Số 67 Ngày 10-12-2005

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Hãy Sửa Đường - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Hân Hoan Tỉnh Thức Đợi Chờ- Hoàng Văn Phúc

Tiến Trình Tín Điều Mẹ Vô Nhiễm Thai - Lm. Phêrô, CMC

Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm – Magnificat – Thơ – Lm Khuất Dũng, SSS

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Ơn Gọi Thừa Sai Lm. Trần Sĩ Tín, CSsR

Những Người Mù Nigiêria – Radio Veritas

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa Quý độc giả,

 

Đức Hồng Y Crescenzio Sepe, bộ trưởng Thánh Bộ Truyền Bá Tin Mừng, vừa kết thúc chuyến công du 10 ngày tại Việt Nam. Trong 10 ngày ấy, ngài đã viếng thăm các tổng giáo phận Hà Nội, Huế, Sàigòn và đến Bà Rịa để thiết lập một giáo phận mới. Ngoài sự kiện chưa từng xảy ra tại Việt Nam là lễ thụ phong của 57 linh mục trước sân nhà thờ chính tòa Hà nội, Đức Hồng Y đã đem đến cho Giáo Hội tại Việt Nam một sự hiện diện chân tình của một người Cha trong phẩm trật Giáo Hội và người Anh trong Chúa Kitô. Mặt khác, dù trước khi đến Việt Nam ngài từng tuyên bố rằng Giáo Hội Việt Nam là một Giáo Hội rất ‘sống động và rất năng động,’ thì ngài không ngờ rằng, trên đất nước này, một đất nước đã từng trải qua biết bao khốn khó nhục nhằn của những thăng trầm lịch sử, thì ngài được gặp lại một tinh thần công giáo gần như tinh tuyền.

Điều phấn khởi cho cộng đồng Dân Chúa tại Việt Nam qua chuyến viếng thăm của Đức Hồng Y Bộ Trưởng là mọi sự diễn ra đúng mức: tinh thần tuyên xưng đức tin của giáo dân rất rõ nét trong những nghi lễ long trọng xứng đáng để tôn vinh Thiên Chúa, nhưng không tạo một sự hào nhoáng, phô trương, phung phí để trở thành một điều ‘phản Tin Mừng’ trên một đất nước còn nghèo, và các tôn giáo bạn còn khó khăn.

Đấy cũng là một biến cố ý nghĩa để dẫn vào Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Vọng, Chúa Nhật vui mừng trong mùa đợi mong, mà lời kinh phụng vụ bắt đầu bằng lời chúc: Hãy Vui Lên: Gaudete! Chúa nhật kêu gọi chúng ta thắp lên màu hồng hy vọng như màu áo hồng của Chủ Tế mặc trong Mùa Tím này.

Màu hồng là sự pha trộn giữa màu đỏ, tượng trưng cho tình yêu Thiên Chúa, và màu trắng, tượng trưng cho sự thánh thiện khôn ngoan của Ngài. Sự pha trộn này nói lên rằng con người, sau khi được thanh luyện qua ăn năn sám hối, sẽ yêu mến sự khôn ngoan của Thiên Chúa mà Chúa Kitô đã mặc khải cho chúng ta.

Vào thời Đức Grêgôriô XVI (1831-1846), hiệp sĩ Morini, một viên chức Toà Thánh, viết rằng màu hồng được xem là màu trung gian giữa màu đỏ thẫm và màu tím, nói lên niềm vui của Giáo Hội khi Lễ Giáng Sinh đến gần. Màu hồng này cũng là màu của Hoa Hồng, gợi lên hương thơm, màu sắc và mùi vị; có thể biểu hiện cho đức ái, niềm vui và sự viên mãn tâm linh của Chúa Kitô; vì thế, theo thánh Bêđê bảo rằng vào thế kỷ thứ VII, mộ của Chúa Kitô được sơn bằng màu hồng.

Và khi nói đến hoa hồng, không thể nào không nhớ đến đấng mà Giáo Hội tôn vinh dưới danh hiệu Hoa Hồng Mấu Nhiệm (Rosa Mystica) là Đức Mẹ. Và phải chăng vì thế mà Chúa nhật hồng này được Giáo Hội được đặt giữa hai lễ tôn kính Đức Maria, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm (8-12) và lễ Đức Mẹ Guadalupe (12-12).  Maranatha tuần này dành một số trang để nói đến tiến trình đi đến tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm, nhưng cũng muốn nhắc lại nơi đây những đóa hoa hồng xuất phát từ biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Mexicô.

Ngày 9 tháng 12 năm 1531, Đức Mẹ hiện ra ở ngoại ô thành phố Mexicô ở Mễ Tây Cơ cho ông Juan Diego, và yêu cầu giáo quyền xây dựng một thánh đường tại đấy.

Ông Juan trình lên giám mục và ngài yêu cầu ông đưa ra một dấu chỉ cho thấy rằng Đức Mẹ đã thực sự hiện ra và yêu cầu việc này. Ông Juan trình với Đức Mẹ yêu cầu của giám mục. Đức Mẹ bảo ông hái hoa hồng trên đồi và đem đến cho giám mục như một dấu chỉ.

Bấy giờ là tháng 12 nên không phải là mùa hoa hồng, thế nhưng ông Juan có thể tìm được thật nhiều hoa hồng nơi ngọn đồi mà Đức Mẹ đã chỉ cho ông. Ông hái những hoa hồng ấy và gói vào tilma (loại áo tạp dề mặc ngoài). Ông đem đến gặp giám mục và trình lại những gì Mẹ đã bảo ông làm để gửi đến như là một dấu chỉ. Ông mở chiếc tilma ra, và sau khi các đóa hồng rơi xuống, thì hiện lên bức ảnh của Đức Mẹ mà hiện nay Giáo Hội vẫn tôn kính.

Qua dấu chỉ này, giám mục đã cho xây dựng ngôi thánh đường năm 1535, và từ ấy xảy ra không biết bao là phép lạ. Phép lạ lớn nhất có lẽ sự trở lại của 9 triệu dân Astèques vào năm 1541. Mặt khác, vải tilma được dệt bằng sợi cây xương rồng, mà tuổi thọ không bao giờ hơn 20 năm, thế nhưng chiếc tilma mang ảnh Đức Mẹ Guadalupe đã tồn tại 5 thế kỷ rồi, mà không có dấu hiệu gì mục nát, và vẫn còn đó như một thách thức đối với khoa học con người!

