọc, là thế nào cũng làm cho tôi khó ngủ vì những điều suy nghĩ và trăn trở đó. Đôi khi bị ảnh hưởng đến sức khỏe. Do đó mà lương y y tá vẫn định bệnh là vì tôi lo lắng vất vả với những gánh nặng của tu viện, của giáo xứ, của Cộng Đoàn nhiều quá... nhưng thật ra những chuyện đó, ngược lại, rất thanh thản, bình an lại còn hạnh phúc nữa chứ ! nào ai dễ tin ?

            Không muốn sống hình thức với những lý thuyết xa lạ, những kiến thức mông lung, những tư tưởng trừu tượng... rồi điệu bộ ra vẻ đạo đức thánh thiện xa cách... Vì thế, chuyện khó khăn trăn trở đó là làm sao để tôi có được một lòng tin chân thật, một lòng mến sắt son, một lòng cậy trông vững vàng. Rồi từ đó với kinh nghiệm tôi có thể đồng hành và chia sẻ cho người khác, bằng những việc thực hành cụ thể. Bước vào Mùa Vọng năm nay lại nghe lại đọc thấy : Chúng ta phải tỉnh thức, phải chuẩn bị, phải sẵn sàng... Chúa đến thật bất ngờ, thật đột ngột. Ngày cùng tận của vũ trụ, ngày cùng tận của mỗi người... là những đề tài được khai thác triệt để, phong phú và sinh động với những câu chuyện kèm theo. Nhưng chân thành tự hỏi lòng mình là những điều ấy có làm cho tôi thay lòng đổi dạ không? Có phải chỉ là những điệp khúc nhai đi nhắc lại hằng năm mà có dính dáng gì đến đời tôi không? Cũng có thể nhấn thêm một chút về những câu chuyện chết đột xuất, chết tức tưởi, chết không kịp ngáp, chết tan tành xương thịt... làm cho lo sợ khiếp vía nhưng những chuyện “khủng bố” tinh thần đó có giúp cho tôi sốt sắng đạo đức được mấy ngày, bởi công việc trần gian lại cuốn hút tôi vào mê hồn trận? Những lời khuyên là hãy sống tỉnh thức, hãy sống sẵn sàng để đón Chúa đến bất cứ lúc nào (chết) bằng cách sống yêu thương, sống phục vụ, làm tông đồ bác ái... nhưng thật lòng mà nói cái bên trong hồn tôi có được ổn không, có được nâng đỡ không, nếu không được dựa trên cái chân đế là nền tảng đức tin?

          Sống Mùa Vọng Tỉnh Thức, đó là sống đức tin gặp gỡ liên đới với Đức Kitô trong cuộc sống thường ngày. Sống trong trần gian nhưng không bị trần gian lôi cuốn đè bẹp mà luôn nhận ra khuôn mặt thật của Thiên Chúa trong phút giây cuộc đời, trong những công việc nhỏ bé, trong những biến cố lớn lao. Khi sống được như thế thì sẽ chẳng bị giật mình hoảng loạn vì những chuyện bất ngờ đột ngột xảy đến cho dẫu bầu trời có sụp đổ và thân xác có tan tành. Thiên Chúa đã đến rồi, và Ngài vẫn đang đến, qua phong cảnh cây cối chim trời cá biển muông thú rừng hoang... qua những con người chung quanh, gặp gỡ sống động chứ không phải cỗ máy để tôi điều khiển... qua Lời Chúa mỗi ngày thấm vào lòng tôi ... qua các Bí tích nhất là Bí tích Thánh Thể để tôi tự tình...

