Số 72 Ngày 11-02-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Deus Caritas et – Thiên Chúa là Tình Yêu - Thông Điệp của ĐTC Bênêđitô- Maranatha tóm lược

Ngài Đã Yêu Chúng Ta Trước - Lm. Nguyễn Công Đoan, SJ

Vinh Quang Của Đức Maria -Lm. Vũ Xuân Hạnh

Cơ Chế Xin-Cho Trong Kinh Nguyện Lung Linh

Tâm Tình Dâng Chúa – Mai-Đệ-Liên Bích Vân

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J

Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D.

Lịch Sử Ngày Tình Yêu – Valentine’s Day - Sưu tầm

“Ngày Tình Nhân” Nói Chuyện Tập Tục Truyền Thống Tình Yêu - SGN

Ngôn Ngữ Tình Yêu - Sưu tầm

Vì Sao Anh Yêu Em? - Sưu tầm

Bông Hồng Thời Gian - Lm. Nguyễn Công Đoan, SJ

Cà Phê Muối - Sưu tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý độc giả,

 

Thứ bảy tuần này, Giáo Hội mừng kính lễ Đức Mẹ Lộ Đức, trong tâm tình đó, Thư Tòa Soạn số 72 xin được khởi đầu bằng lời nguyện:

 

Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa

Mẹ đã ban ánh sáng thật cho thế gian,

ấy là Chúa Giêsu, con Mẹ - Con Thiên Chúa.

Mẹ đã phó dâng trọn vẹn

khi nghe tiếng Chúa gọi mời

và trở thành nguồn mạch

của lòng nhân hậu xuất phát từ Người.

Xin Mẹ cho chúng con nhìn thấy Chúa Giêsu,

xin hướng dẫn chúng con đến với Chúa,

xin dạy chúng con nhận biết Chúa và yêu mến Ngài,

hầu cho chúng con cũng có thể

Trở trên những người có khả năng yêu thương chân chính

và là nguồn mạch nước hằng sống

cho thế giới đang khát khao này.

 

Đấy cũng chính là lời kết thúc thông điệp đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Bênêditô XVI, với tựa đề: Deus Caritas est - Thiên Chúa là Tình Yêu. Thông điệp đã đến thật đúng lúc! Đúng lúc, vì thế giới hiện nay đang phát triển với những thành công vượt bực về khoa học, kỹ thuật, thương mại…thì thẳm sâu trong tâm hồn con người, hơn bao giờ, họ khao khát tình yêu, một tình yêu chân chính, vị tha và cao thượng.  Đúng lúc, vì Chúa nhật này, Giáo Hội mừng Ngày Hôn Nhân Thế Giới (World Marriage Day); tiếp theo, tuần tới, lễ thánh Valentinô được mừng vào ngày 14-2; và trong bình diện xã hội, ở một số nước phương Tây, đặc biệt tại Hoa Kỳ, các đôi tình nhân sẽ rộn ràng với những thiệp chúc mừng, những bông hoa hồng rực rỡ, và quà tặng nhân dịp Lễ Tình Yêu (Valentine’s Day).

Nói đến tình yêu thì không thể nào không nhắc đến hai ‘Chuyện Tình’ từng mê hoặc thế hệ của thập niên 60-70.

“Chuyện Tình” đầu tiên là một bài ca được danh ca Dalida hát vang trong con tim: “Histoire d’un Amour.” Bài hát ấy có những câu đơn giản nhưng chứa đựng một chân lý bất di bất dịch:

Mon histoire c'est l'histoire qu'on connait
Ceux qui s'aiment jouent la même je le sais
Et tragique ou bien profonde
C'est la seule chanson du monde qui ne finira jamais
.

 

Chuyện tình tôi là chuyện mà ai cũng biết

Tôi biết rằng ai đã yêu thì cũng làm thế thôi,

Nhưng dù hời hợt hay sâu sắc

Thì đấy cũng là bài ca sẽ không kết thúc bao giờ.

 

“Chuyện Tình” thứ hai là cuốn sách “Love Story” của Erich Segal, cuốn sách ‘best seller’ trong vòng hai năm liên tiếp. Đó là câu chuyện của một tình nhân rất trẻ, cậu Olivier Barrett và cô Jennifer Cavilleri. Tình yêu của đôi trai trẻ này vượt lên tất cả. Vượt khỏi rào cản giai cấp: cậu là một công tử con nhà triệu phú, cô là một thiếu nữ người gốc Ý, thuộc gia đình nghèo mới nhập cư. Cha cậu đã từ cậu vì ông cấm đoán tình yêu ‘phi giai cấp’ đó. Và khi hai người đã hy sinh tất cả cho nhau thì định mệnh cướp mất mạng sống của nàng. Câu cuối cùng còn vang lại trong lòng người đọc là khi cha cậu đến đón cậu về và bảo rằng “I’m sorry!” thì cậu lặp lại lời người vợ trẻ của mình: Love means never having to say you're sorry.

Vâng, “Yêu là không bao giờ phải nói rằng mình ân hận!” và tình yêu giữa con người với nhau thì đã linh thiêng đến thế, nói gì đến Tình Yêu Thiên Chúa: Ngài đã trao ban và đi bước trước, để rồi trao tặng người Con yêu dấu cho thế gian, một tình yêu nhưng không, và với tình yêu trao tặng vô điều kiện đó, Ngài đã chẳng bao giờ ân hận. Chính vì thế mà trong thông điệp đầu tiên gửi dân Chúa, Đức Bênêdictô XVI đã nêu bật hình ảnh của Tình Yêu Tuyệt Đối: Chúa Kitô đã yêu nhân loại bằng một tình yêu hiến tặng cho đến chết và chết trên thập giá để minh chứng tình yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho con người!

Xét cho cùng, tình yêu của Kitô hữu phải cắm rễ vào Thiên Chúa, thế nên…

Dù hời hợt hay sâu sắc,

Thì đấy cũng là bài ca không kết thúc bao giờ …

Và tình yêu không bao giờ kết thúc ấy phải là một tình yêu chiếu tỏa ánh sáng của Tình Yêu Thiên Chúa, như lời mời gọi của Đức Thánh Cha trong những lời cuối của Thông Điệp về Tình Yêu:

“Qua Thông Điệp này, đây là điều cha muốn mời gọi các con: hãy sống tình yêu và qua đó làm cho ánh sáng Thiên Chúa tỏa chiếu vào trần gian.”

