Số 70, Ngày 01-14-2006

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Chủ Đề Cầu Nguyện Cho Hiệp Nhất Năm 2006 - Hội Đồng Giáo Hoàng Về Hiệp Nhất

Tha Thứ Và Xin Lỗi – ĐGH Gioan Phaolô II và Phong Trào Đại Kết

Từ Đối Diện Đến Hiệp Nhất – Lm. Nguyễn Công Đoan, SJ

Đòi Hỏi và Ý Nghĩa của Đối Thoại Theo Quan Điểm của Giáo Hội - Trần Duy Nhiên

Hội Nhập Văn Hoá - Đỗ Trân Duy

Chúng Mình Đã Thực Sự Ở Lại Trong Người Lung Linh

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D.

Nói Câu “Xin Lỗi” Có Dễ Không?... - Sưu tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

 

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa Quý độc giả,

Niềm vui mừng Chúa Giáng Sinh vừa mới qua đi cùng với những ngày đầu năm dương lịch rộn ràng lễ lạc. Trước mắt chúng ta là một năm 2006 với con đường dài của ngày tháng, ở đó cuộc sống đợi chờ ta với bao công việc và sinh hoạt bình thường đều đặn mà ta vẫn từng đi qua bao nhiêu năm tháng. Trong phụng vụ, Giáo Hội cũng đưa chúng ta trở về với Mùa Thường Niên. Chính vì thế, Maranatha số 70 cũng trở về với những loạt bài “Linh Đạo Giáo Dân” và “Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện.” Tuy nhiên trong tháng đầu năm này, Giáo Hội mời gọi Dân Chúa dành một tuần lễ để đặc biệt cầu nguyện cho sự Hiệp Nhất giữa các Kitô Hữu.

“Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Sự Hiệp Nhất Các Kitô Hữu” (Week of Prayer for Christian Unity) hằng năm được dành ra vào tuần lễ từ 18 đến 25 tháng 1. Năm 1908, linh mục Paul James Francis Wattson đã đề nghị tuần lễ này vì đó là tuần khởi sự bằng lễ thánh Phêrô và kết thúc bằng lễ thánh Phaolô, như thế nói lên ý nghĩa hợp nhất giữa hai đường hướng tông đồ.

Dù việc hiệp nhất luôn là ưu tư của Giáo Hội Công Giáo kể từ ngày Giáo Hội Duy Nhất mà Chúa Giêsu đã thiết lập bị phân hai, rồi phân ba, thì đến Công Đồng Vatican II vấn đề này mới được đưa lên tầm mức quan trọng trong Giáo Hội. Đức Gioan XXIII  ước muốn rằng vấn đề Đại Kết phải là một trong các mục tiêu chính yếu của Công Đồng. Vì thế, ngày 5-6-1960, Ngài đã thiết lập Văn Phòng Thăng Tiến Hiệp Nhất Kitô Hữu (Secretariat for Promoting Christian Unity) như là một bộ phận chuẩn bị cho Công Đồng về vấn đề này. Đây là lần đầu tiên Tòa Thánh thiết lập một tổ chức chỉ để lo về vấn đề đại kết. Nhờ đấy mà Văn Phòng đã góp phần soạn thảo nhiều văn kiện liên quan đến Đại Kết và các tôn giáo bạn, như Unitatis redintegratio, Nostra ætate, Dignitatis humanae, Dei Verbum…

 Trong những thập niên vừa qua, Đức Gioan Phaolô II đã đi một bước rất xa trên con đường tìm lại sự hiệp nhất qua những diễn từ của Ngài ở nhiều nơi, và đặc biệt Ngài đã ban hành hiến chế Pastor Bonus, 28-6-1988, để biến Văn Phòng trở thành Hội Đồng Tòa Thánh Thăng Tiến Hiệp Nhất Kitô Hữu (Pontifical Council For Promoting Christian Unity), và Hội Đồng này được hình thành và hoạt động từ ngày 1-3-1989.

Hội Đồng đặc biệt này đã cố vấn cho Đức Thánh Cha nhiều phương hướng để tìm ra con đường hiệp nhất, tuy nhiên, cho đến khi Ngài về nhà Cha thì mọi cánh cửa của Đại Kết cũng chưa được mở ra trọn vẹn. Vì thế, Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Hiệp Nhất vẫn là điều mà Giáo Hội mời gọi Dân Chúa cần phải cố gắng hết sức thực hiện trong khả năng và thiện chí của mình, bởi vì như Đức Hồng Y Yves Congar đã từng khẳng định: “Cánh cửa đại kết chỉ có thể vượt qua bằng đầu gối.” Đó phải chăng chính là hình ảnh của cánh cửa Đại Thánh Đường Thánh Phaolô-Ngoại-Thành, nơi đó ba vị lãnh đạo của các Giáo Hội Anh Giáo, Công Giáo, và Chính Thống Giáo cùng quỳ gối gõ vào cánh cửa là hình bóng của Đức Kitô và cầu nguyện cho sự hiệp nhất.

Cùng với lời cầu nguyện, Maranatha cũng mời độc giả cùng suy tư dựa theo những lời chia sẻ của linh mục James Puglisi, OFM:

“Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, tiếp theo sau Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI, đã hoạt động để Giáo Hội dấn thân mạnh mẽ vào việc đại kết, hoàn toàn như những gì mà các thánh phụ Công Đồng Vatican II đã hình dung. Ngài đã giải thích điều ấy trong Tông Thư “Xin Cho Chúng Nên Một” và không có biệt lệ, trong mỗi lần Ngài thăm viếng mục vụ. Theo tôi sẽ thú vị nếu nhận định rằng lập trường đại-kết của Người là một trong những điều cuối cùng phải được hiểu, cho dù người ta trích dẫn các lời tuyên bố của Người về những vấn đề luân lý.

 Chúng ta phải tự hỏi xem chúng ta đã sống ra sao mệnh lệnh Đại Kết vốn là trọng tâm của việc truyền giáo và của cuộc đời Chúa Giêsu, khi Ngài cầu nguyện với những lời nầy: “Hầu cho tất cả chúng nên một” (Ga 17) và đã liên kết chúng chặt chẽ với sứ mệnh của Giáo Hội trong thế gian, khi nói thêm: “Để thế gian tin.” Cuộc sống Phúc Âm tùy thuộc vào đó! Đức Gioan Phaolô II đã nhận ra và đã dấn thân trên con đường nầy, cố gắng bước theo chân Đức Chúa. Ta hãy tự hỏi những người khác đã làm như vậy chưa và phải chăng đó không phải là cam kết mà tất cả mọi Kitô-hữu đảm nhận khi chịu phép rửa tội? Có rất đông người tuyên bố trung thành với Quyền giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II, nhưng lòng trung thành nầy có vươn tới những lời giáo huấn của Ngài chăng? Đó là một câu hỏi mà người Công-giáo phải suy nghĩ trong Tuần Lễ Cầu Nguyện nầy.” (trích bản  dịch của Trang Liên Lạc Cựu Chủng Sinh Kontum, số 131)

Hiệp thông trong tâm tình đó, Maranatha 70 gửi đến quý vị các bài viết về  ý hưóng Hiệp Nhất trong cầu nguyện, tha thứ, xin lỗi và đối thoại mà Giáo Hội Công Giáo, qua Đức Gioan Phaolô II, đã thực hiện trong những thập niên gần đây, để rồi trong tuần lễ này, khi cầu nguyện cho Hiệp Nhất, chúng ta hiểu rằng lời cầu nguyện tột đỉnh vẫn là: Maranatha! Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!