Đi vào Chúa Nhật Hồng trong niềm cậy trông noi gương Đức Mẹ, Maranatha_67 gửi đến quý độc giả những bài suy niệm về Mùa Vọng trong tinh thần hướng đến niềm vui, đồng thời nhìn lại tiến trình sùng kính Đức Mẹ để rồi cuối cùng tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm được công bố.

Mùa Vọng cũng là Mùa mà Dân Chúa hướng đến việc đem Chúa Kitô đến trong lòng nhân loại, cũng vì thế mà Maranatha cùng đồng hành với Giáo Hội trên bước đường truyền giáo qua gương của những con người âm thầm đem Tin Mừng đến dân tộc ít người ở Tây Nguyên Việt Nam.

Hiệp ý với mọi nhà truyền giáo, trong tâm tình sám hối đầy niềm vui và hy vọng, theo gương Mẹ dấu yêu, chúng ta hướng lòng lên và cầu xin: Maranatha, Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến.

MARANATHA

  

 

 

HÃY SỬA ĐƯỜNG

Lm. Vũ Xuân Hạnh

“Tôi là tiếng kêu trong hoang địa: Hãy sửa cho ngay đường Chúa đi.” Thánh Gioan Tẩy giả tự trả lời về mình như thế cho những người Do thái chất vấn ông.

“Tiếng kêu trong hoang địa.” Nói đến hoang địa là nói đến một môi trường chưa được sử dụng, chưa được khai phá. Môi trường đó còn âm u, đầy dẫy nguy hiểm. “Tiếng kêu trong hoang địa” là tiếng kêu giữa mênh mông, giữa những âm u nguy hiểm đó.

Nhưng dù nói là kêu trong hoang địa, và bản thân thánh Gioan đã từng sống trong hoang địa, nhưng ngài đã không hô to một lời nào trong suốt những năm tháng sống một mình ở nơi ấy.

Ngược lại, bây giờ, để thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình, thánh Gioan đã rời hoang địa, đi vào làng mạc và cất tiếng rao giảng kêu gọi lòng sám hối ăn năn.

Hóa ra hoang địa nhưng không là hoang địa thiên nhiên, không là một môi trường nào đó mà thánh Gioan đã từng sống.

Bởi thế, khi áp dụng hình ảnh tiếng kêu trong hoang địa của tiên tri Isia đã loan báo trong Cựu ước để nói về chính mình, điều mà thánh Gioan nhắm đến chính là tâm hồn con người. Nếu hoang địa là mênh mông, là âm u, nguy hiểm, thì hoang địa tâm hồn còn đáng sợ, và nguy hiểm hơn.

Cách đây vài năm, một lần kênh truyền hình HTV7 chiếu bộ phim Hòn Đá Lăn Tròn do Mêhicô sản xuất. Có thể nói nhân vật chính trong phim, luật sư  Prado, là đại diện của một thứ hoang địa tâm hồn. Đúng là hòn đá lăn tròn. Địa vị, tiền bạc đã làm cho vị luật sư này lăn theo nó quay tít như một hòn đá tuột dốc.

Ông là kẻ kiêu căng, ích kỷ, tính toán và đầy tham vọng. Tất cả những tính xấu đó lớn trong ông đến nỗi biến ông thành một kẻ thủ đoạn không thể tả. Ông bất chấp tất cả dù người đó là vợ ông, con ông, quản gia của ông, hoặc những người cùng làm việc với ông, miễn sao đạt được quyền cao chức trọng, đem lại danh vọng cho ông, cho chính ông mà thôi.

Có những lần ông nhắc tới Chúa. Nhưng Chúa không còn ở trong tâm hồn ông nữa. Có nhắc tới Chúa chẳng qua chỉ là xảo thuật, nhằm gây lòng tin cho ai đó để họ tin vào chính bản thân ông, chứ không vào Chúa, để rồi biến Chúa trở thành phương tiện phục vụ chính ông, phục vụ con người đầy thủ đoạn của ông.

Cám dỗ của địa vị, tiền bạc đã làm cho mảnh đất tâm hồn luật sư Prado trở thành hoang địa. Một thứ hoang địa nghiệt ngã và đầy đớn đau. Đáng tiếc thương cho một kẻ quá khôn ngoan đối với cái lợi riêng bản thân của đời này, nhưng lại quá dại khờ khi mỗi một ngày sống là mỗi một một ngày ông tự đào sâu thêm cái hố, vốn đã làm cho ông xa rời mọi người, xa rời lòng thương yêu dành cho những người cùng sống với ông, đặc biệt là vợ con ông, càng trở thành xa diệu vợi hơn với ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Cái hố sâu thăm thẳm mà cả một đời ông tạo ra, đã không thể lấp đầy, mà lại chôn ông dưới đáy của nó. Bởi đó, ở phần cuối bộ phim, nó đã biến một luật sư như luật sư Prado uy quyền là thế, tiếng tăm là thế, đã từng được mọi người nể phục, vậy mà giây phút cuối đời, ông đã phải cô đơn đến mức tuyệt vọng. Ông đã muốn lấp đầy cho nỗi cô đơn, cho sự tuyệt vọng của mình bằng những tiếng hét, tiếng rú kinh hồn. Càng cố rú lên bao nhiêu, thì không chỉ tiếng rú, mà là cả con người ông, cả mạng sống của ông càng rơi vào mênh mông bao la bấy nhiêu. Bộ phim kết thúc trong nỗi bi đát tận cùng cho một sự kết thúc đời người của luật sư Prado đầy tăm tối.

Bạn có thấy, hoang địa tâm hồn thật nguy hiểm? Nó chỉ toàn là hận thù, là thủ đoạn. Một thứ hoang địa đầy dẫy nỗi chết chóc, cho nên rất cần những “tiếng kêu trong hoang địa” giúp ta “sửa lại cho ngay đường Chúa đi,” nghĩa là chỉnh đốn tâm hồn mình.

Sửa lại tâm hồn để ta trở thành người ngay chính, để đừng bao giờ là một Prado trong cõi đời này.