Với chủ đề Tình Yêu, Maranatha_72 gửi đến quý độc giả bài tóm lược thông điệp của Đức Thánh Cha, và một số bài về Tình Yêu và mừng lễ Đức Mẹ Lộ Đức, cùng tiếp theo loạt bài về Linh Đạo Giáo Dân với sự trùng hợp về ý nghĩa Hôn Nhân Kitô Giáo trong số này. Tuy nhiên, để tình yêu con người được trọn vẹn trong tình yêu Thiên Chúa, điều cần thiết của Kitô hữu trong tương quan tình yêu với Chúa qua nguyện cầu trong phần Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện cũng giúp chúng ta suy nghĩ, đào sâu và sống chân lý Thiên Chúa là Tình Yêu trong hành trình lữ thứ cuộc sống hôm nay.

Để Tình Yêu đích thực luôn ngự trị giữa những người đang yêu và những ai đang sống tình yêu đó trong ơn gọi đặc thù của mình, và rồi lan tỏa khắp cùng thế giới, cùng với Mẹ Maria, lời cầu muôn thuở vẫn mãi là: Maranatha, Lạy Chúa, xin ngự đến!

MARANATHA

  

 

 

 THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU


 

DEUS CARITAS EST - THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU

Thông điệp đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI

Maranatha tóm lược

LTS: Với chủ đề báo tuần này hướng về TÌNH YÊU, Maranatha xin gởi đến quý độc giả bản tóm lược bản Thông Điệp đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI: Deus Caritas est - Thiên Chúa là Tình Yêu, thông điệp nói lên tình yêu Kitô giáo. Dù mới được phổ biến ngày 25/1/2006, và thông điệp đã được ký một tháng trước đó, ngày 25/12/2005, đặt dưới sự bảo trợ của Tình Yêu giáng trần.

 

Thông điệp này gồm hai phần lớn:

Phần thứ nhất có tiêu đề là:Sự thuần nhất giữa tình yêu trong công trình sáng tạo và trong lịch sử cứu độ.” Phần này đề ra những suy từ trên bình diện triết thần về những quan điểm tình yêu khác nhau: Eros, Philia và Agape, qua đó nói lên những yếu tố căn bản của tình yêu Thiên Chúa đối với con người và mối tương quan nội tại của tình yêu này với tình yêu giữa con người với nhau.

Phần thứ hai với tiêu đề là: “Tình Yêu, cách thể hiện tình yêu của Giáo Hội với tư cách là một cộng đồng yêu thương.” Phần này trình bày việc thực thi giới răn tình yêu đối với tha nhân.

 

PHẦN I

‘Tình yêu’- một trong những chữ đuợc sử dụng nhiều nhất và thường bị lạm dụng trong thế giới ngày nay - bao gồm một lãnh vực ý nghĩa thật rộng. Tuy nhiên, biểu tượng của tình yêu cao độ nhất, tình yêu nam nữ,  bao trùm lên các nghĩa khác, và được gọi là Eros trong Hy Lạp cổ đại. Trong Kinh Thánh, và nhất là trong Tân Ước, khái niệm ‘tình yêu’ được đào sâu hơn, và sự biến chuyển này thể hiện trong thánh lễ khi bỏ đi từ Eros để dùng từ Agape, và Agape biểu hiện một tình yêu dâng hiến.

Quan điểm mới này về tình yêu, một sự đổi mới chủ yếu của Kitô giáo, thường thường đánh giá một cách tiêu cực là loại bỏ Eros và xem thường thân xác. Dù cho thực sự trong lịch sử đã có khuynh hướng đó, thì ý nghĩa sâu xa vẫn là một cái gì khác hẳn. Eros này được Đấng Tạo Dựng đặt vào con người và nó cần phải đưa vào kỷ luật, tôi luyện và trưởng thành để không đánh mất phẩm giá thuở ban sơ và không bị hạ xuống thành đơn thuần là ‘tình dục’, rồi trở thành hàng hóa.

Đức tin Kitô giáo luôn xem con người là một hữu thể mà tinh thần và vật chất đan quyện lấy nhau, và từ đó đem đến cho con người một sự cao cả. Ta có thể xem là Eros đã được thuần hóa khi linh hồn và xác của một người tìm được một sự hài hòa tuyệt hảo. Bấy giờ, tình yêu trở thành ‘xuất thần’, nhưng không phải theo nghĩa là một tình trạng mê ly nhất thời nhưng là một cuộc xuất hành liên lỉ của ‘cái tôi khép kín’ để hướng về sự giải thoát trong việc trao ban chính mình, và như thế có nghĩa là tái khám phá ‘cái tôi’ của mình, hay đúng hơn, khám phá Thiên Chúc: bằng cách này, Eros có thể đưa con người ‘xuất thần’ hướng đến những điều thiêng thượng.

Thực ra, không được hoàn toàn tách rời Eros và Agape với nhau, trái lại hai khía cạnh càng hòa hợp quân bình, thì tình yêu chân chính càng được bộc lộ. Dù cho khởi thủy Eros chủ yếu là sự ham muốn, nhưng càng đến gần với người kia hơn, thì Eros sẽ bớt quy hướng về mình, để kiếm tìm hạnh phúc của người kia, rồi cuối cùng sẽ tự hiến và mong muốn ‘sống’ vì người kia: như vậy Eros càng đi sâu vào bản chất mình và tự khẳng định khi gặp gỡ Agape.

Eros Agape đạt đến viên mãn trong Chúa Giêsu Kitô, tình yêu Thiên Chúa nhập thể. Cái chết thập giá của Chúa Giêsu, Đấng tự hiến để nâng lên và cứu độ con người, biểu lộ một tình yêu dưới hình thức cao cả nhất. Chúa Giêsu đã biến cử chỉ dâng hiến này thành một sự hiện diện liên lỉ qua việc thiết lập bí tích Thánh Thể. Qua bánh và rượu, Ngài tự biến mình thành một loại manna mới giúp chúng ta hiệp nhất với Ngài. Khi tham dự bí tích Thánh Thể, chúng ta cũng được tham gia vào tình yêu năng động của Ngài. Chúng ta hiệp nhất với Ngài đồng thời chúng ta cũng hiệp nhất với những người mà Ngài đã phó mình, và như thế tất cả chúng ta trở nên ‘một thân thể duy nhất’. Qua phương thức đó, tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân thực sự hòa tan làm một. Lệnh truyền ‘yêu thương’, qua sự gặp gỡ với Thiên Chúa trong Agapé, không còn thuần túy là một mệnh lệnh: tình yêu có thể ‘truyền’, vì tình yêu trước hết là dâng hiến.