MARANATHA

 

 


 

TUẦN LỄ CẦU CHO SỰ HIỆP NHẤT

 


 

CHỦ ĐỀ CẦU NGUYỆN CHO HIỆP NHẤT NĂM 2006

“Ở đâu có hai hay ba người họp lại nhân danh Thầy, thì thầy ở giữa họ.”(Mt 18, 20)

 

Hội Đồng Tòa Thánh về Hiệp Nhất- Maranatha dịch

 

Điều hiệp nhất chúng ta thì mạnh mẽ hơn là điều chia rẽ chúng ta - đấy là khám phá khởi nguồn cho phong trào đại kết. Yếu tố quan trọng nhất cho sự hiệp nhất giữa chúng ta là sự hiện diện của Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng đã hứa với các môn đệ rằng Ngài sẽ ở lại với họ mọi ngày cho đến tận thế. Cuối phúc âm thánh Matthêu, Chúa Giêsu đã nêu lên lời hứa này ngay sau khi Ngài bảo các môn đệ thu nhập đệ tử khắp mọi dân tộc và rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. (x. Mt 28, 19-20). Ngài biết rõ khó khăn mọi mặt mà họ phải đối diện và không muốn để họ ‘mồ côi’ trên bước đường thực thi sứ mạng của mình (x. Ga 14), thế nên Ngài hứa sẽ ở lại với họ. Ngài là Emmanuel, nghĩa là ‘Thiên-Chúa-ở- cùngchúng-ta.’ (Mt 1, 23)

Các sách Phúc Âm nói về những cách khác nhau mà Chúa Giêsu Phục sinh đang hiện diện giữa chúng ta: khi Lời được công bố và đón nhận, và khi bánh và rượu Tạ Ơn được dâng lên để tưởng niệm Ngài; Ngài cũng hiện diện nơi những bé thơ, người đói khát, kẻ tù đày, người bị bỏ mặc; Ngài hiện diện trong từng người lân cận; Ngài hiện diện giữa những ai thực thi sứ mạng và tác vụ của Ngài trên thế gian. Chính trong bối cảnh này mà lời hứa của Chúa Giêsu được nêu làm chủ đề cho Tuần Lễ cầu nguyện cho Hiệp Nhất trong năm nay: “Ở đâu có hai hay ba người họp lại nhân danh Thầy, thì thầy ở giữa họ.” (Mt 18, 20)

Lời hứa này, thánh Matthêu đặt trong bối cảnh mà Chúa Giêsu dạy dỗ phải làm thế nào để tổ chức một cộng đoàn giáo hội biết quan tâm đến những người thiếu thốn nhất; làm thế nào Giáo Hội có thể phục vụ những phần tử lầm lạc, và phải tha thứ họ đến mức độ nào. Chương 18 trong Phúc Âm thánh Matthêu chứa đựng những lời mạnh mẽ liên quan đến việc xét đoán. Những lời ấy giống như các bản chỉ đường cho cộng đồng Kitô hữu, chỉ cho họ thấy những điểm mà họ đã lỗi phạm đối với trách nhiệm của một môn đệ.

Trong Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Hiệp Nhất Kitô hữu và trong lời cầu nguyện cho hiệp nhất trải dài suốt năm nay, chúng ta được mời gọi ý thức rằng hiệp nhất là một ân sủng mà chúng ta cần phải cầu xin không ngừng. Khi chúng ta nỗ lực thăng tiến sự hiệp nhất của cộng đoàn mình và sự hiệp nhất của tất cả mọi Kitô hữu, chúng ta biết rằng mình rất cần phải họp nhau trong tinh thần đại kết nhân danh Chúa Giêsu. Mỗi khi chúng ta tụ họp để cầu nguyện, chúng ta được mời gọi đặt lòng cậy trông vào quyền năng của lời cầu nguyện trước sự hiện diện của Chúa Giêsu, Đấng từng hứa với môn đệ: “Thầy cũng nói với anh em, nếu hai người trong anh em trên trần gian hợp ý xin bất cứ điều gì, thì Cha của Thầy ở trên trời sẽ ban cho” (Mt 18,19). Điều cần thiết, không phải là có nhiều người cầu nguyện, nhưng là có sự hiệp ý trong cầu nguyện. Lời thinh lặng trong cõi lòng mỗi người sẽ được nhân lên khi chúng ta họp lại nhân danh Chúa Kitô. Khi cầu nguyện, ta hãy nhớ cảm tạ Chúa về những tiến bộ đã đạt được trong những thập niên vừa qua trên con đường hiệp nhất; Chúa Giêsu đã hiện hiện giữa chúng ta qua quyền năng Thần Khí Ngài và đã cùng chúng ta dâng lên lời cầu nguyện với Chúa Cha.

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

 

 

 

THA THỨ  VÀ XIN LỖI

Chúa hứa sẽ hiện diện giữa chúng ta, và lời hứa ấy không hạn hẹp nơi cộng đoàn qui tụ trong nghi lễ phụng vụ. Bởi lẽ tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi được nhập thể trong Chúa Kitô, nên trong Ngài chúng ta có thể sống một đời sống hiệp thông cắm rễ ngay trong Ba Ngôi. Nhờ sự hiện diện của Thần Khí Ngài, Chúa Phục Sinh muốn ở cùng chúng ta mọi lúc mọi nơi, chia sẻ những lo âu của chúng ta, khuyên bảo chúng ta, đồng hành với chúng ta, viếng thăm nơi ăn chốn ở hay nơi làm việc của chúng ta, khơi dậy niềm vui bằng sự hiện diện của Ngài, một sự hiện diện đưa thẳng chúng ta đến với cõi lòng của Chúa Cha. Ngài muốn chúng ta cảm nhận được sự gần gũi của Thiên Chúa, cũng như sức mạnh và tình yêu của Người. Ngài muốn ở giữa chúng ta để biểu lộ, qua chúng ta, tình yêu và sự hiện diện của ngài trong gia đình, nơi làm việc, tại trường học và trong các môi trường mà ta đang sốngnbsp;       Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và Phong Trào Đại Kết.

Maranatha sưu tầm và dịch

 

Phải nhìn nhận rằng, mặc dù thao thức hiệp nhất luôn là ưu tư của Giáo Hội Công Giáo thì sáng kiến Đại Kết xuất phát từ giáo hội Anh Giáo. Năm 1920, các giám mục trong Giáo hội Anh giáo đã trọng thể khẳng định, vào dịp Hội nghị Lambeth, rằng có một tội chia rẽ mà mọi Giáo Hội đã phạm phải: đấy là một trong những văn kiện đầu tiên của lịch sử đại kết, trong văn kiện này, có một Giáo hội nhìn nhận phần trách nhiệm của mình:

Nên tìm lại trong lịch sử những nguyên do gây chia rẽ, và quả thật, chúng không đơn giản và cũng không hoàn toàn đáng trách. Tuy nhiên, không ai có thể nghi ngờ điều này: lòng ích kỷ, tham vọng, sự thiếu vắng bác ái giữa các Kitô hữu với nhau đã là những yếu tố chính tạo nên tình trạng phức tạp và cũng những nguyên do ấy, kết hợp với sự đui mù trước cái tội đã gây chia rẽ, là những nguyên do mà ngày nay ta vẫn còn có thể, một phần lớn, gán cho sự chia rẽ giữa các Giáo hội Kitô giáo. Chúng tôi nhìn nhận rằng tình trạng đổ vỡ hiệp nhất đi ngược với thánh ý Thiên Chúa và chúng tôi muốn chân thành xưng ra phần trách nhiệm của chúng tôi về những tổn thương gây ra cho thân thể Chúa Kitô và về những trở ngại được dựng lên để ngăn cản tác động của Thánh Linh Ngài.

Thế nhưng gần 30 năm sau, thái độ của Giáo Hội Công Giáo vẫn là thái độ tự vệ hơn là ‘tha thứ và xin lỗi.’ Ta đọc được điều này trong Thông tri của Thánh Bộ Đức Tin gởi đến các giám mục thế giới về “Phong Trào Đại Kết”, ban hành ngày 20 tháng 12 năm 1949:

[Các giám mục] sẽ cẩn thận và quả quyết ngăn chặn không để cho người ta, trong khi trình bày lịch sử về cuộc Cải Cách và những Người Cải Cách, cường điệu quá sức những khuyết điểm của Công giáo và che dấu quá sức những lỗi lầm của các Người Cải Cách, hoặc nhấn mạnh quá sức đến những yếu tố riêng lẻ khiến không ai còn thấy được và cảm được điều chính yếu, đó là việc chối bỏ đức tin Công giáo.