Bởi nếu mang hình ảnh Prado, ta sẽ kẻ bị cuốn trôi bởi mọi thứ hào nhoáng, mọi ảo ảnh hạnh phúc quên mất ánh sáng thật, hạnh phúc thật. Prado, ta cứ mải miết chạy theo “cơm áo gạo tiền.” Tệ hại hơn, mãi chạy theo thủ đoạn để tìm danh vọng, tìm của cải, để thăng quan tiến chức, để làm giàu quên đi hay cố tình quên đi các bổn phận đạo đức, bổn phận xưng tội, rước lễ, nghe Lời Chúa.

Hãy sửa lại tâm hồn, để tâm hồn trở nên ngay chính. Với tâm hồn ngay chính, ta sẽ đủ sức mạnh đặt mình đứng đối diện với cám dỗ chống trả, lớn lên trong lẽ sống đức tin,

Trên tất cả, bạn và tôi hãy khắc ghi lời thánh Gioan Tẩy giả: “Tôi là tiếng kêu trong hoang địa: Hãy sửa cho ngay đường Chúa đi.”

Đó là lời kêu gọi của một thời đã xa.

Đó là lời kêu gọi còn mới nguyên qua mọi thời đại.

Nhưng cũng là lời mà hôm nay thánh Gioan ngỏ với bạn và tôi: “Hãy sửa cho ngay đường Chúa đi,” sửa cho ngay tâm hồn của chúng ta

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

HÂN HOAN TỈNH THỨC ĐỢI CHỜ

Hoàng Văn Phúc

1. Một biến cố thời sự

Trong những ngày vừa qua, Giáo Hội Việt Nam, cụ thể là ba Tổng giáo phận Hà Nội, Huế và Sài Gòn đã hân hoan chờ đợi và tích cực chuẩn bị để chào đón chuyến viếng thăm mục vụ của phái đoàn Tòa Thánh do Đức Hồng Y Crescenzio Sepe, Tổng trưởng Bộ Rao Giảng Tin Mừng cho Các Dân Tộc dẫn đầu, từ ngày 28/11/2005 đến ngày 05/12/2005.

Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt, trong bức thư chung gửi cộng đoàn dân Chúa Tổng Giáo phận Hà Nội ngày 25/11/2005 vừa qua, đã coi chuyến viếng thăm của Đức Hồng Y Crescenzio Sepe là một “biến cố trọng đại”. Đức Hồng Y đến thăm sẽ đem lại cho Giáo Hội Việt Nam niềm vui của hiệp thông, yêu thương và truyền giáo. Đức Tổng Giám mục đã sánh ví chuyến đi của Đức Hồng Y là hình ảnh chuyến đi của Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, và là lời mời gọi mọi người sống mầu nhiệm nhập thể bằng những hành động cụ thể trong tinh thần hiệp thông, yêu thương và truyền giáo. Muốn được như thế, mọi người cần lấy Lời Chúa làm đèn soi cho các lời nói, việc làm của mình để có thể mang lại hạnh phúc, niềm vui và bình an đích thật cho tha nhân.” (VietCatholic News 28/11/2005).

Chắc hẳn trong những ngày chuẩn bị, chờ đợi đó, cộng đoàn dân Chúa, nhất là các vị lãnh đạo và những người có trách nhiệm trong Tổng giáo phận Hà Nội không còn thời giờ và cũng không còn tâm trạng thư thái để nâng ly cụng cốc chúc mừng và chia vui với nhau được. Niềm vui chỉ thực sự đến, thực sự dâng trào khi Đức Hồng Y chính thức đặt chân xuống phi trường Nội Bài. Và trong những ngày hồng ân này, niềm vui càng lan tỏa hơn khi Giáo Hội Việt Nam có thêm 57 tân linh mục và 1 tân giám mục là Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ, SDB, vừa được Tòa Thánh chính thức bổ nhiệm vào ngày 29/11/2005, làm giám mục phụ tá giáo phận Bùi Chu. Chỉ từ lúc này, người ta mới có thể nâng ly chúc mừng và chia vui với nhau. Chỉ từ lúc này, việc uống với nhau một vài ly mới thực sự có ý nghĩa.

Đón tiếp Đức Hồng Y Tổng trưởng Bộ Rao Giảng Tin Mừng cho Các Dân Tộc, đặc sứ của Đức Thánh Cha, dù sao cũng chỉ là đón tiếp một con người, một vị đại diện hữu hình của Chúa Kitô mà người ta đã phải hy sinh rất nhiều, chuẩn bị kỹ lưỡng để cho mọi sự có thể được vuông tròn tốt đẹp. Thế còn việc chờ đợi, chuẩn bị để đón tiếp chính Chúa Kitô trong ngày Người quang lâm thì sao ?

2. Niềm vui chờ mong Chúa đến

Đức Hồng Y Crescenzio Sepe đến viếng thăm mang lại cho Giáo Hội Việt Nam nhiều niềm vui và hy vọng. Nhưng niềm vui và hy vọng đích thực của chúng ta là ở nơi Chúa. Và chúng ta đang sống trong Mùa Vọng, mùa hân hoan, vui mừng chờ mong Chúa đến.

“Mùa Vọng có hai đặc tính: vừa là mùa chuẩn bị mừng lễ trọng Giáng Sinh, trong lễ này, kính nhớ việc Con Thiên Chúa đến lần thứ nhất với loài người; vừa là mùa mà qua việc kính nhớ này, các tín hữu hướng lòng trông đợi Chúa Kitô đến lần thứ hai trong ngày tận thế. Vì hai lý do này, Mùa Vọng được coi như mùa sốt sắng và hân hoan mong đợi” (AC - Những quy luật tổng quát về Năm Phụng Vụ và Niên Lịch, số 39).

Thực ra, Chúa Giêsu Kitô đã đến trong trần gian cách đây hơn 2000 năm rồi. Vì vậy, việc mừng kỷ niệm giáng sinh của Người hằng năm chủ yếu là để nhắc nhớ cho mọi tín hữu biết tỉnh thức chờ đợi Người đến trong mọi giây phút hiện tại, trong mọi biến cố của cuộc đời và nhất là biết tỉnh thức chờ đợi Người đến trong ngày Quang Lâm.