PHẦN II

Tình yêu tha nhân, bắt rễ từ tình yêu Thiên Chúa, ngoài là một bổn phận cho mỗi một tín hữu, còn là một bổn phận cho toàn thể cộng đồng Giáo Hội, mà qua hoạt động bác ái phải phản ánh tình yêu Ba Ngôi. Ý thức bổn phận ấy có một tầm quan trọng đặc biệt đối với Giáo Hội từ thời tiên khởi và vì thế đòi hỏi phải nhanh chóng có một tổ chức làm nền tảng để thực thi tình yêu ấy một cách tốt nhất.

Vì thế mà bậc tá viên xuất hiện trong cơ cấu căn bản của giáo hội với tư cách là một công việc phục vụ cho tình yêu đối với tha nhân, công việc được thực hiện trong cộng đoàn và có trật tự: một công việc phục vụ cụ thể, nhưng đồng thời cũng phục vụ thiêng liêng. Cùng với sự phát triển của Giáo Hội, việc thực thi đức ái được khẳng định như là một trong các chiều kích chủ yểu của mình. Bản chất sâu xa của Giáo Hội thể hiện qua bổn phận có ba chiều kích sau: loan báo lời Chúa (kerygma), cử hành Thánh Thể (leiturgia) và phục vụ bác ái (diakonia). Các bổn phận đó gắn liền nhau và không thể tách biệt. Kể từ thế kỷ XIX, lời phản bác chủ yếu chống lại hoạt động bác ái của Giáo Hội ấy là bác ái đi ngược lại với công lý và, cuối cùng, Giáo Hội sẽ tiếp tay để gìn giữ một hiện trạng tồi tệ. Người ta phản bác rằng Giáo Hội tạo điều kiện để giữ vững một chế độ bất công bằng cách làm những việc bác aí, khiến cho con người có thể chịu đựng được và như thế hãm lại việc nổi dậy để lật độ một cơ chế áp bức để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Theo chiều hướng này, chủ nghĩa Mác-xít đưa ra cuộc cách mạng thế giới như là một phương thuốc bá bệnh cho vấn đề xã hội bấy giờ: một giấc mơ đã tàn lụi theo thời gian. Huấn quyền, khởi sự với thông điệp của Đức Lêô XIII: Rerum Novarum (1891), cho đến ba thông điệp của Đức Gioan Phaolô II Laborem, Exercens (1981), Sollicitudo Rei Socialis (1987) Centesimus Annus (1991), đã thẳng thắn đối diện với vấn đề xã hội, và đương đầu với những vấn đề luôn luôn mới mẻ, từ đó đề ra một học thuyết xã hội rất cụ thể, với những đường hướng có giá trị đối với cả bên ngoài Giáo Hội.

Tuy nhiên, thiết lập một trật tự đúng đắn giữa xã hội và Nhà Nước là bổn phận chính yếu của chính trị, và vì thế, đấy không thuộc trách nhiệm trực tiếp của Giáo Hội. Học thuyết xã hội công giáo không muốn trao cho Giáo Hội một quyền bính nào đối với một quốc gia, nhưng chỉ mong thanh luyện và chiếu sáng lý trí, bằng cách góp phần huấn luyện lương tâm, hầu cho những đòi hỏi công lý chân chính phải được lắng nghe, công nhận và thực thi. Tuy nhiên, không có một cơ chế Nhà Nước nào, dùng công bình đến đâu, mà có thể biến việc phục vụ bác ái thành một công việc dư thừa. Nhà Nước nào muốn lãnh đạo mọi sự thì rốt cục lại trở thành một cơ chế quan liêu, và không thể đáp ứng được cái nhu cầu căn bản mà một người đau khổ, nghĩa là mọi người: sự tận tâm dịu dàng của một con người. Ai muốn xóa bỏ tình yêu thì chuẩn bị để xóa bỏ con người theo đúng nghĩa là con người.

Trong thời đại chúng ta, tiến trình toàn cầu hóa đang có một tác động hỗ tương để chăm lo cho tha nhân, vượt ra khỏi mọi biên thùy của một quốc gia và vươn đến toàn thể thế giới. Các cơ chế chính phủ và các tổ chức nhân đạo phát triển một cách nhau mối dây liên đới đối với xã hội dân sự: vì thế mà nhiều tổ chức bác ái và nhân đạo đã ra đời. Thêm vào đó, trong lòng Giáo Hội công giáo và trong các cộng đồng giáo hội, nhiều hoạt đồng bác ái đã thành hình. Mong rằng sẽ có một sự cộng tác hữu hiệu giữa các thành phần với nhau. Dĩ nhiên, điều quan trọng là hoạt động bác ái của Giáo Hội không làm mất đi chân tính của mình, bằng cách hòa tan trong tổ chức trợ giúp chung, và trở thành một tổ chức nhân đạo thuần túy, nhưng các hoạt động ấy vẫn giữ vững nét rực rỡ của căn tính Kitô giáo và Giáo hội.

Do đó: Hoạt động bác ái Kitô giáo, ngoài khả năng chuyên môn, còn phải được đặt trên nền tảng là gặp gỡ cá nhân với Chúa Kitô, qua đó tình yêu Ngài sẽ tuôn đổ vào lòng tín hữu, và thúc bách người ấy yêu mến tha nhân.

Hoạt động bác ái Kitô giáo cần phải độc lập đối với mọi đảng phái và ý thức hệ. Chương trình của Kitô hữu - chương trình của người Samaritanô nhân hậu, chương trình của Chúa Giêsu - ấy là ‘một tấm lòng biết nhìn thấy’. Tấm lòng ấy biết nhìn thấy nơi mà người ta cần đến tình yêu và sẵn sàng đáp ứng.

Ngoài ra, hoạt động bác ái Kitô giáo không được trở thành một phương tiện cho cái mà ngày nay người ta gọi là ‘dụ dỗ vào đạo’. Tình yêu thì nhưng không; không phải dùng tình yêu để đạt đến một mục đích nào đó. Thế nhưng điều này không có nghĩa là hoạt động bác ái phải gạt Thiên Chúa và Chúa Kitô ra ngoài. Người Kitô hữu biết lúc nào thuận tiện để nói về Chúa và khi nào không nên nói, nhưng mà chỉ để cho tình yêu lên tiếng mà thôi. Bài ca đức ái của Thánh Phaolô phải là kim chỉ nam cho mọi công việc phục vụ của Giáo Hội để tránh cho hoạt động khỏi nguy cơ thoái hóa thành một việc múa may quay cuồng không đi đến đâu.