Phải đợi thêm 20 năm nữa thì lời ‘tha thứ và xin lỗi’ mới bật ra được qua môi miệng của một vị giáo hoàng. Ngày 29 tháng 9 năm 1963, ba tháng sau ngày được bầu, Đức Phaolô VI ngỏ lời tại Đền thờ Thánh Phêrô  như sau:

Bây giờ, chúng tôi trân trọng ngỏ lời với các vị đại diện mà các cộng đồng Kitô giáo ly khai với Giáo hội Công giáo đã gởi đến hội nghị trọng thể này, những người được gọi là Quan sát viên. [...] Nếu trong nguyên do việc ly khai này có một lỗi nào đó được quy cho chúng tôi, chúng tôi khiêm nhường xin lỗi Chúa và cũng xin lỗi những anh em ly khai nào nghĩ rằng chúng tôi đã xúc phạm họ. Về phần chúng tôi, chúng tôi sẵn sàng tha thứ cho những xúc phạm mà Giáo hội Công giáo là nạn nhân, và quên đi những đau thương mà Giáo hội đã gánh chịu do một loạt các bất hoà và chia cách.

Nhưng 70 năm sau lời kêu gọi Lambeth, thì chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II mới là người nói lên lời xin lỗi và thứ tha của Giáo Hội công giáo một cách trọn vẹn.. Ngày 28 - 11 - 1991, tại thánh đường Phêrô, trong bài giảng khai mạc Hội nghị giám mục Châu Âu, ngài khẳng định rằng chỉ có sự tha thứ mới thực sự tẩy sạch ký ức lịch sử khỏi những lỗi phạm đã được nhìn nhận:

Vào cuối thế kỷ bi thảm này, câu hỏi của thánh Phêrô có vẻ mang một tầm quan trọng đặc biệt: “Con phải tha thứ bao nhiêu lần?” Chúng ta phải tha thứ mãi mãi, và đồng thời nhớ rằng mình cũng cần được thứ tha. Chúng ta cần được tha thứ nhiều lần hơn là chúng có thể tha thứ.

Và ngày 7-12-1991, cũng tại thánh đường Phêrô, trong thánh lễ đại kết vào ngày bế mạc hội nghị giám mục Châu Âu, ngài lại trở về với ý tưởng này:

Sứ điệp mang ơn cứu độ, mà chúng ta là sứ giả, chỉ được những người đương thời đón nhận khi nào sứ điệp đó đi kèm với một chứng từ phù hợp. Công đồng Vatican khẳng định rằng “không thể có phong trào hiệp nhất chính danh mà không có sự hoán cải tâm hồn. Thật vậy, những ước vọng hiệp nhất bắt nguồn và chín mùi nhờ sự đổi mới tâm hồn, từ bỏ chính mình và bác ái một cách hết sức quảng đại”. (Unitatis redintegratio, 7). Dưới ánh sáng của nguyên tắc này, ta cần phải tự vấn về nền tảng đạo đức của việc đối thoại dựa theo các đòi hỏi Phúc âm.

Đấy là những đòi hỏi về chân lý và tình yêu. Chân lý và tình yêu buộc chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận những sự kiện, sẵn sàng tha thứ và đền bù những tổn hại gây cho nhau. Chân lý và tình yêu ngăn cản không cho chúng ta khép mình lại trong những thành kiến, mà thường là nguyên nhân của những chua chát và trách móc tiêu cực; chân lý và tình yêu giúp chúng ta không ném vào mặt anh em những lời buộc tội thiếu cơ sở, bằng cách gán cho họ những ý đồ và những dự định mà họ không hề có. Như thế, khi ta được thúc bách bởi lòng khát mong thực sự hiểu được quan điểm của tha nhân, những xung đột sẽ lắng đi nhờ đối thoại kiên trì và thành thực, dưới sự hướng dẫn của Thần Khí Yên Ủi.

Với văn kiện pro memoria gởi đến các hồng y vào mùa xuân 1994, Ngài nêu ra việc xét mình về trách nhiệm Công giáo trong việc chia rẽ các Giáo hội như là một chương trình gửi đến cho mọi người:

Trong tư thế hoàn toàn sẵn sàng đón nhận tác động của Thánh Thần, Giáo hội và Kitô hữu phải tập trung vào sứ mạng này bằng cách canh tân sự dấn thân của mình trước thềm năm 2000. Thiên niên kỷ thứ II sắp kết thúc mời gọi mỗi người xét mình và đưa ra những sáng kiến thích hợp cho phong trào đại kết, hầu cho tất cả chúng ta gặp lại nhau trong Năm Thánh, nếu không được hoàn toàn hoà thuận, thì ít ra cũng ở trong một tình trạng chống đối và chia rẽ ít hơn tình trạng trong thiên niên kỷ thứ II này. (Sứ điệp pro memoria, gởi đến các hồng y, mùa xuân 1994)

Ngày khai mạc Hội nghị bất thường của các hồng y, năm 1994, đức giáo hoàng lại đề nghị tiến hành việc cáo mình mà Ngài đã từng nêu ra trong văn kiện pro memoria; việc cáo mình này đã gây một tiếng vang trong dư luận quần chúng, và một vài lời phê bình bên trong Giáo hội, như những lời đã được trích dẫn trong chương 8 của phần I:

Hướng về năm 2000, có lẽ đấy là nhiệm vụ lớn nhất. Chúng ta không thể trình diện trước mặt Đức Kitô, Chúa của lịch sử, trong tình trạng chia rẽ như hiện nay, trong khi chúng ta đã từng gặp lại nhau trong thiên niên kỷ thứ II. Những sự chia rẽ này phải nhường bước cho việc tiến lại gần nhau và cho sự hòa thuận. Những thương tích trên đường đi đến hiệp nhất các Kitô hữu phải được lành lặn. Trước thềm Năm Thánh này, Giáo hội cần phải thực hiện cuộc metanoia, nghĩa là phân định những thiếu sót trong lịch sử và sự lơ là của con cái mình trước những đòi hỏi của Phúc âm. Chỉ có can đảm nhìn nhận những lỗi lầm và thiếu sót mà Kitô hữu đã chịu ít nhiều trách nhiệm, cũng như có ý định quảng đại phải đền bù các lỗi lầm và thiếu sót đó nhờ vào sự trợ lực của Chúa, thì mới có thể đem đến một sinh khí hữu hiệu cho cuộc rao giảng Phúc Âm mới và làm cho con đường đi đến hiệp nhất trở nên dễ dàng hơn. (Hội nghị bất thường các hồng y, 13-6- 1994, diễn văn khai mạc)

Để kết luận giai đoạn huấn luyện về việc cáo mình, đức giáo hoàng nêu ra trong thư hướng về Năm Thánh rằng tội gây chia rẽ là tội đầu tiên cần phải đền bù:

Trong số các tội đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực nhiều để thống hối và hoán cải, dĩ nhiên phải kể đến những tội phạm đến sự hiệp nhất mà Thiên Chúa muốn cho Dân Ngài phải có. Trong một ngàn năm qua, hơn là trong thiên niên kỷ thứ I, cộng đồng giáo hội, “đôi khi vì lỗi của hai bên,” đã biết đến nhiều sự xâu xé đau thương, rõ ràng đi ngược lại với ý định của Đức Kitô và là một gương xấu cho toàn thế giới. Đau lòng thay, những tội lỗi trong quá khứ ấy vẫn còn đè nặng và tồn tại cho đến ngày nay, như những chước cám dỗ. Cần phải nhận lỗi, bằng cách hết lòng nài xin Đức Kitô tha thứ. (Tertio millennio adveniente, 34)

Từ việc cam kết nhìn nhận tội lỗi cá nhân mình đến lời kêu gọi tha thứ lẫn nhau, giai đoạn cuối cùng của tư tưởng tự phê của Đức Gioan Phaolô II được điễn đạt trong thông điệp Ut unum sint: (tháng 5-95)