            Vậy thì vấn đề không mấy phải lo, phải nhấn mạnh về việc Chúa đến lần thứ hai, bởi Ngài đến như thế nào thì Kinh Thánh đã nói mà chúng ta cũng chẳng cần phải đoán non đoán già và khai thác đề tài một cách chi tiết về cái ngày ấy. Nhưng là ngay hôm nay, Đức Kitô có dính dáng gì đến đời tôi không? Tôi và Ngài đã có một lần gặp gỡ để rồi trở nên thân thiện đằm thắm trong tình bạn chưa ? Tôi và Ngài đã có những chuyện kỷ niệm vui buồn với nhau rồi có thể kể đi kể lại cho người khác nghe mà vẫn cứ hấp dẫn mãi không ? Tôi và Ngài có gắn bó chặt chẽ để tôi có thể sống thanh thản bình an trong mọi tình huống biến cố cuộc đời chăng? Và muốn có được như vậy thì...

Nhờ qua biến cố

Tôi có được lòng tin sống động là nhờ qua biến cố tác động ở bên trong hoặc ở bên ngoài.

* Tác động biến cố bên ngoài ảnh hưởng bên trong và làm thay đổi toàn bộ con người, nhận ra một đường hướng sống. Các bài đọc Cựu Ước nói lên cảnh lưu đày nhọc nhằn ô nhục của dân Ít-ra-en và nỗi khát khao trở về quê hương xứ sở, về đền thờ của mình. Qua đó, lòng dân được thay đổi “để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ... Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liếm nên hái”. Trong Tân Ước, các môn đệ, đặc biệt các tông đồ, bước theo Đức Kitô tưởng là chức quyền danh vọng trong tầm tay nhưng khi chứng kiến Thầy mình chết trần trụi treo trên thập giá thì trước mặt các ông cả một bầu trời sụp đổ trơ trụi thảm hại tan tành mây khói, và khi Đức Giêsu Phục sinh thì cũng chính là lúc Người làm cho các ông “sống lại”. Qua biến cố ngã ngựa của Phaolo đã làm cho ông tỉnh thức. Qua những biến cố tác động thua thiệt mất mát trớ trêu của lịch sử cuộc đời đã sản sinh ra các thánh nhân. Cũng thế, nhiều con người xưa nay đã chứng kiến hoặc đã gặp những biến cố những hoàn cảnh éo le khốc liệt đến nỗi không còn đâu mà bám víu... một đất nước thay đổi rồi khăn gói quả mướp đi học tập, chứng kiến một người thân qua đời, chứng kiến một tan nạn xe cộ máy bay khủng khiếp, chiến tranh loạn lạc gươm giáo súng đạn máu me, bão táp lụt lội nước trôi gió cuốn, núi đồi sụt lở biển gầm sóng vỗ... chứng kiến những cảnh hoang tàn ghê rợn quá sức chịu đựng của con người. Vâng, qua những tác động bên ngoài đó con người sẽ tự cảm thấy thân phận nhỏ nhoi mỏng giòn giới hạn bế tắc của kiếp người (biết mình) không còn dám tự hào cậy vào sức mình, không còn gì để bám víu đảm bảo cho mạng sống, lòng ham muốn tư lợi ích kỷ vun vén thu tích của cải chức quyền địa vị đều nhận rõ ra khuôn mặt thật chỉ toàn là những ảo tưởng, giả dối, ru ngủ, che đậy, đè bẹp, bịp bợp, lừa đảo... Khi thấy rõ sự việc, khi nhận ra sự thật thì tất cả mọi chuyện đều trở nên tương đối trừ một mình Thiên Chúa.

* Tác động của lòng khát khao từ bên trong. Khi không bằng lòng với những nếp sống đạo sáo mòn trống rỗng, những thói quen máy móc, những nghi thức vô hồn xa xôi, những bài thuyết pháp mơ hồ lạc lõng, những lời kinh khô khan lạnh nhạt chẳng dính dáng đến đời mình, những sinh hoạt rầm rộ um oé mau qua, những đấng bậc quan cách trịch thượng luôn được ưu đãi che lấp cả Chúa, những nề nếp giáo dục đào luyện khắt khe triệt buộc... Tôi không thể sống mãi với lối sống đạo “rối” như mớ “bòng bong” đó nên nó đã thúc bách tôi khao khát đi tìm một sự thật. Lòng khát khao cháy bỏng trong tôi đưa dẫn tôi khám phá ra sự thật mà sự thật thì không trông chờ ở nơi người khác nhưng là ở trong chính tôi. Sự thật trong chính tôi là tôi nhận ra con người giới hạn bất toàn hèn kém của mình, nhận ra sự trống rỗng cô đơn khát mong được lấp đầy, nhận ra những ảo tưởng đang tự mãn bao bọc con người tôi. Sự thật nơi chính Chúa là tình thương yêu, thương yêu nhưng-không, thương yêu mà không cần biết tôi có xứng đáng hay không xứng đáng, thương yêu tôi trước khi tôi nhận ra lòng yêu thương của Người. “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6)