Trong bối cảnh này, và đối diện với nguy cơ của chủ nghĩa tục hóa có thể tác động đến thái độ dấn thân của nhiều Kitô hữu trong việc bác ái, cần phải khẳng định lại tầm quan trọng của việc cầu nguyện. Việc tiếp xúc sống động với Chúa Kitô giúp ta, khi thấy giới hạn của chính mình trước sự khốn cùng mênh mông, một mặt, khỏi chạy theo một ý thức hệ bảo rằng mình có thể thực hiện được điều mà Thiên Chúa không thực hiện, và mặt khác, ngã theo khuynh hướng bỏ mặc và buông xuôi. Ai cầu nguyện thì sẽ thấy rằng thì giờ mình không mất, dù cho hoàn cảnh có vẻ như là cần phải dùng những thì giờ ấy để hoạt động. Qua cầu nguyện, ta không mang cao vọng thay đổi kế hoạch của Thiên Chúa, nhưng chỉ noi gương Đức Mẹ và các thánh để múc lấy nơi Thiên Chúa ánh sáng và sức mạnh của tình yêu hầu chiến thắng các biểu hiện của bóng đêm và lòng ích kỷ đang ngự trị trên thế giới này  

 Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

Ngài đã yêu chúng ta trưỚc

Lm. Nguyễn Công Ðoan, S.J.

 

"Tình yêu của Chúa là như thế này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng Ngài đã yêu chúng ta trước và đã gởi Con của Ngai đến làm của lễ xá tội cho chúng ta..." (1 Ga 4,10).

Thế đấy bạn ạ. Tình Yêu của Ngài la Tình yêu nguồn mạch, tình yêu làm cho đối thể được hiện hữu và tồn tại. Ngài yêu ta nên ta mới có mặt trên đời để đón nhận tình yêu ấy. Ngài yêu ta nên mới đeo đuổi ta đến nỗi gởi con của Ngài đến làm lễ xá tội mà cho ta được quay mặt lại với Ngài sau khi ta đã quay lưng.

"Bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta là Ðức Kitô, khi chúng ta là kẻ tội lỗi, đã chết vì chúng ta" (Rm 5,8).

Ðiều kỳ diệu nhất là Ngài không muốn chiếm hữu chúng ta như một đồ vật, nhưng cho chúng ta tự do đón nhận hay từ chối. Cả bằng chứng lớn nhất Ngài đưa ra cũng chỉ mang tính mời gọi: "Ai tin vào Người Con ấy thì sẽ được sống...

Ngài chấp nhận chơi ú à và cút bắt với chúng ta để chúng ta nhận ra tình yêu của Ngài và tự mở lòng, mở tay mà đón Ngài, sà vào lòng Ngài.

Và Ngài mời gọi chúng ta phải yêu như Ngài đã yêu.

"Nếu các con yêu mến những ai yêu mến các con, thì có đáng công trạng gì đâu... hãy hoàn thiện như Cha các con trên trời" (Mt 5,46-48). Muốn hoàn thiện như Cha trên trời thì "tất cả những gì các con muốn người ta làm cho các con, các con hãy làm cho người ta trước đi!" (Mt 7,13). Ðó là cách giải thích chính xác và đầy đủ nhất giới răn "yêu người như chính mình". Nếu lấy mình làm thước đo, thì phải đo cho người trước, mình muốn người ta làm cho mình cái gì thì hãy làm cho người ta trước đi, không phải để rồi người ta làm lại cho mình đâu, nhưng để nên giống Cha, nên hoàn thiện như Cha trên trời thôi. "Cha đã yêu thương Thầy thế nào, Thầy đã thương các con như vậy. Thầy đã yêu thương các con thế nào, các con cũng hãy yêu thương nhau như vậy".

Tình yêu đi trước, làm cho hiện hữu, làm cho tồn tại, làm cho đáng yêu... đó là nét thứ nhất phải bắt chước Ngài.

Bắt chước Ngài ở điểm này thật khó, bởi vì nó ngược với tính tự nhiên, tính tự kỷ trung tâm của ta: muốn mình là cái rốn của trái đất, mọi người, mọi sự phải vừa ý mình, nếu không thì không chấp nhận. Yêu người yêu mình, người vừa ý mình, vừa mắt mình... còn không thế thì ghét, thì chê, thì xa lánh.

Chúa Giêsu đã đến với những người, mà người đời xa lánh, ruồng bỏ: những người phong cùi, những người bị xếp hạng là tội lỗi, những người nghèo... và sự hiện diện của Ngài thay đổi họ, làm cho họ được sạch, tha tội cho họ, chia sẻ nỗi cùng khổ của họ, an ủi họ, loan tin mừng cho họ. "Ngài đã nên nghèo hèn để chúng ta được giàu sang".

Bắt chước Ngài điều này khó ở bước đầu, vì nó trái với tính tự nhiên của ta, khó ở bước sau, khi ta đã nếm mùi vong ân, sự hất hủi. Chính Chúa Giêsu đã trải qua nỗi đau ấy: Ngài cảm thấy mình là "cung đàn lạc điệu", giống như đám trẻ không ăn cánh với nhau khi nô đùa trên công viên, thổi sáo điệu vui thì không chịu nhảy, xướng điệu buồn thì không chịu khóc. Nếu chúng ta sống như Ngài đã sống và yêu như Ngài đã yêu thì thế nào chúng ta cũng phải nếm thân phận "cung đàn lạc điệu", vì "không giống ai."

Từ ngàn xưa vẫn như thế bạn ơi. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Người chính trực là cái gai trước mắt kẻ gian ác (Kng 2,12-20).