Mọi tội lỗi thế gian đã được gom vào sự hy sinh ban ơn cứu độ của Đức Kitô và như thế có cả tội mà Kitô hữu - các mục tử không phải là ít hơn giáo dân - đã phạm đối với sự hiệp nhất Kitô hữu. Dù sau khi nhiều tội lỗi đã gây ra những cuộc chia rẽ trong lịch sử, vẫn còn có thể hiệp nhất các Kitô hữu, với điều kiện là ta khiêm nhường nhận thức rằng mình đã phạm tội đối với hiệp nhất và xác tín rằng mình cần phải hoán cải. Không chỉ là những tội lỗi cá nhân mới cần được tha thứ và vượt qua, nhưng cả những tội lỗi xã hội, có thể nói là chính “những cơ cấu” của tội lỗi, đã từng gây ra và có thể tiếp tục gây ra sự chia rẽ và củng cố sự chia rẽ đó. [...] Giáo hội Công giáo phải dấn thân vào việc mà ta có thể gọi là “đối thoại hoán cải,” đấy là nền tảng tinh thần của việc đối thoại đại kết. Trong đối thoại này, một đối thoại được Thiên Chúa hướng dẫn, mỗi người phải tìm lại những sai lầm của mình, xưng ra các tội lỗi và đặt mình trong bàn tay của Đấng Bàu Chữa trước mặt Chúa Cha, là Đức Giêsu Kitô. (Ut unum sint, 34,82).

Nhân lễ phong thánh cho cha Jan Sarkander, tại Olomone, Cộng hoà Séc, 21-05-1995, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã ‘xin lỗi’ như sau:

Hôm nay, tôi, giáo hoàng Giáo hội La mã, nhân danh mọi người công giáo, tôi xin lỗi vì những lỗi phạm đã gây ra cho những người ngoài công giáo trong quá trình lịch sử đau thương của những dân tộc này, và đồng thời tôi bảo đảm sự thứ tha của Giáo hội công giáo đối với những đau thương mà con cái mình đã gánh chịu. Chớ gì ngày hôm nay trở thành một khởi sự mới cho nỗ lực chung của chúng ta hầu đi theo Chúa Kitô, theo Phúc âm của Ngài, giới luật yêu thương của Ngài, ước vọng sâu xa của Ngài là mọi người tin Ngài đều hiệp nhất với nhau.

Nhân dịp lễ phong chân phước cho ba vị tử đạo mà giáo quyền Tin lành đã kết án năm 1619, tại Kosice:

Phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ về những sự kiện bi đát xảy ra vào đầu thế kỷ XVII, bằng cách nêu rõ một mặt sự phi lý của bạo lực và mặt khác những gương sáng ngời của bao nhiêu môn đệ Chúa Kitô đã biết đương đầu với đủ loại khổ đau hầu không chối bỏ những điều mà lương tâm vạch ra cho họ. Quả thật, bên cạnh ba vị tử đạo ở Kosice, còn có nhiều người thuộc các Giáo hội Kitô giáo khác cũng đã bị hành hạ tra tấn và chịu những bản án nặng nề: thậm chí một số người đã bị giết. Chẳng hạn, làm sao mà không thừa nhận sự cao cả tâm linh của hai mươi bốn tín hữu thuộc Giáo hội Tin lành đã bị giết tại Presov? Với những người ấy và với những ai đã đón nhận khổ đau và cái chết để trung thành với niềm xác tín của mình, Giáo hội nói lên lời ca ngợi mà họ xứng đáng và tỏ bày lòng ngưỡng mộ của mình. (Kosice, Slovakia, 2-7-1995, bài giảng lễ phong chân phước cho ba vị tử đạo)

Xin lỗi tại Olomone. Cả hai hành động này đều được tôn vinh qua một hành động độc đáo và bất ngờ: cuộc kính viếng đài kỷ niệm các vị tử đạo Tin lành mà Đức Gioan Phaolô II đã thực hiện ngay chiều ngày 2 tháng 7 hôm đó, tại Presov. (1995)

Đức Gioan Phaolô II thinh lặng đứng dưới mưa, trong một góc quảng trường của cổ thành Presov, trước đài kỷ niệm những vị tử đạo thuộc Giáo hội Calvin đã bị người Công giáo giết vào năm 1687. Đấy là hành động khiêm nhường nhất và gây ngạc nhiên nhất trong những hành động đại kết mà vị giáo hoàng này đã thực hiện. Việc này không nằm trong chương trình, ngài đã quyết định vào giờ phút chót. Ngài im lặng cầu nguyện trước khối đá này, có lẽ ngài xin lỗi những Kitô hữu đáng thương này, những người đã chết cho đức tin, từ chối không chịu đặt mình dưới quyền của giáo hoàng, và đã bị giết bởi những Kitô hữu khác, vì muốn bảo vệ quyền giáo hoàng và nhân danh đức tin.

Giám mục Giáo hội Luther tại Presov, đức Jan Midriak, cũng hiện diện bên cạnh ngài: sau lời cầu nguyện im lặng, giám mục đã đón chào giáo hoàng và cám ơn vì ngài đã đến đấy. Họ cùng nhau đọc kinh Lạy Cha.

Tôi nhớ lại ngày mà Martin Luther đến Rôma, năm 1510-1511, để viếng thăm mộ các vị tông đồ chủ chốt, ông đến như một người hành hương, nhưng cũng trong tư thế của một người tìm kiếm và tra hỏi. Hôm nay, tôi đến với quí vị, với di sản thiêng liêng của Martin Luther, tôi đến như một người hành hương. Qua cuộc gặp gỡ này trong một thế giới đã đổi thay, tôi đến đặt một dấu chỉ hiệp nhất trong mầu nhiệm trung tâm của đức tin chúng ta. [...]

Đầu buổi trao đổi này, cho phép tôi nói lên điều làm tôi xúc động đặc biệt. Tôi sẽ trao đổi dựa trên chứng từ của thư gửi tín hữu Rôma, một văn bản mang tính chất quyết định đối với Martin Luther. Ông viết vào năm 1522: “Bức thư này thực sự là một tuyệt tác trong Tân Ước và là cuốn Phúc âm tinh ròng”.

Học theo vị tông đồ các dân tộc, chúng ta có thể ý thức rằng tất cả chúng ta đều cần phải hoán cải. “Chúng ta không muốn xét xử lẫn nhau” (Rm 2,23). Ngược lại, chúng ta muốn cùng nhau nhìn nhận lỗi phạm của mình. (Mayence, 17-11-1980, gặp gỡ với Giáo hội Luther)

Nhân dịp viếng thăm Giáo hội Luther tại Rôma, ngày 11-12-1983, Đức Gioan Phaolô II cũng đã thực hiện một hành động công nhận Luther: ngài đã muốn người ta đọc lại, vào cuối thánh lễ, một lời kinh thật hay mà Luther đã viết để cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô hữu.

Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa, chúng con van nài Chúa,

Chúng con là những kẻ tội lỗi,

Xin dùng Thánh Linh Chúa

Để ban lại sự hiệp nhất cho những gì đã rạn nứt,

Để qui tụ những gì đã chia cách và biến tất cả thành một.

Xin làm cho chúng con chỉ hướng về chân lý vĩnh cửu độc nhất của Chúa mà thôi,

Bằng cách từ bỏ mọi sự chia rẽ giữa chúng con,

Hầu cho chỉ có duy nhất một tư tưởng và một cảm thức

Dẫn đưa chúng con đến với Chúa, là Chúa Giêsu.”

Trong chuyến viếng thăm đức thượng phụ Constantinople Dimitrios I, tại Istanbul, vào tháng 11-1979, ngài đã nói:

“Tôi mong muốn rằng cuộc viếng thăm ngày hôm nay mang ý nghĩa của một lần gặp gỡ trong đường hướng tông đồ chung; hầu cùng đi đến sự hiệp nhất trọn vẹn, mà những hoàn cảnh lịch sử đáng buồn đã làm tổn thương, nhất là trong thiên niên kỷ thứ II. Làm sao mà không nói lên niềm hy vọng vững vàng của chúng ta vào Thiên Chúa hầu cho một thời kỳ mới được ló dạng trong một ngày gần đây?”