* Tác động bởi người chung quanh. Với những người sống chung quanh tôi đã thể hiện ra cuộc sống một đời sống đức tin sống động, đã biểu lộ ra hình ảnh Đức Kitô khiêm nhường và hiền lành trong lòng, đã cùng với Đức Kitô đón nhận những khó khăn thua thiệt mất mát về phía mình... Với những tâm tình của bài viết, những lời chia sẻ đầy Thần Khí có tình cách thuyết phục... Tất cả những chuyện đó làm tôi có cảm tình và đã ảnh hưởng vào đời sống của tôi, giúp đỡ tôi thực hành lên đường đi tìm để gặp gỡ một Đấng mà Đấng ấy đến để tôi được sống và sống dồi dào. Người ta vẫn nói gần mực thì đen gần đèn thì rạng mà lị!

Kết

            Sống Mùa Vọng năm nay, tôi sẽ sống nỗi khát vọng sâu xa mà Chúa đã gieo vào lòng tôi để tôi thực hành trong cuộc sống bằng cách nào đó có thể gặp gỡ được Người. Có được như thế mới là một đời sống đức tin sống động, một sự tỉnh thức đúng nghĩa nhất

Trở về mục lục >>

 

 

 


 

ANRÊ - VỊ TÔNG ĐỒ GIÀU TÌNH BẠN

(Ga 1, 41 – 42)

Trần Duy Nhiên

Ông đang lắng nghe Gio-an Tẩy Giả. Ông là một trong những người đã đến để nghe vị tiên tri man dã này. Ông nghe rõ Gio-an đang nói, tay chỉ về phía Giê-su: "Đây Chiên Thiên Chúa...” (Ga 1, 29 – 36).

Tò mò và kích thích, ông theo Giê-su. Đức Giê-su thấy ông theo bèn hỏi ông muốn gì. An-rê và bạn ông thưa rằng họ muốn tiếp chuyện với Người. Chắc hẳn không chỉ là một buổi nói chuyện bình thường vì họ còn nhớ rõ thời giờ: "Lúc đó khoảng giờ thứ mười" ( Ga 1, 39 )... Một giờ đầy ý nghĩa đối với An-rê, giờ của quyết định, giờ của cơ hội, giờ thay đổi cả cuộc đời ông.

Ông ra về với một niềm xác tín: "Giê-su là Chiên Thiên Chúa," Giê-su là Đấng Mê-si-a, Đấng được Thiên Chúa sai đến mà bao thế hệ hằng mong đợi.

Bấy giờ An-rê chỉ còn nghĩ đến một người: đó là em trai mình, Si-môn Phê-rô. Ông bắt buộc phải nghĩ đến Phê-rô. Ông đã sống dưới bóng của chính người em ruột mình từ tấm bé: luôn luôn là Phê-rô thế này, Phê-rô thế nọ. Lúc nào cũng Phê-rô. Phê-rô là trung tâm điểm. Phê-rô là vì sao sáng. Phê-rô là kẻ đứng đầu. An-rê biết rằng Phê-rô có những khả năng mà mình không có. Dù sao thì cậu em Phê-rô cũng phải gặp Chúa Giê-su: "Trước hết, ông đến gặp em mình" ( Ga 1, 41 ).