Thế giới hôm nay và xã hội này cần thứ tình yêu đi trước ấy để thoát khỏi chiến tranh hủy diệt và khỏi sự tan rã. Khi người ta cố nén cái tôi xuống bằng cách không cho nó đất sống thì nó bùng lên để độc chiếm tất cả. Mỗi người chỉ còn lo cho mình, cho gia đình mình trước đã, còn xã hội, đất nước thì để người khác lo, bởi vì họ thấy chẳng ai thiết thực lo cho họ và gia đình họ. Báo chí hằng ngày nêu đầy những chuyện "cha chung không ai khóc". Sự thờ ơ với số phận người bên cạnh, với tương lai của dân tộc đã tới mức báo động. Ðau thương, nghèo đói quá nhiều, những con tim khối óc và những bàn tay để săn sóc, chữa chạy thì quá ít.

Cuộc sống buồn, đau, khổ, quá nhiều
Tâm hồn, thể xác biết bao nhiêu
Trăm mắt, nghìn tay không chữa hết
Vạn nỗi sầu thương đủ trăm chiều.

Yêu mến từng con người

Ðặc tính thứ hai của tình yêu như Ngài đã yêu, là yêu từng con người nhỏ bé nhất, hèn kém nhất. Ngài không yêu thương loài người một cách chung chung, nhưng là từng con người. Thông điệp đầu tiên của Ðức Gioan Phaolô II mang tên "Ðấng Cứu Chuộc Con Người" nhấn mạnh điều này.

Chúa Giêsu trân trọng từng con người nhỏ bé và dạy môn đệ chớ coi thường một ai. Chúa tự đồng hóa với mỗi con người nhỏ bé nhất: "Mỗi lần các người làm như thế cho một trong những người nhỏ bé nhất này là làm cho Ta vậy" - và mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người nhỏ bé nhất này là các người không làm cho Ta vậy." (Mt 25,40-45). "Ai đón tiếp một người nhỏ bé như thế này nhân danh Ta là tiếp nhận Ta đấy" (Mt 18,5-10).

Trên đường Chúa đi, Chúa đã chẳng làm ngơ trước một con người nào đang đau khổ: kẻ phong cùi mà mọi người xa lánh, kẻ mù bị mọi người khinh chê, người mẹ giá khóc thương con một, người cha có đứa con động kinh, viên sĩ quan có người đầy tớ thân tín bị bệnh... Ngài âu yếm như mẹ hiền cúi xuống từng đứa con mà săn sóc ân cần chắt chiu.

Ngày nay, người ta hay nói đến đồng bào, đến dân tộc, nhưng người ta lại ít khi nhận thức được rằng dân tộc, đồng bào không phải là cái gì trừu tượng vu vơ, mà là những con người máu đỏ da vàng đang chen chúc nhau bên nhau trên mảnh đất quê hương hình chữ S này. Người ta sẵn sàng hy sinh vì đất nước nhưng lại khó nhường nhịn yêu thương người đồng bào bằng xương bằng thịt đang sống bên mình. Người ta vỗ ngực là người phục vụ nhân dân, nhưng nhiều khi quên rằng nhân dân là con người đang đau khổ, đang đói, đang khóc trước mặt mình, đang cần được mình giúp đỡ. Mỗi lần đọc kinh Mười Ðiều Răn, ta nhắc lại hai điều: "trước kính mến một Ðức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau là yêu người như mình ta vậy", nhưng ta lại quên rằng, người mà ta phải yêu như mình ta vậy lại chính là con người bằng xương bằng thịt đang đứng bên ta, đang chen lấn ta ở cửa hàng, ở quầy vé, thậm chí đang làm phiền ta, đang thù ghét ta...

Yêu mến thiết thực

Yêu mến từng con người chỉ thành sự thực khi yêu mến một cách thiết thực. Chúa Giêsu đã yêu mến tất cả và mỗi người Ngài gặp một cách thiết thực. Ngài chẳng để họ về không mỗi khi họ tiếp nhận Ngài. Người mù được sáng, kẻ què đi được, người điếc nghe được, người câm nói được, người mẹ mất con được lại con, người chị mất em đuợc lại em, thậm chí đám cưới đang lúng túng vì thiếu rượu cũng được Ngài cho rượu tràn trề. Ngài quan tâm cả tới nỗi mệt nhọc của môn đệ và đưa họ đi nghỉ dưỡng sức, Ngài quan tâm cả tới những yếu đuối của họ để sửa dạy và nâng đỡ. Tình yêu của Ngài thiết thực như một người mẹ hiền săn sóc con cái. Trong chuyện kể về ngày phán xét, Ngài kể ra những điều thiết thực: cho ăn, cho uống, cho mặc, thăm viếng...

Các tông đồ cũng nhắc người ta những điều thiết thực ấy và bác bỏ thứ yêu thương bằng lời nói đầu môi chót lưỡi (1 Ga 3,16-18). Ðể có thể đi tới chỗ hiến mạng sống mình vì anh em, trước tiên phải tập từ những cái nho nhỏ: quan tâm tới và chia sẻ những cái nhỏ bé hằng ngày với lòng mong muốn anh em mình được hạnh phúc, vui, sướng, "được sống và sống dồi dào hơn". Vui vì niềm vui của người khác, buồn nỗi buồn của người khác: "Vui với người vui, khóc với người khóc". Hiến mạng sống là biến cố cuối cùng, hành động cuối cùng, nó chỉ có thể xảy ra khi người ta đã biết cho đi từng giây phút, từng miếng cơm, từng tấm áo, từng lời an ủi... Thánh Maximilien Kolbe đã trải qua tất cả quá trình ấy cho tới hành động cuối cùng, nên hành động cuối cùng của ngài cũng tự phát và nhẹ nhàng, giản dị như là nhường một miếng ăn, một ngụm nước vậy thôi, không cần lý luận, đấu tranh nội tâm... bởi vì ngài đã sẵn sàng như thế từ lâu, giống như một kiếm sĩ tài ba xuất chiêu cuối cùng của mình cũng nhẹ nhàng như chiêu mở đầu.

Chỉ khi ta đã biết yêu quí người khác một cách đích thân và thiết thực, biết quí và trân trọng mạng sống và hạnh phúc của người khác, mong cho họ được sống dồi dào hơn, được hạnh phúc hơn, và thực hiện lời Chúa dạy: "Ðiều mình muốn người ta làm cho mình thì hãy làm cho người ta trước đi!" lúc đó ta mới có thể đặt mạng sống và hạnh phúc của người khác trên mạng sống và hạnh phúc của mình, và sẵn sàng theo Chúa Giêsu đến bằng chứng lớn nhất của tình yêu.