Ngày Chúa đến thì bất ngờ (x. Mc 13,33.35), ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm (2 Pr 3,10). Do đó, nguời tín hữu phải canh thức (Mc 13,33-37). Hiểu như thế thì cuộc đời con người là một mùa vọng kéo dài hay nói khác đi là chúng ta phải sống tinh thần của Mùa Vọng trong suốt đời sống của mình cho đến khi được gặp gỡ Chúa diện đối diện.    

Chúa là Đường, là sự Thật, là sự Sống (Ga 14,6) và là sự Sống Lại (Ga 11,25) của chúng ta. Chúa là niềm vui (x. Ga 15,11; 17,13), là bình an (x. Rm 15,33; Pl 4,9; 1Tx 5,23; 2Tx 3,16) của chúng ta. Chúa là tình yêu, là hạnh phúc của chúng ta. Tắt một lời Chúa là tất cả cho chúng ta. Hay nói theo ngôn ngữ của thánh Phaolô, Chúa là “mối lợi tuyệt vời” (Pl 3,8) mà mỗi người chúng ta phải sẵn sàng hy sinh tất cả, chấp nhận mọi thua thiệt để chiếm hữu cho được Người. Vì thế, khi Chúa ngự đến thiết lập Trời mới Đất mới, canh tân mọi sự, đem lại công lý và hòa bình thì niềm vui, bình an, hoan lạc của chúng ta sẽ trở thành vĩnh cửu thiên thu (x. Is 35,10). Thánh Phaolô không ngừng nhắc nhở chúng ta: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em ! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi, Chúa đã gần đến.” (Pl 4,4-5).

Nhưng niềm vui này, niềm vui của Chúa, không liên hệ gì với chuyện ăn nhậu, bia bọt hay bất cứ một lạc thú nào ở trần thế. Và cũng không cần bia bọt để diễn tả niềm vui này vì “Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17). Vì thế, không thể biện minh rằng vì là mùa hân hoan chờ đón Chúa đến, mà cứ “san lấp mặt bằng” hay “đổ đầy bao tử còn trống rỗng” bằng bia bọt để gọi là sống tinh thần của Mùa Vọng được. Điều đó hoàn toàn trái ngược với Tin Mừng. Cái mà chúng ta cần phải san lấp trong Mùa Vọng và trong suốt cuộc đời chính là những hố sâu hay đồi cao Tham – Sân – Si thâm căn cố đế trong con người của chúng ta.

Bia bọt là nhu cầu của xác thịt, một nhu cầu không cần thiết lắm cho sự sống của con người. Cơm bánh là đủ rồi. Và người ta cũng không chỉ sống nhờ cơm bánh mà còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra (Mt 4,4). Nhưng ngược lại, nếu người tín hữu không ăn chay (hiểu rộng ra là hy sinh hãm mình), không cầu nguyện, không sống đức ái trong bất cứ không gian nào và thời gian nào thì khó có thể gặp được Chúa, khó có thể chiếm hữu được Người làm gia nghiệp muôn đời. Chúng ta nên nhớ lại lời của thánh Phaolô trong thư gởi cho giáo đoàn Rôma: “Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an. Thật vậy, hướng đi của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa,vì tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa, mà cũng không thể phục tùng được. Những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể vừa lòng Thiên Chúa” (Rm 8,5-8). Thay vì đổ đầy bia bọt trong Mùa Vọng chúng ta nên nài xin Chúa đổ tràn Thánh Thần Chúa cho chúng ta để chúng ta có thể sống và bước đi theo tác động của Thần Khí, để chúng ta có thể tỉnh thức và hân hoan chờ đón Chúa đến.

3. Chờ đón Chúa đến trong tỉnh thức, chay tịnh, cầu nguyện và bác ái

Không ai có thể phủ nhận điều này: ăn chay, cầu nguyện và sống bác ái (x. Mt 6,1-18) là ba cột trụ trong đời sống đức tin của người Kitô hữu. Ăn chay (hiểu một cách rộng nghĩa nhất) là việc cần làm thường xuyên đối với bản thân. Cầu nguyện là việc phải làm liên lỉ trong mối trương quan với Chúa. Thực thi đức ái là việc phải làm không ngơi không nghỉ đối với tha nhân. Và đã gọi là ba cột trụ căn bản cho đời sống người Kitô hữu thì không thể giới hạn việc sống ba chiều kích này chỉ trong Mùa Chay mà thôi. Phải luôn luôn cầu nguyện, luôn luôn yêu thương thì cũng phải luôn luôn ăn chay, có nghĩa là luôn luôn hy sinh hãm mình. Tinh thần hy sinh hãm mình phải được người tín hữu Kitô thực hiện trong mọi thời gian của năm Phụng vụ, trong mọi thời gian của cuộc sống, đặc biệt là trong Mùa Chay và Mùa Vọng. Chúng ta đã được mời gọi nên thánh (x. Mt 5,48), trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô (x. Rm 8,29). Quá trình thần hóa này đòi hỏi chúng ta phải dần dần từ bỏ theo thời gian chính bản thân, huống chi là những hy sinh, hãm mình nhỏ bé hằng ngày. Ai không từ bỏ chính mình và vác thập giá mình mà đi theo Chúa thì dứt khoát không thể làm môn đệ của Người được (x. Lc 14,26-27). Không còn con đường nào khác, trừ phi chúng ta không muốn theo Chúa nữa.

Đức Giêsu Kitô là con người nhân bản nhất, Người rất quân bình trong đời sống. Người đã biến nước thành rượu và tặng cho đôi tân hôn ở Cana hơn 600 lít rượu ngon (Ga 2,1-12). Người đã nhiều lần ăn uống đồng bàn với những người đã mời Người, với những người thu thuế và tội lỗi (Mt 9,10-12). Người đã dùng bánh và rượu để lập bí tích Thánh Thể (Mt 26,26-28) làm lương thực thần linh nuôi sống chúng ta trên đường dương thế. Nhưng đồng thời Người cũng tuyên bố: “Từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày ấy, ngày Thầy được cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Mt 26,29). Và nhất là, chính Đức Giêsu đã dặn dò các môn đệ, cũng như mỗi một người trong chúng ta phải biết sống tỉnh thức, tiết độ và cầu nguyện luôn để có thể đứng vững trong ngày Người quang lâm : “Anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em... Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (Lc 21,34.36).