An-rê là môn đệ đầu tiên theo Chúa Giê-su nhưng lại không hề được ghi đầu trong bất cứ danh sách Tông Đồ nào. Luôn luôn là Phê-rô đứng đầu, rồi mới đến An-rê. Trong Tin Mừng Mác-cô và Tông Đồ Công Vụ, tên ông ghi đến hạng thứ tư.

Có lẽ suốt đời mọi việc đều xảy ra như thế.

Ở trường, Phê-rô là người trả lời nhanh nhất.

Ngoài sân chơi, Phê-rô là quản trò.

Khi giao thiệp, bạn bè vây quanh Phê-rô.

Trong công việc chài lưới, Phê-rô giải quyết mọi việc.

Phê-rô ra lệnh và An-rê trong bóng mờ lủi thủi thi hành.

Khi gặp An-rê, người ta thường hỏi:

"Anh tên là gì ? À, nhớ ra rồi, anh là anh của Phê-rô".

Đóng vai phụ đâu phải là dễ, nhất là phải đóng suốt đời,

ngày này qua ngày khác,

tuần này qua tuần nọ,

tháng này đến tháng kia,

trong mọi việc,

trong mọi lúc,

trong mọi nơi.

Sống nấp bóng một người em chói lòa đâu phải dễ !

Và bây giờ, An-rê đã khám phá ra Đức Giê-su Ki-tô trước:

được một lần ông sẽ đứng đầu,

được một lần ông có dịp nổi.

Nếu ông biết rằng ông đứng đầu trong một trường hợp ngoại lệ,

nếu ông biết rằng thế giới sẽ chống lại ông,

thì chắc hẳn ông đã không đưa Phê-rô đến gặp Chúa.

Nhưng An-rê không phải loại bi quan yếm thế, ông đã học cách tạo nên những âm thanh tuyệt diệu trên những phím đàn hạng hai.

Đầu tiên ông An-rê đến gặp em mình và nói rằng: "Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a..”" rồi ông đưa Si-môn Phê-rô đến gặp Đức Giê-su. (Ga 1, 41 – 42).

Ông không do dự, không nghi ngờ,

Ông khẳng định.

Nếu ông nghi ngờ, thì hẳn Phê-rô đã không bị thuyết phục.

Nhưng An-rê nói như đinh đóng cột:

"Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a."

Phê-rô nghe anh mình nói, ông lắng nghe với tất cả con người nóng bỏng và hướng ngoại của mình.

Chúng ta dễ hiểu vì sao An-rê phải là một con người đóng vai phụ. Đời sống của An-rê đã khiến ông em phải nể phục:

An-rê êm dịu, trầm tĩnh và khiêm nhường.

Phê-rô không cười vào mặt, không mỉa mai An-rê.

Phê-rô đã chấp thuận để An-rê dẫn đến gặp Đức Giê-su.

Có thể An-rê không có tài thuyết phục của Phê-rô,

nhưng ông đã đem Phê-rô đến gặp Chúa.

Có thể không bao giờ chúng ta có một Phê-rô

nếu tiên vàn không có một An-rê.

Chúng ta gặp lại An-rê trong Kinh Thánh vài tháng sau.

Một đám đông đã nghe Chúa giảng suốt ngày. Trời đã xế và Người phải trở về. Đối với một số người, đường đi xa xăm lắm. Những người đàn bà đã thấm mệt, những đứa trẻ đã lả người. Họ không còn lương thực.

Tông Đồ của Chúa Giê-su nghĩ ngợi hoang mang. Rồi An-rê bước tới, ( Ở đây, Phúc Âm lại ghi rõ "An-rê, anh của Si-môn Phê-rô" (Ga 6, 8) để nhận diện ông: suốt đời, ông chỉ là một bóng mờ!) An-rê nói: "Đây có một em bé với 5 chiếc bánh và 2 con cá..." (Ga 6, 9).

"Đây có một em bé..." Có lần các môn đệ thấy các em bé quấy rầy Chúa Giê-su nên đuổi các em đi. Trong số các môn đệ ấy, chắc chắn không có anh đâu, anh An-rê nhỉ? Anh luôn chú ý đến các trẻ em.