Khi ta biết yêu như thế, thì ta cũng sẽ biết quí trọng vạn vật, sẽ có thể gọi là anh mặt trời, chị hằng nga, và muôn loài sinh vật đều là "anh em", đều chung hưởng sự tốt đẹp và đáng yêu của chính Thiên Chúa. Ta sẽ gặp thấy Thiên Chúa trong mọi sự.

Yêu thương và Thánh Thần

Khi ta yêu mến từng con người một cách thiết thực như thế, ta sẽ hiểu được những đặc tính hoặc thái độ của bác ái mà thánh Phaolô kể trong 1 Cor 13,4-7. Tất cả là tiếp nhận và trân trọng một con người và tự coi mình là kẻ phải phục vụ con người ấy như Chúa Giêsu, Ðấng "đã đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ." Người lớn nhất trong các con phải làm đầy tớ mọi người." (Mc 10,41-45).

Khi ta cư xử như thế ta là kẻ phục vụ, tất nhiên ta phải rộng lượng, mau mắn giúp đỡ, khiêm tốn lịch thiệp, không nổi giận, không chấp nhất điều gì: tin tất cả, hy vọng tất cả và chịu đựng tất cả. Ðó là những tính cách của một tiếp viên mà bất cứ cơ sở giao dịch nào cũng muốn có được. Nếu có lần nào bạn đã gặp một tiếp viên hàng không, du lịch, phòng giao dịch của các công ty lớn ở các nước văn minh, bạn sẽ hiểu được người môn đệ của Chúa bao giờ cũng phải như thế và ví ai cũng phải như thế, bởi vì bạn là tiếp viên của Chúa, bạn phải đón nhận mọi người thế nào để họ hài lòng về Chúa của bạn, có cảm tình với Chúa của bạn, và như cảm thấy được chính Chúa tiếp vậy, cũng như người tiếp viên giỏi làm cho khách hàng có cảm tình với công ty của mình...

Nhưng nếu bạn tò mò đối chiếu đoạn 1 Cor 13 trên đây với Gal 5,19-24 thì bạn lại khám phá được một điều thú vị nữa, đó là những tính cách của Ðức Ái lại chính là hoa trái của Thánh Thần. Vậy thì lòng yêu thương, đức ái trong ta là một tác động, một ơn của Thánh Thần. Thánh Thần giúp ta giết chết những tính cách của con người xác thịt luôn trái ngược với đức ái, và giúp ta sống theo tình yêu xuất phát từ trái tim Thiên Chúa. Thánh Thần chính là tình yêu nối kết Cha với Con, và cũng là Tình Yêu nối kết ta với Cha và Con, làm cho ta gọi Thiên Chúa là Cha và sống làm con Thiên Chúa (Rm 8), đồng thời làm cho ta nhận ra người khác là anh em và sống như người anh em của mọi người, như Chúa Giêsu đã đến trần gian để làm người anh em của mọi người (coi Heb 2,10-18).

Ðiều này dẫn ta đến một đặc tính khác trong tình bác ái: chia sẻ chứ không ban phát. "Tất cả chúng con là anh em với nhau". Chỉ có Cha trên trời là Ðấng ban phát cho mọi loài và mọi người, bởi vì Ngài là nguồn mạch mọi sự tốt lành, còn chúng ta là con cái, tất cả những gì ta có đều là nhận được: "Anh có gì mà không phải là do nhận được không?" Tính chất riêng của Cha là cho, của con là nhận. Nếu tất cả cùng nhận của Cha thì chỉ có thể chia sẻ lại cho nhau chứ không phải là phân phát.

Chính Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa đã muốn nên anh em với chúng ta và chia sẻ cho chúng ta những gì Ngài đã nhận của Cha: Mọi sự của Cha là của Con, mọi sự của Con là của Cha". Ngài đến chung với chúng ta thân phận con người để chia sẻ cho chúng ta phận Con Thiên Chúa của Ngài: "Phàm là con cái thì cùng chung huyết nhục, nên Ngài cũng chung phần huyết nhục với chúng ta". Thậm chí Ngài đã thông phần chịu thử thách như chúng ta để có thể cứu giúp những kẻ bị thử thách (Heb 2,10-18).

Thái độ chia sẻ tự nó bao hàm sự tôn trọng: tôn trọng anh em vì cùng nhau đứng trước mặt Cha như con cái; tôn trọng những gì mình có, vì là của Cha ban cho; đồng thời cũng bao hàm sự quảng đại nữa, bởi vì không phải là của riêng mình mà là của Cha trao, cũng không phải cho người xa lạ, mà là chia cho anh em chung một Cha

Trở về mục lục >>

 


 

TÌNH YÊU THIÊN CHÚA: ÐỘC NHẤT VÔ NHỊ

"Không phải vì ta tốt lành mà Chúa yêu ta, nhưng vì Người là Tình Yêu và Người muốn làm cho ta trở nên hình ảnh của Con Một Người. Tình yêu ấy không phải do ta kiếm được, mà do Người ban tặng nhưng không! - Thiên Chúa yêu chúng ta một cách vô điều kiện và một cách tự do. Tình yêu Thiên Chúa là một quà tặng. Và tất cả những gì chúng ta cần làm là hãy đón nhận món quà đó!"

Marek Shwarnicki


 

 

 

 LỄ ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC
 

VINH QUANG CỦA ĐỨC MARIA

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Ngày 8.12.1854, Đức Giáo hoàng Piô IX long trọng tuyên bố tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội trong tông hiến Ineffabilis Deus.  Ba năm sau, như để khẳng định cách dứt khoát ràng về mầu nhiệm Hội Thánh tin tưởng, Đức Mẹ đã hiện ra với một thiếu nữ nông dân nghèo tên Bernadette Soubiroux tại hang đá Massabielle, nước Pháp. tổng cộng tất cả 18 lần, kể từ ngày 11.2 đến ngày 16.8.1858. Riêng lần hiện ra ngày 24.3.1858, Đức Mẹ cho biết: “Ta Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.”Năm 1862, sau nhiều lần chất vấn Bernadette, Hội Thánh xác nhận, Đức Maria đã thực sự hiện ra tại Lộ Đức. Hội Thánh truyền cho các tín hữu hãy đặc biệt tôn sùng Đức Mẹ Lộ Đức lập lễ kính Đức Mẹ Lộ Đức vào ngày 11.2 hàng năm, bắt đầu từ năm 1907.Như vậy, mầu nhiệm Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội liên quan lớn đến sự kiện Lộ Đức. Nói cách khác, trong khi mừng kính Đức Mẹ Lộ Đức, chúng ta cũng đồng thời tuyên dương Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Tuy nhiên, mầu nhiệm Đức Mẹ viếng thăm thế giới tại Lộ Đức, dù đã được Hội Thánh nhìn nhận, vẫn chưa phải nền tảng vững chắc nhất. Chúng ta cần phải được soi sáng cách thấu đáo hơn vị trí của Đức Mẹ trong mầu nhiệm cứu độ qua mạc khải của Thiên Chúa. Nh đó, đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội Thiên Chúa ban cho Đức Maria càng tỏa sáng, càng đáng chiêm ngưỡng, đáng ca tụng quý trọng.