Dĩ nhiên là cũng không nên thái quá đến độ cực đoan, trừ những người có ơn gọi riêng để sống khổ hạnh. Chúng ta phải “vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12,15). Đi làm về mệt mỏi làm một ly, dự tiệc mừng hay bạn bè anh em lâu ngày gặp nhau làm vài chai thì tốt thôi... Nhưng đề xuất một chủ trương san lấp mặt bằng, đổ đầy bia bọt mà gọi là sống niềm vui, hân hoan chờ đón Chúa đến trong Mùa Vọng e rằng là không ổn rồi. Một khi đã có chất men trong người, hay nói theo ngôn ngữ của dân nhậu  là “đã tê” thì ai dám bảo đảm mình còn có sự tỉnh táo, sáng suốt trong đối nhân xử thế, trong tỉnh thức đợi chờ Chúa đến ? Tôi đã nhiều lần cảm nghiệm điều này khá rõ nét: một khi đã “có một tí sương sương” trong người thì rất khó cầu nguyện cho sốt sắng, rất khó để lắng nghe tiếng Chúa thì thầm trong sâu thẳm của tâm hồn, rất khó để đi sâu vào trong tương giao thân tình với Chúa.

Đức Gioan Phaolô II, vị Giáo hoàng vĩ đại, kiệt xuất trong thời đại chúng ta, vị thánh mà có lẽ Giáo Hội sẽ sớm tôn phong trong nay mai (VietCatholic News 30/11/2005), khi được hỏi về sự kiện Đức Mẹ hiện ra ở Mễ Du, đã trả lời đầy xác tín như sau: “Tôi tin, tôi tin, tôi tin” và “Nếu tôi không làm Giáo hoàng thì tôi đã đi hành hương Mễ Du từ lâu rồi” (Trích lời của ĐTC Gioan Phaolô II nói với ĐHY Tomasek và thị nhân Mirjana, trong tác phẩm Medjugorje - Mẹ Đến Lần Cuối, trang 603).

Suốt 24 năm nay, từ ngày 24/06/1981, lễ sinh nhật của thánh Gioan Tẩy Giả, Đức Mẹ đã hiện ra mỗi ngày ở Mễ Du cho đến tận bây giờ. Mẹ nói Mẹ đến lần cuối, và như thánh Gioan tiền hồ, Mẹ đến để chuẩn bị cho ngày Chúa Quang Lâm. Mẹ đã đề nghị cho tất cả mọi người 5 hòn sỏi (như những viên đá mà thánh vương Đavít đã dùng để hạ gục Gôliát) nghĩa là 5 phương thế để chiến thắng tội lỗi, dự sữ và những tai ưong, hoạn nạn sắp xảy ra cho toàn thế giới vì những tội lỗi khủng khiếp của con người trong thời đại hôm nay. 5 phương thế đó là :

a. Cầu nguyện thật nhiều, thật sâu.

b. Ăn chay (mỗi tuần hai ngày thứ Tư và thứ Sáu).

c. Yêu mến Thánh Thể (tham dự thánh lễ hằng ngày).

d. Đọc Lời Chúa mỗi ngày.

e. Sám hối (xưng tội mỗi tháng một lần).

Dù mọi người có thể tin hay không tùy ý, nhưng Đức Mẹ nói Mẹ rất buồn vì Giáo Hội Công Giáo đã bỏ quên việc ăn chay, hy sinh hãm mình trong nhiều thập niên nay. Mỗi năm, Giáo Hội chúng ta chỉ còn ăn chay chính thức hai ngày.

Chúng ta là những người còn đang lữ hành trên trần gian. Đường chúng ta đi dài hay ngắn là tùy vào thánh ý Chúa. Đường chúng ta đi là con đường vui tươi và hy vọng vì luôn có Chúa ở cùng, vì luôn có Chúa là bến bờ bình an. Vì thế, chúng ta vui vẻ, hăng hái dấn thân lên đường phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân. Nhưng đường chúng ta đi cũng là con đường thập giá và là con đường chật hẹp (x. Mt 7,14). Vì phải qua cửa hẹp (x. Mt 7,13; Lc 13,24) và đi trên đường thập giá nên chúng ta cần vất bỏ tất cả những gì làm chúng ta trở nên nặng nề, cồng kềnh, vương vấn và khó lòng tiến bước. Sự vất bỏ đó là gì nếu như không phải là sự hy sinh, hãm mình, chay tịnh, chết đi con người cũ (x. Ep 4,22) của mình ? Không ai trong chúng ta sống cho chính mình và chết cho chính mình. Chúng ta sống là sống cho Chúa và chết cũng là chết cho Chúa (Rm 14,7-8), Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta (2 Cr 5,15). Chúng ta đã thuộc về Chúa (Rm 14,8) vì thế cần phải từ bỏ lối sống theo xác thịt để sống theo Thần Khí mà thôi.

Các vua chúa nhà Nguyễn ngày xưa, khi chuẩn bị để tế Trời trong các dịp đại lễ ở tế đàn Nam Giao, đã phải trai giới ba ngày trước đó. Khi hân hoan mong chờ Chúa đến trong mùa Giáng Sinh, trong mọi giây phút hiện tại, nhất là trong ngày Người quang lâm, người Kitô hữu cần phải tích cực chuẩn bị bằng cách sống tỉnh thức trong cầu nguyện, trong chay tịnh, trong việc thực thi đức ái để khi Chúa đến, Người thấy chúng ta đang tỉnh thức cầu nguyện và hân hoan mong chờ Người. Phúc cho ai được đón tiếp Chúa trong tình trạng này.

4. Mùa Vọng và sự liên tưởng từ bài thơ Màu Tím Hoa Sim

Có lẽ, Giáo Hội là Mẹ hiền, qua dòng lịch sử, vẫn có lý do chính đáng để chưa thay đổi màu tím nơi phẩm phục phụng vụ của Mùa Vọng. Nhưng đến một ngày nào đó, theo như hy vọng của một số người, Giáo Hội đổi màu tím này thành màu hồng hay một màu nào khác như màu xanh Đức Mẹ chẳng hạn, thì tôi cũng rất tán thành. Nói cho cùng, màu sắc phẩm phục phụng vụ không quan trọng lắm. Cái quan trọng chính là ý nghĩa của mỗi mùa phụng vụ mà Giáo Hội luôn mong muốn con cái mình biết ý thức và sống cho thật trọn vẹn. Và ý nghĩa của Mùa Vọng, dù được tượng trưng bằng màu sắc gì đi nữa, luôn luôn vẫn là mùa sốt sắng và hân hoan mong đợi Chúa đến.