Cùng hướng về Chúa trong lời kinh trọng thể và cao cả này, mà nhiều lần vang lên lời “ Lạy Chúa, xin thương xót,” chúng ta chỉ có thể khiêm nhường nhìn nhận rằng trong tương quan giữa các Giáo hội, trong quá khứ, tinh thần huynh đệ Phúc âm đã không phải lúc nào cũng ngự trị. Các kinh nghiệm đau thương vẫn còn sống trong ký ức của mọi người. Chính ký ức đó là nơi cắm rể của sự thiếu tin tưởng mà đến bây giờ chúng ta vẫn chưa hoàn toàn vượt qua. Tất cả chúng ta đều mang gông cùm của tội lỗi lịch sử, tất cả chúng ta đều đã phạm sai lầm: “Nếu chúng ta bảo rằng mình không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta.” (1Ga 1,8). Nơi nào có lỗi phạm, dù ở bất cứ bên nào, thì chỉ có thể sửa chữa bằng việc nhìn nhận lỗi phạm của mình trước mặt Chúa, và nhờ sự thứ tha. Với một nỗi đau thành thật và sâu lắng, chúng tôi nhìn nhận điều đó trước mặt Chúa ngày hôm nay, và xin ngài tha thứ cho chúng tôi: Lạy Chúa, xin thương xót và thứ tha

Nhớ lại lời của Chúa, “xin tha lỗi chúng con như chúng con cũng tha kẻ có lỗi với chúng con”, trong tinh thần hòa giải với nhau, chúng ta hãy tha thứ cho nhau về những thiệt hại trong quá khứ, hầu gầy dựng một cách mới mẻ và mang chất Phúc âm chân chính những tương giao của chúng ta và xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho các Giáo hội đã được giao hòa. (Bialystok, Ba lan, 05-06-1991, gặp gỡ đại kết trong giáo đường Chính thống giáo)

Tội chia rẽ của chúng ta thật là nặng. [...] Cần phải nhận lỗi, và hết sức kêu nài Chúa Kitô thứ tha. [...] Chúng ta đã làm cho thế giới thiếu đi một chứng tích chung hẳn đã có thể tránh được nhiều thảm kịch và thậm chí có thể thay đổi dòng lịch sử. [...] Đấy chẳng phải là một nguy cơ phạm tội sao? Một nguy cơ trầm trọng mới mà chúng ta cần phải nỗ lực chiến thắng hết sức mình, nếu chúng ta muốn rằng các dân tộc có thể tìm thấy dễ dàng hơn Thiên Chúa Tình Yêu, thay vì lại vấp phạm vì những sự xâu xé và chống đối của chúng ta. (Orientale lumen, 06-05-1995.)

Khẩu hiệu tha thứ lẫn nhau lại được nêu ra trong bản thông cáo chung của đức giáo hoàng và đức thượng phụ Constantinople, vào cuối cuộc viếng thăm của đức thượng phụ tại Rôma, vào tháng 6 -1995:

Trong thời gian chuẩn bị này, chúng tôi kêu gọi tín hữu của chúng tôi, Công giáo và Chính thống giáo, củng cố tinh thần huynh đệ xuất phát từ phép rửa duy nhất và và từ việc chuẩn bị và sống đời sống bí tích. Trong quá trình lịch sử, và trong quá khứ gần đây, đã xảy ra những việc xúc phạm và những điều làm phật lòng nhau; trong khi đó, trong hoàn cảnh hôm nay, chúng tôi sắp sửa kêu cầu đến lòng thương xót vô biên của Chúa, chúng tôi mời gọi tất cả [tín hữu chúng tôi] tha thứ cho nhau và thể hiện quyết tâm thiết lập những tương quan huynh đệ mới và hợp tác tích cực.

Qua những lần gặp gỡ, giáo hoàng La mã và thượng phụ đại kết đã cầu nguyện cho sự hiệp nhất mọi Kitô hữu. Trong lời cầu nguyện của họ, họ đã nhớ đến mọi người tạo thành thân thể Chúa Kitô qua phép rửa và họ đã xin cho các cộng đồng khác nhau được luôn luôn trung thành hơn đối với Phúc âm Ngài.

Họ mang trong lòng mối quan tâm đến toàn thể nhân loại, không phân biệt chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, ý thức hệ và tôn giáo.

Vì vậy, họ khuyến khích sự đối thoại, không chỉ giữa những Giáo hội Kitô giáo với nhau, mà còn với những tôn giáo khác và nhất là những tôn giáo độc thần. [...]

Mong sao Chúa thương chữa lành những vết thương đang hành hạ nhân loại ngày hôm nay và lắng nghe lời cầu xin của chúng tôi và của tín hữu chúng tôi và ban hòa bình cho các Giáo hội và cho toàn thể thế giới. (Thông cáo chung của Đức Gioan Phaolô II và Đức thượng phụ Bartholomeos I)

                                                                                                                                        Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

 

 

 

TỪ ÐỐI DiỆn đẾn HiỆp NhẤt

Lm. Nguyễn Công Ðoan, SJ

Lạy Chúa Giêsu,
Xin cho con thấy Chúa thật to,
để mọi sự khác, với con, thành bé nhỏ.
Xin cho con thấy Chúa thật bao la,
để cả mặt đất, với con, cũng là chật hẹp.
Xin cho con thấy Chúa thật cao sâu,
để con dễ nhận cả nỗi đau như vực thẳm.
Xin Chúa cho con đầy sức mạnh,
để không thất vọng nào chạm được tới con
Xin Chúa ở trong con, cho đầy ắp,
để không trống khoảng nào dù cho một thoáng ước mong.
Xin Chúa cho con nên trầm lắng,
để chỉ loan truyền Danh Thánh Chúa thôi.
Lạy Chúa Giêsu, xin ngự trong con cho sống động,
để không phải con mà là Chúa sống bên trong.
(Gal 2,20)

 

Ba lời cầu xin đầu là ở tư thế đối diện với Chúa, nhìn Chúa để rồi nhìn mọi sự trước mặt Chúa. Ðó là qui luật của phối ảnh (perspective) trong tầm nhìn thị giác và trí tuệ của con người. Ðứa bé có thể thấy mình to lắm khi nó chơi với bạn bè cùng lứa tuổi, nhưng đứng trước cha mẹ nó thấy mình thật bé nhỏ; có thể thấy chiếc xe bằng nhựa của nó là to, nhưng khi thấy chiếc xe thật thì nó thấy xe của nó là nhỏ. Nhìn cái xe đậu trước nhà, thì thấy xe nhỏ nhà to, nhưng nhìn cái nhà trước dãy núi thì lại thấy cái nhà chẳng thấm gì... Tầm nhìn của trí tuệ cũng chịu qui luật ấy. Kẻ mới biết dăm ba chữ thì hay khoe khoang, làm như mình là nhà thông thái, nhưng nhà bác học thì biết mình dốt nát vô cùng!

Khi ta thấy Chúa thật to lớn thì đặt mọi sự trước mặt Chúa, ta sẽ thấy tất cả đều bé nhỏ. Khi ta thấy Chúa thật bao la như lúc ngắm bầu trời đêm lấp lánh, ta thấy được mặt đất này chẳng thấm tháp gì! Và khi ta thấy Chúa thật cao sâu, thì dù nỗi đau có nhận chìm ta vào vực thẳm, ta vẫn thấy mình còn trong lòng bàn tay của Chúa, bởi chẳng có vực thẳm nào sâu hơn lòng Chúa.

Lời tiếp theo là xin Chúa tác động vào ta bằng quyền năng của Chúa. Khi ta được đầy sức mạnh của Chúa thì không có gì có thể làm ta chán nản, thất vọng được nữa.

Lời thứ năm xin Chúa hiện diện trong ta, chiếm đoạt ta trọn vẹn, để không còn thọ sinh nào, không còn cái gì khác có thể làm ta mong ước, thèm thuồng nữa, vì Chúa làm ta hoàn toàn no thỏa rồi. Chúa là gia nghiệp đời con, là hạnh phúc của con.