Dù sao, đây vẫn đề tài lớn. Mặc khác, chúng ta vẫn không tham vọng nghiên cứu thánh mẫu học. thế, ch xin lướt qua một chút nơi vài hình ảnh của Mẹ chúng ta trong Tin Mừng, đặc biệt Tin Mừng theo thánh Luca Tin Mừng theo thánh Gioan thôi.

1. MẸ THIÊN CHÚA.

những điều mới mẻ trong cách Thiên Chúa đối xử với dân Người, được th hiện qua chính Chúa Kitô. Trong đó, tính cách mới lạ nhất, đáng yêu, đáng quý nhất, đó Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người, không hề một Thiên Chúa xa cách, đã đồng hóa mình như một thành viên của gia đình nhân loại. Người cũng một gia ph cùng được sinh ra bởi một ph nữ như bất kỳ ai. “Khi tới thời viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người ph nữ, sống dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Ga 4, 4-5)

“Người ph nữ ấy”, một khi được Thiên Chúa chọn để sinh ra đời bắt đầu từ lòng dạ mình, ngay lập tức tr nên Mẹ của Thiên Chúa, Mẹ của Đấng tạo thành cứu độ mình. Bởi đó, vinh dự của Đức Maria, một vinh dự lớn vô cùng: Mẹ Thiên Chúa.

Kẻ được chọn làm Mẹ Thiên Chúa cần phải được chuẩn bị cách thanh sạch, xứng với Đấng Thiên Chúa, thế, Mẹ Thiên Chúa phải một tâm hồn hoàn toàn thanh sạch, thánh thiện, không gợn một chút tỳ ố nào. thế, Hội Thánh tin vững chắc rằng, ngay từ lúc đầu tiên thành thai trong lòng thánh Anna, Đức Maria đã được giải thoát để nên tinh tuyền.

2. ĐỨC MARIA, HÒM BIA GIAO ƯỚC MỚI.

Việc Đức Maria cưu mang sinh hạ Con Thiên Chúa, đã làm cho Mẹ một vai trò vinh quang nhất, trên hết mọi th tạo, trong suốt dòng lịch sử cứu độ, bởi ơn cứu độ được ban cho thế giới xuyên qua Mẹ cách hết sức độc đáo.

Mẹ, ch một mình Mẹ thôi, Mẹ của Thiên Chúa làm người. Bởi vậy, “Mẹ Thiên Chúa” tước hiệu ngay cả Thánh Kinh cũng nhấn mạnh tước hiệu này trong lời thoại của một người ch họ của Đức Mẹ: “Bà Êlisabeth được đầy Thánh Thần liền kêu lớn tiếng nói rằng: Em được chúc phúc hơn mọi người ph nữ, người con em đang cưu mang cũng thật phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa tôi đến viếng thăm tôi” (Lc 4, 41-43).

Vinh quang của Mẹ Thiên Chúa, cưu mang sinh ra Thiên Chúa làm người, đã khắc họa Đức Maria thành hình ảnh chiếc hòm bia giao ước ngày xưa của đoàn dân trong Cựu Ước. Hai chương đầu của Tin Mừng theo thánh Luca, tác gi nhấn mạnh mối tương đồng giữa Đức Trinh Nữ Maria hòm bia giao ước. Bởi thế, Mẹ tr nên hòm bia sống động của giao ước mới.

Dù không minh nhiên so sánh với hòm bia, nhưng trong cách trình bày, Luca cho thấy: Lòng dạ trinh trong của Đức Nữ Trinh chẳng khác nhà tạm để Thiên Chúa hiện diện nơi trần thế một cách hiển vinh. Ngoài ra, những diễn tả trong các câu chuyện Truyền tin Viếng thăm, bằng cách vay mượn những từ ng đã được dùng trong Cựu Ước để diễn tả hòm bia giao ước -  Chẳng hạn Lc 1, 35 tương xứng với Xh 40, 34-35, hoặc bài ca Magnificat (Lc 1, 46-56) - thánh sử Luca ràng muốn quy chiếu Mẹ Thiên Chúa với hòm bia giao ước.

Đặc biệt trong Xh 40, 34-35, sau khi vừa dựng lều nhà tạm xong, Môsê đặt hòm bia vào lều, lúc đó đám mây che ph lều Hội Ng, vinh quang Đức Chúa đầy tràn Nhà Tạm. Ông Môsê không th vào lều Hội Ng đám mây đậu trên đó, vinh quang Đức Chúa đầy tràn Nhà Tạm”. Trong Lc 1, 35, chúng ta đọc thấy việc Đức Maria th thai cách linh thiêng cũng được “Thánh Thần sẽ đến trên quyền năng Đấng Tối Cao trên rợp bóng” (Lc 1, 35). thế, chính lúc th thai, mang lấy chính Thiên Chúa trong lòng dạ mình, Đức Maria tr nên hòm bia sống động của Thiên Chúa.

Nhưng thánh Luca không ch làm nổi bật hình ảnh hòm bia nơi Đức Maria, thánh nhân còn đi thêm một bước dài trong cách làm đối xứng giữa cuộc hành trình của hòm bia đi về Giêrusalem dưới thời Đavid, với hành trình của Đức Maria mang Chúa Giêsu đến Giêrusalem để thăm viếng.

* Đavid dân chúng đã vui mừng khi cung nghinh hòm bia. (2 Sm 6, 12-15). Êlisabeth con cũng vui mừng trước mặt Đức Maria (Lc 1, 41-44).

* Chính Đavid đã nhảy nhót để diễn tả niềm vui ấy (2 Sm 6, 16). Gioan Tẩy gi cũng nhảy mừng trong lòng mẹ trước Đức Maria (Lc 1, 44).