Chỉ mình anh mới nhìn ra một cậu bé lẫn lộn giữa năm ngàn người lớn và đưa em ra. Anh đã đưa bàn tay vạm vỡ cho em nắm gọn với ấm áp chân tình.

Anh kể cho em nghe những kỹ thuật đưa mồi, bắt cá, kéo lên thuyền, và anh cũng không quên nói về những lần "lưới người" mà anh đóng góp. Và lúc này, em bé đã lấy bữa ăn trưa nghèo nàn đạm bạc để muốn cùng anh chia sẻ.

Vậy là chúng ta đã hai lần gặp được An-rê, một An-rê chân thành, tươi mát, ấm áp, hiền hòa, khiêm tốn. Và rồi lần thứ ba, chúng ta sẽ gặp lại An-rê nhằm vào ngày lễ cuối cùng của cuộc đời Đấng Cứu Thế.

Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem vinh dự tràn đầy. Vài người gốc Hy-lạp đến Giê-ru-sa-lem (Ga 12, 20). Họ đến dự lễ Vượt Qua. Họ nghe nói về Giê-su Na-da-rét. Họ muốn gặp Người. Phi-líp không biết phải làm gì, không biết Chúa Giê-su có bỏ thì giờ để tiếp dân ngoại không. Chẳng phải sứ vụ của Người là hoàn toàn cho dân Do-thái đó sao?

Hay là đến hỏi Phê-rô và Gio-an xem sao? Không được ! Phi-líp đoán rằng thế nào họ cũng trả lời như sau: "Bảo những người Hy Lạp đó về đi. Chúa Giê-su đến cho dân Do-thái, Người không có giờ đâu." Rồi một ý nghĩ lóe lên trong đầu: Ừ nhỉ, sao mình không hỏi An-rê ? An-rê là một người biết điều, ông ta biết sẽ phải làm gì. An-rê lại là một người bạn tốt, ông sẽ giúp ý kiến hợp tình hợp lý.

Và Phi-líp đã nói với An-rê. Thế là An-rê, không một giây do dự, cùng Phi-líp, đã dẫn những người gốc Hy-lạp đến gặp Chúa Giê-su, và chắc hẳn đó là điều làm Chúa hài lòng.

"Và người ta sẽ từ Phương Đông, Phương Tây, từ Phương Bắc, Phương Nam mà đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa" (Lc 13, 29). "Còn Thầy, một khi Thầy được giương lên khỏi mặt đất, Thầy sẽ kéo mọi người lên với Thầy" (Ga 12, 32).

Ngoài ba lần ấy, chúng ta không còn gặp lại An-rê nữa.

Ngoài danh sách các Tông Đồ, không nơi nào khác có tên ông. Ông chỉ xuất hiện có ba lần và lần nào cũng chỉ có một việc là đem một ai đó đến gặp Chúa.

Đầu tiên, ông tự đem chính mình và em mình.

Kế đến là một cậu bé.

Và sau cùng là những người khách Hy-lạp.

An-rê, người bạn chân tình.

An-rê, người giới thiệu kẻ khác cho Chúa Giê-su.

Thiếu ông là thiếu mất sự thành công.

Những An-rê mang những Phê-rô cho Giáo Hội.

Những An-rê không phải là những người được chú ý,

được quảng cáo,

được rọi đèn,

được hoan hô...

Họ không phải là những vai chính,

họ chỉ là những vai phụ.

Họ là những người bị quên lãng:

"Tôi nhớ ra anh rồi !... Anh là anh ruột của Phê-rô."

Họ suốt đời đóng vai phụ.

Họ là những con người tầm thường,

nhưng thiếu họ thì không có gì hoàn tất.

Họ là những người khả năng hạn hẹp,

những người mà Chúa chỉ ban cho 1 nén.

Không được 5,

không được 10,

nhưng nén bạc duy nhất đó được họ sử dụng cho Chúa,

chứ không nằng nặc giữ lấy cho mình.

Chúng ta nhớ đến những Phê-rô,

còn những An-rê chúng ta quên đâu mất !

Những An-rê không viết được những Thánh Thư nảy lửa,

không giảng được những bài giảng hùng hồn,

không đem về cho Chúa một lần 3.000 linh hồn khi xuất hiện,

không làm một phép lạ cỏn con nào...

nhưng họ đem được cho Chúa một Phê-rô,

để Phê-rô viết Thánh Thư,

rao giảng Lời Chúa,

rửa tội hàng ngàn,

làm phép lạ trong lòng nhân thế.

Chúng ta nhớ đến những Phê-rô,

còn những An-rê chúng ta quên đâu mất !

Thánh Âu-tinh đã trở lại và là người đặt nền tảng thần học cho Giáo Hội. Nhưng ít ai nhớ tới bà mẹ Mô-ni-ca suốt 20 năm trời cầu nguyện, hãm mình để xin ơn trở lại cho con mình.

Mô-ni-ca thì nhiều người quên, nhưng Âu-tinh chắc ai cũng nhớ.

Vị linh mục tại Pa-ri đã hướng dẫn Shác-lơ đờ Phu-cô (Charles de Foucauld) và đem ngài trở về với Chúa. Cha ấy tên gì ? Tôi quên mất rồi !

Chúng ta nhớ đến những Phê-rô,

còn những An-rê chúng ta quên đâu mất !

Không những Chúa Giê-su đã chọn An-rê, Người lại chọn An-rê là môn đệ đầu tiên. Vì sao ? Vì những người 1 nén cần thiết cho Nước Trời.

Không thể làm được gì nếu không có một nhóm thân thiện, những đoàn người khiêm nhường, sẵn sàng giới thiệu Chúa Giê-su.

Trong lịch sử Giáo Hội, có những giai đoạn cần đến những Phê-rô, Phao-lô, I-nha-xi-ô, Phan-xi-cô Xa-vi-ê... Nhưng con đường trường kỳ vẫn là con đường rao giảng từ người này đến người kia, từng người một.

Trong chương trình của Thiên Chúa không thể thiếu vắng An-rê, Chúa cần đến An-rê với tài năng chỉ có "một nén."

Không phải ai cũng có thể là Phê-rô, nhưng bất cứ ai cũng có thể là An-rê. Đó là lý do vì sao Chúa chọn An-rê. Đó là đường lối mà 13 Tông Đồ đã thay đổi thế giới.

Những tín hữu đầu tiên đã tản mác ra, không lên tòa giảng nói năng hùng hồn, nhưng chỉ kể lại đơn sơ mộc mạc chứng tích Chúa Giê-su qua đời sống chứng nhân tận hiến và chân tình. Và vô tình hay hữu ý, họ đã noi gương An-rê, đi từ người này đến người khác, giới thiệu những linh hồn cho Chúa Ki-tô, và chính họ đã đảo lộn thế giới. (Cv 17, 6).

Chúa Ki-tô cần con người,

Chúa Ki-tô cần những An-rê.

Không phải Chúa cần đến những người thông suốt thần học,

Không phải những kẻ có bằng cấp cao,

Không phải những người uyên bác trong mọi vấn đề...

Nhưng Chúa cần những người giàu tình bạn chân thành

những người tài năng có "một nén"

những người với một trái tim, một tâm hồn,

những người với một đam mê, một mục đích...

những người sống, làm chứng, ra đi để kể câu truyện:

"Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a..."

Chúa Ki-tô kêu gọi mọi giáo hữu đi khắp nơi để loan báo Tin Mừng rằng Thiên Chúa đã đến thế gian trong Đức Giê-su,

rằng Người đã đau khổ, đã chết,

rằng Người đã sống lại từ cõi chết,

và đã sống lại cho đến muôn đời.

rằng đây là biến cố lớn nhất lịch sử,

là bằng chứng rõ ràng nhất của tình yêu.

"Kẻ nào chiếm được các linh hồn, kẻ ấy khôn ngoan".

Đó là con đường duy nhất để thay đổi thế giới,

con đường của những An-rê giàu tình bạn,

những người chỉ nhận được có "một nén" tài năng.

An-rê, anh đang ở đâu?

Có những người đang chờ gặp Chúa Giê-su của anh...

Trở về mục lục >>

 

š¶›


 

PHỎNG VẤN THÁNH PHAN-XI-CÔ XA-VI-Ê

                                                                                    Phóng viên: Hoàng Sóc Sơn

 

Ngày 1.12.1552, trên đảo Thượng Xuyên, gần tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa, thánh Phanxicô Xavier, 46 tuổi, đang chờ một nhà buôn đến đưa ngài vào đất liền. Chỉ hai ngày nữa, ngài sẽ qua đời. Chúng ta đến chòi lá của ngài, để phỏng vấn ngài. Các câu hỏi do chúng ta đặt ra, các câu trả lời thực sự là của ngài.

 

1. Thưa cha, cha nhất định phải vào Trung Hoa?

Hết ngày này sang ngày khác, tôi đang chờ đợi một người Trung Hoa từ Quảng Đông đến đón (Bt 131,10). Trung Hoa là một nước rộng mênh mông bát ngát, thanh bình, và được cai trị bằng những luật lệ khôn ngoan. Chỉ có một vua mà ai nấy đều hết sức tùng phục. Đó là một vương quốc rất giàu có, tài nguyên đủ loại, không thiếu gì… Người Trung Hoa rất khéo léo và rất hiếu học, nhất là về luật lệ liên hệ đến việc trị nước. Họ rất ham hiểu biết… Họ đại lượng và nhất là rất hiếu hòa. Trong nước không có chiến tranh… Tôi đi Trung Hoa để thực hiện những việc lớn lao nhằm phục vụ Thiên Chúa (Bt 97,19). Trong Thiên Chúa, tôi rất hi vọng là một con đường sắp được mở ra, không chỉ cho anh em trong Dòng Tên, mà còn cho tất cả các dòng khác… (Bt 96,52).
2. Cha biết đó là điều nguy hiểm chứ?

Hai nguy cơ có thể xảy ra, theo như dân địa phương nói. Thứ nhất, người dẫn chúng tôi có thể bỏ chúng tôi trên một đảo hoang, hay ném xuống biển, sau khi đã nhận 200 cruzadoz, để tổng đốc Quảng Đông khỏi biết; thứ hai, nếu họ đưa chúng tôi đến Quảng Đông, và nếu chúng tôi đến gặp tổng đốc, chúng tôi sẽ bị đánh đập hoặc tống giam… Lệnh cấm ở Trung Hoa ngặt đến nỗi không ai được vào nếu không có phép của nhà vua, mà vua đã cấm ngặt người nước ngoài không ai được vào… Chúng tôi cho rằng những nguy hiểm phần hồn lớn hơn những nguy hiểm phần xác nhiều, nên chúng tôi thấy là thà đương đầu với những nguy hiểm phần xác còn yên tâm hơn là để mình bị nguy hiểm phần hồn trước mặt Thiên Chúa. Vì vậy, chúng tôi nhất quyết đến Trung Hoa, bất cứ bằng cách nào. Tôi hy vọng trong Thiên Chúa là chuyến đi Trung Hoa của chúng tôi sẽ thành công và sẽ góp phần vào việc truyền bá đức tin, mặc dầu Kẻ Thù và tay sai chúng có thể tung ra những cuộc bách hại. Thực vậy, “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta”(Rm 8,31; Bt 131,3.6).
3. Có vẻ cha thích phiêu lưu mạo hiểm!