Lời cầu xin thứ sáu là hậu quả của sự hiện diện đầy ắp. Khi Chúa là tất cả và là hạnh phúc của ta, thì ta chẳng còn thấy gì khác đáng cho ta nói đến hơn là Chúa. Như khi hai người yêu nhau say đắm thì người ta khó nói chuyện gì ngoài người yêu của mình, hay khi người mẹ đang nuôi con, thì khó nói chuyện gì mà không nhắc tới con. Sự im lặng của ta không phải là sự trống rỗng, mà là sự đầy ắp, thùng rỗng kêu to.

Lời cuối cùng là tột đỉnh mà thánh Phaolô (Gal 2,20) diễn tả: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi.”

Bảy lời cầu xin này đưa ta từ đối diện tới hiệp nhất nên một với Chúa: Chúa ở trước mặt ta, Chúa tác động trong ta, Chúa ở trong ta và cho ta nên một với Chúa

Trở về mục lục >>

 

š¶›

 

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 1 NĂM 2006

   Ý chung: Xin cho mọi nỗ lực hiệp thông trọn vẹn của những Kitô hữu sẽ làm tăng trưởng sự hòa giải  và hoà bình cho các dân tộc trên thế giới.
  Ý truyền giáo: Xin cho mọi Kitô hữu biết tiếp đón người di dân với lòng bác ái, kính trọng, nhìn nhận họ là hình ảnh của Thiên Chúa.

 

š¶›

 

 

Đòi hỎi và ý nghĩa cỦa đỐi thoẠi theo quan điỂm cỦa Giáo HỘi

 

Trần Duy Nhiên

 

Vào thập niên 60, nghệ sĩ Trần Văn Trạch nổi danh vì vừa hát vừa kể những mẩu chuyện dí dỏm. Một trong các mẩu chuyện là lời phàn nàn về tiếng ồn ào của xe lửa thời ấy. Ông kể: “Trên một chuyến xe lửa kia có hai cụ già ngồi đối diện nhau. Cụ thứ nhất nói to: Bác đi Nha Trang phải không? Cụ thứ hai trả lời: Không phải! Tôi đi Nha Trang. Cụ thứ nhất lại nói: Vậy hả? Vậy mà tôi tưởng bác đi Nha Trang chớ!”.

Nghe qua câu chuyện, thính giả cười rộ. Tuy nhiên, trong cuộc đời chuyện ấy xảy ra rất thường, và thay vì buồn cười thì ngược lại những chuyện như thế lại đáng khóc. Có những trường hợp mà người ta nói với nhau, tưởng rằng nghe nhau và hiểu nhau, nhưng thực sự không ai nghe người khác mà chỉ nói lên điều mình nghĩ, để rồi không ai hiểu ai và đối thoại trở thành hai lời độc thoại; hay nói cách khác: đối thoại của những người điếc. Vì thế, trước khi đề cập vấn đề ‘đòi hỏi và ý nghĩa của đối thoại theo quan điểm của Giáo Hội,’ thiết nghĩ nên đồng ý với nhau về định nghĩa của ‘đối thoại.’

 

1. Đối thoại là gì?

 

Nếu chỉ xét thuần túy trên từ ngữ, thì ‘đối’ có nghĩa là ‘qua lại’ hoặc ‘ngược nhau’ - ví dụ như ‘đối đầu’, ‘đối thủ’ hay ‘hát đối’,‘câu đối’- và ‘thoại’ có nghĩa là ‘nói’. Như vậy, đối thoại có nghĩa là nói qua lại hay nói ngược nhau. Trong tiếng Anh hay tiếng Pháp, chữ ‘dialogue’ xuất phát từ hai từ Hy lạp dia - logein cũng có nghĩa tương tự như hai từ ‘đối thoại’. Như vậy, khi nói đến đối thoại thì phải có sự đối lập, hay ít ra sự khác biệt, nếu không thì người ta sẽ gọi là ‘hội thoại’, ‘chia sẻ’, ‘trao đổi’, ‘đàm đạo’… Mặt khác, đối thoại là đi đến một sự thật, chứ không phải đi đến một sự thỏa hiệp. Nếu nói với nhau để đi đến một sự thoả hiệp sau khi mỗi bên phải nhượng bộ một phần cái lý của chính mình hầu hai bên cùng có lợi, thì người ta gọi là ‘thương lượng’, ‘đàm phán’, ‘mặc cả’, chứ không gọi là ‘đối thoại’.

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học thuộc Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, thì đối thoại là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau. Cuốn Đại Từ Điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên định nghĩa đối thoại là bàn bạc, thương lượng giữa hai bên hoặc các bên có vấn đề tranh chấp. Như vậy đối thoại là một trong những cách thức giải quyết mâu thuẫn khi nó xảy ra.

2. Đối thoại theo quan điểm Giáo Hội

Trên đây là quan điểm chung về đối thoại. Tuy nhiên theo quan điểm của giáo hội, đối thoại không phải là một cách giải quyết mâu thuẫn, mà là chia sẻ một quà tặng. Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu (EA=Ecclesia in Asia) nêu lên như sau: "Vấn đề lớn đang đặt ra cho Giáo Hội Á Châu hiện nay là làm sao chia sẻ với anh chị em người Á Châu của mình cái mà chúng ta cho là một quà tặng bao gồm hết mọi quà tặng, tức Tin Mừng của Ðức Giêsu Kitô" (EA 19). Theo quan điểm này, thì định nghĩa của tiến sĩ tâm lý Norman Wright có vẻ gần gũi hơn đối với chúng ta. Ông định nghĩa đối thoại là “tiến trình chia sẻ chính mình với người khác, bằng lời nói, cử chỉ và thái độ, với mục đích để người đó có thể tiếp nhận và hiểu rõ những điều ta muốn chia sẻ.” Nói cách đơn giản hơn, đối thoại là dùng lời nói, cử chỉ, bộ điệu để chia sẻ cảm nghĩ của ta với người khác thế nào để người đó có thể hiểu được điều ta muốn nói.

Điều Giáo Hội muốn chia sẻ chỉ vẻn vẹn là một Tin Mừng: ấy là Thiên Chúa Ba Ngôi yêu thương chúng ta bằng một tình yêu cứu độ, và thể hiện tình yêu ấy qua Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ Duy Nhất.

Trong chiều hướng đó, ngày 5/2/1986, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chia sẻ như sau với những vị lãnh đạo các tôn giáo ngoài Kitô tại Madras, Ấn Ðộ: "Qua đối thoại, chúng ta để cho Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta; vì chúng ta mở lòng ra đối thoại với nhau thế nào thì chúng ta cũng mởi lòng ra với Thiên Chúa như vậy"

 3. Đòi hỏi của đối thoại.

Đức Gioan Phaolô II nói lên trong Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu (EA = Ecclesia in Asia): “Thời gian họp Công Ðồng Vaticanô II, Vị Tiền Nhiệm của tôi là Ðức Phaolô VI, trong Thông Ðiệp Ecclesiam Suam, đã tuyên bố rằng: vấn đề liên hệ giữa Giáo Hội và thế giới hiện đại, là một trong những vấn đề quan trọng nhất của thời đại chúng ta. Ngài viết rằng "sự hiện hữu của nó và sự cấp bách của nó, như thể tạo nên một gánh nặng trên tâm hồn chúng ta, tạo ra một sự khuyến khích, một ơn gọi". Kể từ ngày Công Ðồng, Giáo Hội luôn chứng tỏ mình muốn theo đuổi liên hệ đó trong tinh thần đối thoại" (EA 31).

Đòi hỏi của đối thoại vừa là một gánh nặng, vừa là một sự khuyến khích và một ơn gọi. Hơn nữa, đó là một bổn phận chứ không phải là một gợi ý, thích thì làm không thì thôi. Mặt khác, bổn phận này là của cả Hội Thánh nghĩa là của từng người không miễn trừ một ai, dù thuộc thành phần nào.