Vì thế, chúng ta đành phải hiểu có hai ý nghĩa trong cùng một màu tím nơi phẩm phục phụng vụ của Mùa Chay và Mùa Vọng. Màu tím trong Mùa Chay tượng trưng cho sự khóc thương, cho sự hiệp thông của Giáo Hội với Chúa Giêsu đau khổ trong cuộc Thương Khó của Người. Còn màu tím trong Mùa Vọng diễn tả sự thương nhớ, mong chờ Chúa đến. Chúng ta vui mừng chờ đợi Chúa đến ban ơn cứu độ. Nhưng niềm vui của chúng ta chỉ thực sự đạt đến mức độ viên mãn khi chúng ta giã từ cõi thế bước vào cuộc sống mới, hay khi Chúa Kitô lại đến lần thứ hai trong vinh quang, khi Người vĩnh viễn tiêu diệt tử thần, khi Người lau khô tất cả mọi giọt lệ trên khuôn mặt của mọi người (Is 25,8). Đó là khát vọng và ước mơ sâu xa nhất của con người. Màu tím trong Mùa Vọng, theo tôi nghĩ, chính là để diễn tả cái khát vọng tha thiết và ước mơ nồng cháy này. Nhưng câu hỏi đặt ra là có bao nhiêu người thực sự khát khao và tha thiết chờ mong Chúa đến ? Hay đa số chỉ muốn sống tà tà cho khỏe, cuốn theo mọi chiều gió và nổi trôi giữa dòng đời ? Bởi vì không phải ngẫu nhiên mà Chúa Giêsu đã thốt lên trong Tin Mừng : “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,8).

Nhà thơ Hữu Loan, cách đây sáu bảy mươi năm, trong một chiều hành quân, qua những ngọn đồi đầy hoa sim, nhìn thấy màu tím hoa sim trải dài hun hút qua những ngọn đồi, nhìn thấy màu tím hoa sim tím cả chiều hoang sơ biền biết, lòng bỗng xúc động bồi hồi, thương nhớ khôn nguôi người vợ trẻ chết sớm của mình. Và với những cảm xúc sống động dâng trào, thi sĩ đã viết nên những vần thơ bất hủ cho đời.

Chính tình yêu sâu đậm và nhờ chất xúc tác là màu tím hoa sim đã làm cho nhà thơ Hữu Loan luôn thương nhớ người vợ trẻ chết sớm nay đang ở trong một thế giới khác. Màu tím của Mùa Vọng có làm cho chúng ta luôn thương nhớ, suy tưởng về Chúa giữa một cuộc sống ồn ào và tất bật như hôm nay không ? Màu tím của Mùa Vọng có khơi lên trong chúng ta một tình yêu sâu đậm dành cho Chúa không ? Màu tím của Mùa Vọng có làm cho chúng ta biết tỉnh thức trong cầu nguyện, trong chay tịnh, trong thực thi bác ái để có thể gọi là đang hân hoan và tha thiết mong chờ Chúa đến không ? Và đó là điều tôi muốn chia sẻ với các bạn khi liên tưởng Mùa Vọng với bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Cầu chúc cho tất cả chúng ta sốt sắng hơn, yêu mến nồng nàn hơn trong những ngày hồng ân này, để khi Chúa đến, chúng ta thực sự có thể ngẩng cao đầu (Lc 21,28) vui mừng đón tiếp, đón nhận Người là tất cả mọi sự cho chúng ta. Maranatha, Lạy Chúa Giêsu xin ngự đến!

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

Text Box: 931. Đức Mẹ thiếu tất cả những gì trần gian cho là hạnh phúc. Đọc kinh "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa," con thấy Mẹ như một vực sâu "thấp hèn," "tôi tá," "người hèn mọn," "người đói khát." Nhưng Chúa đã nhìn đến vực thẳm ấy và với lòng thương xót, đã làm cho Mẹ "đầy ơn phước," nghĩa là đầy ơn Chúa.
932. Mẹ Maria nghèo khó, không tiền không bạc, có lúc không nhà cửa, không ghế bàn, Mẹ không biết giảng, nhưng Mẹ có món quà quý nhất để cho mục tử Bêlem, ba vị đạo sĩ phương đông, Simêon và Anna ở đền thánh. Mẹ đã thinh lặng cho họ Chúa Giêsu, món quà mà chỉ Mẹ có, món quà ấy giảng thay cho Mẹ, vì đó là Ngôi Lời.
Trích Đường Hy Vọng – Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 MỪNG KÍNH MẸ VÔ NHIỄM

 


 

TIẾN TRÌNH TÍN ĐIỀU MẸ VÔ NHIỄM THAI

Lm. Phêrô, CMC

Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội từ thuở đầu thai, nói tắt là "Đức Mẹ vô nhiễm thai". "Thai" nói đầy đủ là "thụ thai" (conception). Thụ thai phân biệt ra thụ thai chủ động (active conception) là việc người mẹ hoài thai đứa con, và thụ thai thụ động (passive conception) là việc người con được thụ thai. Do đó, khi nói đến Immaculate Conception là không phải nói đến Thánh Anna thụ thai Đức Trinh Nữ Maria, hay là Đức Trinh Nữ Maria thụ thai Chúa Giêsu, nhưng là nói đến Đức Trinh Nữ Maria "được thụ thai, hay là được dựng thai, hoặc là đầu thai" trong lòng Thánh Anna. Cũng có khi người ta chỉ nói "Đức Mẹ Vô nhiễm" thì hiểu là "Đức Mẹ Vô nhiễm từ thuở đầu thai" hay là "Đức Mẹ đầu thai vô nhiễm" hoặc là "Đức Mẹ Vô nhiễm thai".

Vấn đề "Đức Mẹ Vô nhiễm thai" thoạt tiên là một hạt giống được giấu ẩn trong kho mạc khải Thánh kinh và Thánh truyền, rồi trải qua niềm tin của Giáo hội biến thành Nụ Tín lý. Nhưng Nụ Tín lý trải qua nhiều chông gai, nhiều sương tuyết lạnh lùng, nhờ sự diễn giải của các Thánh Giáo phụ, các nhà thần học và sự phán quyết của Thẩm quyền Giáo hội mới nở tươi thành Tín điều.