Có những người thật là ngược đời: cố lôi kéo Thiên Chúa đến nơi họ thích, chứ không chịu đến nơi Thiên Chúa mời gọi họ tới. Có những người đang theo một con đường gập ghềnh và nguy hiểm để leo lên một ngọn đồi dựng đứng, mà sau bao nhiêu cực nhọc, chỉ chuốc lấy một kết thúc khốn khổ (Bt 6,4). Chúng tôi hoàn toàn không đi tìm những ưu đãi của người đời, và chúng tôi có làm gì cũng chỉ vì Chúa. Thực vậy, nếu phải chịu những gian truân chúng tôi đã trải qua chỉ một ngày thôi để được cả thế giới này, chúng tôi cũng từ chối (Bt 13,3).
4. Thời gian ở Ấn Độ của cha thế nào?

Chúng tôi rời Lisbõa đi Ấn Độ ngày 7.4.1541, và đến Ấn Độ ngày 6.5.1542 (Bt 15,2). Khu vực chúng tôi đến gọi là mũi Comorin (Bt 15,14). Tôi đưa theo 3 người bản xứ. Họ rất thông thạo tiếng Bồ Đào Nha, và thông thạo tiếng mẹ đẻ hơn nữa...Chúng tôi đi qua những làng Kitô giáo, nơi dân chúng đã theo đạo khoảng tám năm trước. Không có người Bồ Đào Nha nào sống trong các làng này, vì đất đai cằn cỗi và người ta hết sức nghèo khổ. Vì các Kitô hữu trong các làng này không được ai dạy dỗ về đức tin, nên về đạo, họ không nói được gì hơn là họ có đạo. Không có ai để dâng lễ cho họ, cũng không có ai dạy họ kinh Tin Kính, kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng và kinh Mười Điều Răn. Khi đến các làng này, tôi đã rửa tội cho tất cả trẻ em chưa được rửa tội; và như vậy, tôi đã rửa tội cho rất nhiều hài nhi “chưa biết phân biệt tay phải với tay trái”(Gn 4,11). Hễ tôi đến làng nào, trẻ em chưa cho tôi đọc kinh, hoặc ăn hay ngủ, nếu chưa dạy các em vài ba kinh. Tôi bắt đầu hiểu rằng “Nước Trời thuộc về những ai giống như trẻ em”(Mt 19,4; Bt 19,2). Xong một làng, tôi để lại một người tiếp tục công việc đã khởi sự, rồi đến các làng khác cũng làm y như vậy… Ở những nơi tôi đi qua, tôi để lại những bản viết các kinh, và cho người biết chữ viết lại, cho học thuộc lòng, rồi cho đọc hằng ngày. Tôi cũng cho mọi người họp vào Chúa Nhật để đọc kinh. Tại các làng, tôi đặt người phụ trách công việc này (Bt 20,7).
5. Cha có kêu gọi các bạn ở Châu Âu qua tiếp tay không?

Vì thiếu người lo những việc đạo đức và thánh thiện như vậy, nên nhiều người ngoại đáng lẽ có thể theo đạo mà không theo được. Rất nhiều khi tôi có ý định về bên nhà, đến các nơi người ta học hành, để gào thét như một người mất trí, đặc biệt là ở Đại học Paris. Tôi muốn đến Học viện Sorbonne nói với những người hiểu biết nhiều, nhưng ít muốn làm cho kiến thức của mình sinh hoa kết quả: “Biết bao linh hồn không được hưởng phúc vinh quang, nhưng phải sa địa ngục, vì quí vị lơ là”… Gần như tôi bị thúc bách viết thư cho Đại học Paris… để cho biết là hàng ngàn hàng vạn người ngoại sẽ theo đạo, nếu có được những người không bám lấy lợi lộc riêng tư, nhưng cố gắng sinh lợi cho Chúa Giêsu Kitô, nên tìm kiếm và giúp đỡ các linh hồn.” (Bt 20,8)… Ôi! Nếu thay vì chỉ thỏa lòng nhờ hiểu những điều mình học, người sinh viên tìm trong việc giúp đỡ tha nhân biết họ cần gì để cảm nhận được Chúa, người ấy sẽ được an ủi hơn và sẵn sàng tính sổ linh hồn với Chúa hơn, vào ngày Đức Kitô sẽ hỏi: “Hãy tính sổ cho Ta biết ngươi đã quản lý