Tông Huấn Sứ Vụ Ðấng Cứu Ðộ (RM = Redemptoris Missio) nhấn mạnh rằng : "Mỗi thành viên và tất cả cộng đồng Kitô hữu được mời gọi để tham gia đối thoại, dù không luôn luôn ở cùng một trình độ hoặc cùng một phương thức. Sự đóng góp của họ thực sự cần thiết trong lãnh vực này, bởi vì họ có thể cải thiện các mối quan hệ giữa các tín đồ của các tôn giáo khác nhau, qua gương sáng của họ trong những hoàn cảnh họ sống và trong những hoạt động của họ. Một số người trong họ cũng có thể đóng góp qua việc tìm tòi nghiên cứu" (RM 57).

Và Tông Huấn GHAC khẳng định "Tiếp xúc, đối thoại và hợp tác với những người theo các tôn giáo khác, là một trách nhiệm mà Cộng Ðồng Vatican II trao lại cho toàn thể Giáo Hội như là một bổn phận và một thách đố" (EA. 31).

Hơn thế nữa, đối thoại là một bổn phận thiết yếu làm nền tảng cho mọi tác vụ khác, như lời công bố của Liên Hội Ðồng Giám Mục Á Châu (FABC), trong kỳ họp khoáng đại năm 2000 tại Samphran, Thái Lan: "Ðại kết và đối thoại đã trở thành điều thiết yếu để ta thực hiện bất cứ tác vụ nào".

4. Ý nghĩa của đối thoại:

Điều thiết yếu này xuất phát từ ý nghĩa của đối thoại. Như đã nói trên, sự hiệp thông trong Tình Yêu của Ba Ngôi là nền tảng cho sự hiệp thông và đối thoại của dân Chúa, đồng thời Ba Ngôi cũng là cứu cánh và là ‘tấm gương vô cùng nổi bật’ cho hiệp thông và đối thoại, như là Đức Thánh Cha, trong Tông Huấn GHAC: "Sự hiệp thông và đối thoại là hai phương diện thiết yếu của sứ mạng Giáo Hội, sứ mạng đó có một tấm gương vô cùng nổi bật trong mầu nhiệm Ba Ngôi, vì từ Ba Ngôi phát sinh mọi sứ mạng và mọi sứ mạng phải hướng tới Ba Ngôi" (EA. 31).

Qua Mặc Khải, Giáo hội tìm ra ý nghĩa của đối thoại như lời công bố của Đức Phaolô VI trong thông điệp Giáo Hội của Người (ES = Ecclesiam suam). "Mặc khải là mối liên hệ siêu nhiên mà chính Thiên Chúa đã chọn để giao tiếp với con người. Mặc khải ấy có thể được giới thiệu qua đối thoại, qua Lời mà Thiên Chúa nói trong mầu nhiệm Nhập Thể và rồi trong Tin Mừng ... Lịch sử cứu độ là bản tường thuật cuộc đối thoại khác biệt và lâu dài này. Nó xuất phát từ Thiên Chúa và Ngài sáng tạo ra một cuộc đàm thoại độc đáo và tuyệt diệu với con người" (ES 41).

Tóm lại đối thoại là hoa trái của tình yêu Thiên Chúa mà con người được lãnh nhận (x. EA 24). Ðối thoại là hành vi biểu lộ tình thương của Thiên Chúa đối với con người. Con người được chia sẻ tình yêu đó của Ba Ngôi Thiên Chúa. Tình yêu cũng là đòi hỏi nền tảng của Ðức Kitô và là động lực của sứ vụ, là "tiêu chuẩn duy nhất để phán đoán điều gì phải làm và điều gì không được làm, điều gì phải thay đổi và điều gì không được thay đổi" (RM 60). Nói cách khác, tình yêu là nền tảng của đối thoại và đem đến ý nghĩa cho đối thoại của Kitô giáo.

5. Giáo Hội đã đối thoại với ai?

Vì xác định rằng đối thoại là chia sẻ một món quà tuyệt đối của Thiên Chúa dành mọi người trên thế gian, không trừ một ai, nên đối thoại hẳn phải hướng đến mọi thành phần trên địa cầu. Điều này được thể hiện qua những dòng đầu tiên của Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng (GS = Gaudium et Spes):Nỗi vui mừng và niềm hy vọng, những buồn tủi và lo âu của mọi người trong thời đại này, đặc biệt của những người nghèo và những người khốn khổ, cũng là nỗi vui mừng và niềm hy vọng, những buồn tủi và lo âu của những người theo Chúa Kitô. Quả thực, không có gì thực sự thuộc về con người mà lại không vang dội trong trái tim của họ. (GS 1)

Phải công nhận rằng qua một lịch sử dài, Giáo Hội ít nhấn mạnh đến đối thoại mà tập trung vào việc dạy dỗ. Hình ảnh duy nhất nổi bật qua dòng thời gian là một Giáo Hội Mẹ và Thầy (Mater et Magistra), và vì thế, Giáo Hội quan tâm đến việc giáo huấn (Ecclesia docens) hơn là lắng nghe và đối thoại (Ecclesia discens). Mãi đến công đồng Vatican II thì Giáo Hội mới chính thức đối thoại với những người khác mình, qua văn kiện Ánh Sáng Muôn Dân và Phát Triển Các Dân Tộc (Lumen Gentium và Populorum Progressio). Những thập niên kế tiếp, dần dần xuất hiện các thông điệp làm rõ nét tinh thần đối thoại của Giáo Hội, như Đệ Bách Chu Niên (Centesimus annus) hay Thời Đại Chúng Ta (Nostra aetate); và đối với người Việt Nam, tông huấn Giáo Hội Tại Á Châu (Ecclesia in Asia). Tuy nhiên, văn kiện rõ nét nhất hẳn là văn kiện Đối Thoại và Rao Truyền (Dialogue and Proclamation) của Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn, được công bố ngày 19 tháng 5 năm 1991,  25 năm sau Nostra Aetate. Như thế, qua dòng lịch sử, Giáo Hội đi từ thái độ loại trừ những người không theo đúng con đường mà Thiên Chúa mặc khải cho mình để dần dần cởi mở đối với những giáo hội Kitô giáo khác, và hiện nay Giáo Hội đã công nhận và cổ võ cho đối thoại với những tôn giáo ngoài Kitô giáo. Đây là một bước tiến đáng mừng, nhưng đồng thời cũng làm ta suy nghĩ. Tín hữu công giáo chưa kịp thay đổi não trạng để đi vào đối thoại liên tôn thì Tòa Thánh công bố thông điệp Sứ Vụ Chúa Cứu Thế (Redemptoris Missio) và nhất là văn kiện Chúa Giêsu (Dominus Iesus) để kiên quyết khẳng định ‘Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất’. Khẳng định này được nhiều người xem như lời xác định vị trí số 1 của công giáo so với các tôn giáo khác, và khi không có sự bình đẳng thì cũng không thể nào có đối thoại.

Mặt khác, ngoài việc đối thoại với các tôn giáo bạn, không thấy Giáo Hội nói lên tiếng nói chính thức về đối thoại trong những môi trường trần thế. Thực ra, ta có thể tìm thấy lác đác đó đây những ý kiến của Giáo Hội về đối thoại trong môi trường xã hội và chính trị. Thông điệp Đệ Bách Chu Niên xác định rằng “những hình thức dân chủ mới hình thành đem lại hy vọng về một sự đổi thay trong cơ cấu chính trị và xã hội mong manh nặng trĩu với hàng loạt những bất công và bất mãn cũng như với một nền kinh tế tàn phá nặng nề và những cuộc tranh chấp xã hội nghiêm trọng.” (CA 22a)  Do đó người công giáo có trách nhiệm góp phần mình trong môi trường chính trị để xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn, nhưng bằng con đường đối thoại chứ không phải chiến tranh: “những vấn đề mà những dân tộc này đang phải đối phó chỉ có thể giải quyết được qua sự đối thoại và tình liên đới hơn là bằng một cuộc chiến đấu để tiêu diệt kẻ thù bằng chiến tranh”. (CA 22b). Ta đọc được lập trường này rõ ràng hơn nữa ở đoạn kế tiếp: “Trong khi chủ nghĩa Mác-xít cho rằng chỉ có cách đẩy các mâu thuẫn xã hội cho đến cực điểm mới có thể giải quyết chúng trong những cuộc đối đầu bạo động, thì những cuộc chiến đấu đưa tới sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác-xít kiên trì sử dụng đường lối thương lượng, đối thoại và làm chứng cho chân lý, bằng cách kêu gọi lương tri của đối phương và tìm cách khơi dậy nơi họ cảm thức về phẩm giá con người.”(CA 23).