Xét về phương diện tiến triển, Tín điều "Đức Mẹ Vô nhiễm thai" đã trải qua một tiến trình rất phức tạp, nhưng được giản lược qua 3 giai đoạn: giai đoạn trầm lặng, giai đoạn tranh luận, và giai đoạn xác nhận.

A. Giai đoạn trầm lặng từ thế kỷ I đến thế kỷ XI

Thánh kinh chỉ có kiểu nói mặc nhiên ẩn tàng về vấn đề Vô nhiễm, nên trong những thế kỷ đầu, Giáo hội chưa khám phá ra. Tuy nhiên, từ thời các Thánh Tông đồ qua thời các Thánh Giáo phụ trong những thế kỷ đầu, một ít tia sáng "Vô nhiễm" đã loé lên, nhưng chỉ trong phạm vi cá nhân. Năm 416 Công đồng Carthage và Công đồng Mileviô ở Bắc Phi lên án Pelagiô và Coelestiô chối tội nguyên tổ, mà không đề cập gì đến trường hợp của Đức Mẹ. Năm 431 Công đồng Êphêsô ở Tiểu Á cùng với Thánh Cyrillô Alexanđria luận phi bè rối Nestoriô, để tuyên tín Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Từ đó, lòng sùng kính Đức Mẹ dâng lên cao và tràn lan ra xa rộng. Giáo hội cũng chỉ xác nhận sự trinh trong tuyệt đối của Mẹ. Khi người ta bàn luận về vấn đề tội lỗi, Thánh Augustinô không muốn liên tưởng đến Đức Mẹ. Tư tưởng tiêu cực này đã nên như qui luật cho các Giáo phụ thời đó. Bên Đông phương, người ta nồng nhiệt sùng kính phúc vinh quang Mẹ Thiên Chúa, mà không xác định rõ. Đến thế kỷ VII, bốn vị Giáo hoàng: Đức Honoriô I, Đức Thánh Martinô I, Đức Thánh Agathô, và Đức Thánh Lêô II làm loé lên một vài tia sáng nhưng vẫn ở trong phạm vi hạn hẹp.

B. Giai đoạn tranh luận từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV

Thế kỷ XII, nhà thần học Eadmer sử gia của Thánh Anselmô tại Canturbury (Anh) viết cuốn "Yếu luận về sự đầu thai thánh thiện của Đức Maria" để minh xác ý nghĩa đặc ân làm nền tảng cho Tín lý Vô nhiễm. Eadmer lý luận sâu sắc về việc Mẹ được đặc ân Vô nhiễm với ba lời có tính cách Cách ngôn: Potuit, Decuit, Fecit, nghĩa là Thiên Chúa có thể làm; nếu Người muốn thì Người đã làm. Cũng thời đó, văn sĩ Osbertô Clare đầu tiên vận động truyền bá giáo thuyết này. Đông phương đã mừng lễ Mẹ đầu thai từ thế kỷ VII, nhưng Tây phương mừng lễ này thế kỷ XII. Dẫu thế, một bức màn đen vẫn trùm phủ vấn đề Vô nhiễm, đến nỗi bốn vị Thánh tiến sĩ Bênađô, Albertô, Bônaventura, Tôma, và hai nhà thần học nổi danh Rupertô và Alexanđrô Halès cho rằng Đức Mẹ cũng mắc luật lưu truyền nguyên tội như mọi người dòng dõi Ađam. Thánh Tôma chỉ nói Đức Maria được thánh hoá trong lòng mẹ. Về sau, các ngài mới bỏ tư kiến để thuận theo sự phán quyết của các Đức Giáo hoàng và niềm tin của Giáo hội.

Hai luồng tư tưởng nghịch và thuận vấn đề Vô nhiễm lan tràn sâu rộng gây nên một cuộc tranh luận sôi nổi giữa hai trường phái Tôma và Scôtô tại Avignon (Pháp) năm 1325. Phe thuận là trường phái Scôtô có luận cứ vững mạnh, nên được Đức Gioan XXII tán thành, và được Đại học Paris yểm trợ. Năm 1346 tại phân khoa Thần học Đại học này, không ai được đậu cử nhân, tiến sĩ, nếu không tuyên thệ phải ủng hộ giáo thuyết Vô nhiễm. Sau này hai Đại học Cologne và Mayence noi gương Đại học Paris cũng có qui chế như thế. Còn một cuộc tranh luận khác không kém gay go về vấn đề Vô nhiễm. Phe chống gây ảnh hưởng sâu rộng nhất là miền Bắc Ý, nhưng sau cũng thuận theo, nhờ thái độ cương quyết của Đức Sixtô IV.

C. Giai đoạn xác nhận từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX

Năm 1377 cuộc Đức Mẹ mạc khải với Thánh Brigitta được Đức Grêgôriô XI thẩm tra và xác nhận là chân thật. Đức Mẹ nói với Thánh Brigitta: "Đúng sự thật là Mẹ đầu thai vô nhiễm. Hỡi ái nữ của Mẹ. Con hãy tin và thấy rằng những ai tin và tuyên xưng Mẹ đã được gìn giữ khỏi vết nhơ tội tổ là họ nghĩ đúng. Ai nghĩ ngược lại là sai, nhất là họ nghĩ càn giỡ". Năm 1431, Công đồng Basel (Thụy sĩ), công bố một sắc lệnh như sau: "Chúng tôi xác định và tuyên ngôn rằng Đức Trinh Nữ Maria, do đặc ân Thiên Chúa giữ gìn, không bao giờ nhiễm lây vết nhơ nguyên tội, nhưng luôn luôn thánh thiện và vô nhiễm".

Đức Sixtô IV là vị Giáo hoàng đầu tiên minh nhiên xác định vấn đề Vô nhiễm bằng cách ban hành mười sáu Hiến chế về Mẹ Maria Vô nhiễm. Trong số đó, mười hai Hiến chế ban ân xá, bốn Hiến chế thiết lập và củng cố lễ Mẹ Vô nhiễm trong khắp Giáo hội.

Năm 1545, Công đồng Trentô do Đức Phaolô III triệu tập, công bố sắc lệnh có ba khoản nói về Mẹ Vô nhiễm:

1. Đức Maria được miễn trừ khỏi luật chung của Nguyên tội.