* Dân Israel đã “reo hò” trong khi rước hòm bia (2 Sm 6, 15). Cũng vậy, Êlisabeth “kêu lớn tiếng” (Lc 1, 42).

* Cũng như hòm bia ở lại nhà Abinadad trong ba tháng (2 Sm 6, 10), Đức Maria cũng lưu lại nhà Giacaria “ba tháng, rồi tr về nhà mình” (Lc 1, 40).

* Câu nói của Êlisabeth: “Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa tôi đến viếng thăm tôi” (Lc 1, 43), phải chăng cũng họa lại lời Đavid: “Hòm bia Đức Chúa đến với tôi thế nào được?” (2 Sm 6,9).

Như vậy, với cái nhìn của Luca, cũng mạc khải của chính Thiên Chúa nơi Tin Mừng này, đã biểu lộ một nét đẹp vô song: Đức Maria, Mẹ của Thiên Chúa làm người, cũng chính hòm bia giao ước mới, hòm bia giao ước sống động của Thiên Chúa.

Như vậy, Đức Maria khi mặt trong thời Tân Ước, đã bước ra từ Cựu Ước. Giá tr của chiếc hòm nh chứa đựng bia giao ước. Đức Maria được ca khen trên hết mọi người ph nữ (Lc 1, 42), bởi từ lòng dạ của Mẹ, Con Thiên Chúa được sinh ra. Nhưng giao ước ngày xưa không bền vững, còn hôm nay, cưu mang hạ sinh Con Thiên Chúa, Đức Maria đã trao cho trần thế một giao ước không bao gi tàn phai.

3. ĐỨC MARIA, NGƯỜI PH NỮ CHIẾN THẮNG.

Trong khi trình bày về cái chết của Chúa Kitô, Tin Mừng theo thánh Gioan không quên nói tới người ph nữ đã sinh ra Chúa Kitô: “Đức Giêsu thấy Mẹ Ngài, môn đồ Ngài yêu mến đứng bên cạnh, thì Ngài nói với Mẹ: 'Hỡi , này con bà!'. Đoạn lại nói với môn đồ: 'Này mẹ con'” (Ga 19, 26-27).

Cách xưng trong đoạn trích vừa rồi, Chúa Giêsu nói với Đức Maria, cũng cùng một kiểu với lần xưng tại tiệc cưới Cana: “Hỡi Bà” Nhiều người thắc mắc, tại sao Chúa Giêsu lại xưng với mẹ mình như thế? Văn chương Do Thái cũng không cho thấy, thời Chúa Giêsu, người ta th xưng với mẹ như Chúa Giêsu đã xưng với Đức Maria.

Tin Mừng theo thánh Gioan đã một sự đối chiếu với sách Sáng thế. Ngay từ đầu chương th nhất của Tin mừng này, Gioan  đã mở đầu: “Lúc khởi nguyên” giống y như sách Sáng thế. Sau khi mở đầu như thế, Tin Mừng Gioan tiếp tục nói đến sự tạo dựng phân biệt ánh sáng bóng tối, cũng y như sách Sáng thế. ràng, thánh Gioan đã sự quan tâm không nh đến quyển sách đầu của Kinh Thánh, khi viết sách Tin Mừng.

Từ đó, ta th suy đoán rằng, ch “Bà” trong Tin Mừng này, liên hệ với “người đàn bà” trong Sáng thế 3, 15.  Sáng thế 3, 15 nói về sự giao tranh giữa quỷ thần cùng người đàn dòng dõi của bà. Dòng dõi của người đàn sẽ lúc bị thương nơi “gót chân,”, còn quỷ thần sẽ bị đả thương nơi “đầu”. Hôm nay, đối với Tin Mừng Gioan, cuộc giao tranh ấy đã diễn ra nơi Chúa Kitô Mẹ của Người. Chính Gioan đã trích dẫn lời Chúa Giêsu nói về kết quả của cuộc chiến ấy: Gi đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Gi đây th lãnh thế gian sắp bị tống ra ngoài!’ (Ga 12, 31).

Chúng ta cũng sẽ dễ dàng tìm thấy nhiều nới khác trong Tin Mừng thánh Gioan, ảnh hưởng của quỷ thần, nhất ảnh hưởng đó làm cho Chúa Kitô bị đóng đinh, chẳng hạn: Ga 6, 70-71; 8, 44; 13, 2. th nói, cuộc giao tranh của quỷ thần luôn rình rập cả cuộc đời Chúa Kitô.

Cuộc giao tranh ấy lên đến cực điểm trên núi Sọ, nơi đó, Chúa Kitô bị thuơng tích bị chết. Nhưng cái chết bề ngoài này (ch như một vết thương nơi gót chân) một chiến thắng đại đối với tội lỗi. Như vậy, cái chết sự phục sinh của Chúa Kitô ngay sau cái chết đó, sự chiến thắng của dòng dõi của “Người Đàn Bà.”

  thế, từ ng “Bà” Chúa Giêsu nói trên thập giá nằm trong bối cảnh này. “Người Đàn Bà”, Mẹ của Chúa Giêsu “Người Đàn Bà” của đau thương, thế, cũng “Người Đàn Bà” của chiến thắng.

Việc Đức Maria chia sẻ sự chiến thắng  của Chúa Kitô trên sự tội sự chết chính nền tảng thần học cho việc Hội Thánh, nh ơn mạc khải của Chúa Thánh Thần, công nhận tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Qua tín điều này, Hội Thánh tôn xưng sự chiến thắng hoàn toàn trên tội lỗi của Chúa Kitô. Qua sự chiến thắng đó, Evà mới chính Đức Maria được giải thoát cách hết sức lạ lùng, tội lỗi do Evà gieo rắc, từ nay bị nhấn chìm.

Bởi đó, Đức Maria, người Nữ cộng tác với ơn cứu độ, tr thành người Nữ chiến thắng trong chính sự hiệp công của mình. Sự chiến thắng của dòng dõi “Người Đàn Bà” làm cho Đức Maria tr thành người tiên phong trong ơn cứu độ đầy hiệu lực, do Chúa Kitô thực hiện.

Không những thế, Đức Maria còn được đưa về trời cả hồn lẫn xác, cho thấy sự chiến thắng sự chết của Chúa Kitô, không phải nơi bản thân Chúa Kitô thôi, nhưng còn dòng dõi của Chúa Kitô, Đức Maria đồng minh thân thiết nhất của Người. Bởi cũng dòng dõi của Chúa Kitô trong