Ngoài ra, giáo dân Việt Nam đặc biệt nhớ đến sứ điệp mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gửi hàng giáo phẩm và người công giáo Việt Nam, ngày 22 tháng 01 năm 2002. Khi hàng giáo phẩm Việt Nam thực hiện cuộc thăm viếng Ad Limina tại Vatican, Đức Thánh Cha nói không úp mở: “Như công đồng Vatican từng nhắc nhở: Do bởi phần vụ và thẩm quyền của mình, Giáo Hội hòa mình trong cộng đồng chính trị dưới mọi hình thức và không liên kết với bất cứ với bất cứ một thể chế chính trị nào”. Đồng thời Ngài cũng kêu gọi tín hữu tham gia vào chính trị theo đường lối của Giáo Hội, nghĩa là theo con đường đối thoại: “Trong tinh thần đối thoại và hợp tác huynh đệ, qua các thành viên của mình, Giáo Hội ao ước tham gia tốt đẹp vào đời sống quốc gia nhằm phục vụ toàn dân và sự đoàn kết xã hội.”

Vâng, Giáo Hội có lên tiếng để khuyến khích đối thoại trong những môi trường xã hội và chính trị, nhưng dù sao thì cũng chỉ là đường lối chung chung, hơn là một kim chỉ nam có thể áp dụng cho từng môi trường cụ thể. Đấy là chưa kể những môi trường mà Giáo Hội không đề cập đến. Sau đây là một số môi trường mà Kitô hữu cần phải đối thoại.

- Đối thoại trong gia đình: Làm sao vợ chồng đối thoại với nhau, khi mà người nữ vừa mới hơi bình đẳng với người nam sau khi bị áp bức qua một quá trình lịch sử thật dài, thì người nam đã cảm thấy mình bị áp bức do cái quan niệm trọng nam khinh nữ ăn sâu vào tâm khảm mình? Làm sao cha mẹ và con cái đối thoại với nhau, khi mà cha mẹ thấy con cái vuột khỏi tầm tay mình để lao vào một thế giới lắm nhiễu nhương, trong khi đó con cái cảm thấy mình bị trói buộc vào những đạo lý rất xa lạ với môi trường sống hằng ngày của mình?

- Đối thoại trong cộng đồng Kitô hữu: Làm sao đối thoại với những người công giáo Việt Nam khác bằng cách tôn trọng nét cá biệt của từng người mà vẫn giữ được hiệp nhất để có thể thốt lên một tiếng nói chung? Làm sao giáo sĩ và giáo dân đối thoại với nhau để giữ vững Giáo Hội phẩm trật trong một cơ chế quân chủ mà Chúa Kitô là Vua, nhưng đồng thời đối xử trong tinh thần dân chủ của những người con Thiên Chúa bình đẳng về địa vị và phẩm giá với nhau?

- Đối thoại với cộng đồng cư dân: Làm sao đối thoại với những người cư ngụ cùng địa bàn với mình, những người không công giáo, thậm chí không tôn giáo? Đối với người ở hải ngoại, làm sao đối thoại với các tín hữu bản xứ nói riêng và cộng đồng bản xứ nói chung để có thể chia sẻ niềm tự hào về quê hương mới của mình đồng thời cho người địa phương thấy những nét độc đáo của quê hương thứ nhất của mình? Đối với người ở trong nước, trước trào lưu toàn cầu hóa, làm sao đối thoại với người nước ngoài để tiếp thu những tinh hoa của họ đồng thời yêu cầu họ tôn trọng những truyền thống đáng quý của mình?

- Đối thoại với cộng đồng chính trị: Làm sao đối thoại với một chính quyền dân chủ để cho những giá trị đạo đức tự nhiên được đặt cao hơn những quyền lợi của những ai dùng lá phiếu mình mà đòi hỏi được quyền tự do sống trái với đạo đức? Làm sao đối thoại với một nhà nước chuyên chính để cho mọi người sống đúng với phẩm giá con người?

Làm sao…? Và còn bao nhiêu câu hỏi ‘làm sao’ khác?

Người giáo dân không thể chờ đợi Giáo Hội trả lời những câu ấy thay cho mình trong những trường hợp cụ thể. Giáo hội chỉ đưa ra đường hướng chung cho mọi người, trong khi đó mỗi người đều ở trong một tình huống cá biệt. Tuy nhiên, muốn tìm ra một câu trả lời thỏa đáng thì chúng ta cần có một thái độ thích hợp để tiến hành công cuộc đối thoại ở mọi bình diện. Nhưng thế nào là một thái độ thích hợp?

6. Thái độ đối thoại.

- Ðối thoại là một tiến trình gồm có ba phần: nói, nghe và thông cảm. Ba phần này liên quan đến nhau và hỗ trợ cho nhau. Thông thường chúng ta chỉ muốn nói khi có người lắng nghe. Nếu người đó nghe, hiểu và thông cảm, thì ta mới thật sự đối thoại. Nếu có người sẵn sàng nghe mà ta không muốn nói thì cũng không có đối thoại, hoặc nếu có người nói, có người nghe mà không hiểu và không thông cảm thì cũng chưa thể gọi đó là đối thoại.

Như thế, muốn đối thoại thì hai bên phải hiểu tiếng nói của nhau. Một người Việt không biết tiếng Anh, và một người Mỹ không biết tiếng Việt không thể nào có thể đối thoại với nhau được. Điều này thật là rõ. Điều ít rõ hơn, ấy là nhiều khi ta tưởng rằng mình nói cùng ngôn ngữ nhưng thật sự chúng ta nói hai ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau. Ví dụ từ ngữ ‘Thiên Chúa’ hay ‘Chân Như’ gợi lên những hình ảnh rất khác nhau trong ý nghĩ và trong tâm tình của một kitô hữu và một phật tử, thậm chí nội dung của hai từ ấy cũng khác nhau giữa hai người công giáo hay giữa hai người phật giáo. Vì vậy thái độ đầu tiên trong đối thoại là phải biết lắng nghe để chắc chắn rằng những từ ngữ ta nghe được gợi lên trong tim óc chúng ta hình ảnh giống với hình ảnh trong tim óc người nói.

- Đối thoại là để đi đến một sự thật có thể khác hơn là mình tưởng. Vì thế muốn có đối thoại cần phải sẵn sàng để thay đổi cách nhìn hầu đi đến một sự thật cao hơn. Ai không chấp nhận thay đổi, người ấy không thể nào đối thoại, mà chỉ dùng đối thoại như một chiến thuật để áp đặt ý kiến của chính mình. Tông Huấn Ecclesia in Asia đã viết:Đối thoại không phải chỉ là một chiến thuật để sống chung hòa bình; nhưng là một phần thiết yếu trong sứ mạng Giáo Hội, vì nó xuất phát từ chính sự đối thoại yêu thương của Chúa Cha với nhân loại thông qua Chúa Con trong quyền năng Chúa Thánh Thần" (EA 29). Khổ nỗi, có nhiều người nhất định ‘giữ vững lập trường’ và đối thoại với quyết tâm thay đổi người khác bằng mọi giá mà không hề nghĩ rằng mình cần thay đổi cái nhìn của mình. Những người này có thể nói: “Tôi sẵn sàng đối thoại, nhưng tôi biết nó rõ lắm, nó lưu manh gian ác, không biết phục thiện, tôi có đầy kinh nghiệm rồi! Thứ ấy thì phải dập cho mềm ra mới biết được phải trái!