2. Đức Maria được gọi là Vô nhiễm. Ý nghĩa danh từ này phải được xác định là khỏi mọi vết nhơ, mà vết nhơ là Nguyên tội. Do đó, gọi Mẹ là Vô nhiễm vì Mẹ đầu thai vô nhiễm nguyên tội.

3. Các Hiến chế của Đức Sixtô IV phải được tôn trọng.

Năm 1567 Đức Thánh Piô V ban hành ba văn kiện về Mẹ Vô nhiễm. Văn kiện thứ nhất luận phi những lầm lạc của Baius cho rằng tin Đức Mẹ vô nhiễm thai là rối đạo.

Đức Clêmentê VIII ca ngợi, khích lệ và cho phát hành cuốn giáo lý do Thánh Bellarminô soạn, có câu:

H. Đầy ơn phúc nghĩa là gì?

T. Đức Mẹ đầy ơn phúc, vì Người không hề mang vết nhơ tội lỗi, dù là Nguyên tội hay hiện tội, tội trọng hay tội hèn.

Đức Grêgôriô XV ban hành sắc lệnh có một điều đáng chú ý:

Những ai phủ nhận Đức Mẹ Vô nhiễm phải tuyệt đối im lặng, vì sinh gương mù và chia rẽ giữa Giáo hội. Mẹ Maria đầu thai mà mắc tội là điều xúc phạm đến niềm tin của tín hữu. Tuy nhiên, được giữ tư kiến cho mình, vì vấn đề chưa được chính thức xác định.

Đức Alexanđrô VII là vị Giáo hoàng quan trọng thứ nhì sau Đức Piô IX trong việc định tín Mẹ Vô nhiễm. Trọng sắc "Sollicitudo Omnium Ecclesianum" của ngài có ba điều quan trọng:

1. Niềm tin Mẹ Maria Vô nhiễm là quan điểm đạo đức (Pia sententia).

2. Sự đầu thai nói về Mẹ Maria có nghĩa là Vô nhiễm.

3. Ngài giải thích các sắc lệnh của các vị tiền nhiệm xác nhận Mẹ Vô nhiễm.

Năm 1830, Đức Mẹ hiện ra ban cho Thánh Catarina Labouré tại Paris lời nguyện vắn tắt: "Lạy Mẹ Maria Vô nhiễm nguyên tội, xin cầu cho chúng con là kẻ tội lỗi chạy đến cùng Mẹ".

Đức Grêgôriô XVI, vị tiền nhiệm của Đức Piô IX, đã dọn đường rất gần để tiến tới việc định tín. Ngài ban phép cho 133 giáo phận và hội dòng thêm vào kinh cầu Đức Bà câu: "Nữ Vương chẳng hề mắc tội tổ tông, cầu cho chúng con". Sau này Đức Piô IX mới ấn định câu này trong kinh cầu Đức Bà cho khắp Giáo hội. Lòng sùng kính Mẹ Vô nhiễm đặc biệt của ngài ảnh hưởng sâu rộng trong Giáo hội. Từ năm 1840 đến 1844 có 86 đơn thỉnh nguyện xin định tín của các Hồng y, Giám mục nước Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức, và Trung Hoa, và năm 1849 thêm các đơn thỉnh nguyện của Công đồng Baltimore, Hoa kỳ.

Đức Piô IX đã được Thiên Chúa tuyển chọn để định tín Mẹ Vô nhiễm thai, nên lịch sử gọi ngài là Giáo hoàng của Mẹ Vô nhiễm. Từ năm 1846-1849 có thêm 130 đơn thỉnh nguyện, nên ngài quyết tâm tiến hành:

Ngày 1-6-1848 ngài triệu tập Hội đồng Tư vấn gồm các nhà thần học nổi danh, với sứ mệnh thẩm xét vấn đề. Hội đồng Tư vấn biểu quyết tâu xin định tín.

Ngày 22-12-1848 một Hội đồng Tiền chuẩn bị gồm tám Hồng y và năm cố vấn họp tại Naples dưới quyền chủ toạ của Đức Hồng y Lambruschini. Hội đồng tâu xin Đức Thánh Cha gửi một thông điệp cho các Giám mục xin cầu nguyện và hỏi ý kiến.

Ngày 2-2-1849 Đức Thánh Cha liền ban hành Thông điệp "Ubi Primum". Ngài nhận được 603 thư hồi âm tâu xin định tín hoặc xin tùy sự quyết định của Đức Thánh Cha. Với đủ yếu tố trong tay, Đức Piô IX họp Cơ mật viện gồm các Hồng y để quyết định lần cuối cùng và ngài viết Thông điệp "Ineffabilis Deus."

Trích www.dongcong.net

š¶›

Text Box: 940. Bất cứ chỗ nào con cũng noi gương Mẹ Maria, cho thế gian Chúa Giêsu. Điều kiện không phải là nơi chỗ, vì lần đầu tiên, trong chuồng bò, Mẹ đã cho các mục tử Chúa Giêsu. Điều kiện là con phải sống bác ái, hiệp nhất vì lúc ấy mới có Chúa Giêsu ở giữa con. Đời con phải là một lễ Giáng Sinh liên lỉ, mang Chúa Giêsu đến cho mọi người.
Trích Đường Hy Vọng – Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận
 
 


 

 

 

 

 

 

 

 


 

LỄ ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM

Lc 1, 26 – 38

Lm. Khuất Dũng, SSS

Sứ thần loan báo Thiên Sai

Nhiệm Mầu Cứu Độ gi đây khai mào

Nữ Tỳ khiêm tốn khát khao

Tình Yêu đáp tr thế nào cho cân ?

MARIA, Mẹ Thánh khiết trinh

Chúa thương ban Mẹ đặc ân cao vời

Thánh Thần Thiên Chúa sáng soi

Noi gương Mẹ sống cuộc đời xin vâng.

 

MAGNIFICAT

Lc 1, 41 - 56

Reo vui nhạc tấu cung đàn

Lộc trời đổ xuống ngập tràn mưa tuôn

Hồng ân dào dạt suối nguồn

Suốt đời hiếu thảo tình con chan hòa

Kỳ công Thiên Chúa bao la

Cậy trông tín thác hoan ca muôn đời

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 

LINH ĐẠO
 

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp