|
|

Số 73 Ngày 25-02-2006
MỤC LỤC
Thư Tòa Soạn
Thứ Tư Lễ Tro
–
Đức Gioan Phaolô II
Mùa Chay Thánh: Ý Nghĩa Lễ Nghi Bỏ Tro
Trên Đầu Các Tín Hữu
–
Sưu Tầm
Tại Sao Họ Không Ăn Chay? -
Lm.
Mark Link
Ý Nghĩa và Vai Trò của Cầu Nguyện Trong
Đời Sống Tín Hữu -
Lm. Nguyễn Công Đoan,
SJ
Đọc Kinh và Cầu Nguyện –
Đỗ Trân
Duy
Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay -
Lm. Jess S. Brena, S.J.
Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện
–
Gm. Pier Giorgio
Falciota, O.C.D.
Mùa Chay – Mùa Đánh Trống Bỏ Dùi!!!
–
Lung Linh
Có Một Người Con Gái Tên Mai...
–
Bs. Nguyễn Trọng Luyện
Những Lời Kinh Thống Hối –
Louis-Joseph Lebret, O.P.
Lạy Chúa, Chúa Biết Rằng… -
Phan-xi-cô
Chuyện Khu Vườn Của Tôi -
Sưu
Tầm
Tâm Tình Cùng Bạn Đọc –
Thư Bạn Đọc


Trở
về các số báo
Thư Tòa Soạn
Kính thưa Quý
độc giả,
Cách đây 3 năm,
Phân Khoa Xã Hội Học Trường Đại Học Sàigòn trao bằng cử nhân
thủ khoa cho sinh viên Nguyễn Thị Mai, với luận văn đề tài:
“Tìm Hiểu Một Số Thuận Lợi và Hạn Chế Trong Tiến Trình Hội
Nhập và Phát Triển của Người Khuyết Tật tại TPHCM.”
Khi được xướng danh, người sinh viên ưu tú lên để nhận văn
bằng; mọi người đều kinh ngạc thấy một cô bé bại liệt cả tứ
chi được đưa lên lễ đài trên một chiếc xe lăn! Không kể những
nỗ lực của em trong bốn năm đại học, thì muốn viết cuốn luận
văn 70 trang kia, em đã chỉ sử dụng hai cổ tay kẹp một chiếc
đũa để gõ từng ký tự trên bàn phím vi tính. Không cần phải đi
sâu vào cuộc đời cũng thấy quyết tâm sắt đá của cô gái trẻ này…
Cách đây một
tháng, trong khi mọi người trên đất nước Việt Nam rộn ràng
chuẩn bị mừng Xuân, thì một cô gái khuyết tật âm thầm qua đời
trong bệnh viện lao Phạm Ngọc Thạch trước cái nhìn bất lực của
các bác sĩ. Cô đã được đưa vào bệnh viện quá trễ, khi bệnh lao
vào thời kỳ cuối đã đặt cô vào tình trạng hấp hối. Cô gái ấy
chính là sinh viên Nguyễn Thị Mai, người bạn trẻ đã tốt nghiệp
danh dự thủ khoa ngành Xã hội học năm 2003.
27 năm cuộc đời
của một cô gái luôn phải nằm sát mặt đất vì không thể nào ngồi
được! 27 năm phấn đấu với tật nguyền, với nghèo khó, với thua
thiệt, với số phận hẩm hiu, để rồi chưa kịp nở một nụ cười mãn
nguyện thì đã về với thiên thu. Cái chết của Nguyễn Thị Mai
nhói lên như một lời phản kháng trước những phi lý, bất công
của cuộc đời: Tại sao? Tại sao? Và tại sao?....
“Hỡi
người, hãy nhớ mình là tro bụi, một mai người sẽ trở về bụi
tro...”
Đó là
lời nhắc nhở của Giáo Hội trong ngày thứ tư Lễ Tro sắp đến.
Thân phận bọt bèo của con người, múa may quay cuồng, bon chen,
tích trữ bao nhiêu rồi cũng sẽ trở về với cát bụi. 27 năm hay
72 năm nào có khác gì đâu, nếu chúng ta sống như kiếp tù nhân
đợi ngày hành quyết, và mọi nỗ lực trong đời sẽ trở thành hư
không. Lễ Tro hàng năm chính là dịp để mọi Kitô hữu suy nghĩ
về cuộc đời và ý nghĩa đích thực của sự hiện diện độc đáo và
đặc thù có một không hai
của từng bản thân chúng ta.
Trong Cựu Ước,
khi dân Do Thái muốn xin Chúa thứ tha thì họ ngồi trên đống
tro và xức tro lên đầu. Khi Giô-na báo cho dân thành Ni-ni-vê
rằng Thiên Chúa sẽ hủy diệt thành phố của họ nếu họ không hoán
cải, vị vua đã hành động như sau:
“Ông rời khỏi
ngai vàng, cởi áo choàng, khoác áo vải thô và ngồi trên tro.”
(Giô-na
3,6). Và cả thành phố đều làm như thế. Về phần Gióp, ông gặp
mọi điều bất hạnh: mất hết của cải, con cái chết đi, thân ông
bệnh hoạn. Ông nghĩ rằng Chúa trừng phạt ông vì ông không đủ
tốt lành, vì thế
‘ông ngồi trên đống tro’
(G 2,8). Từ cử chỉ ăn năn ấy, xuất phát nghi thức xức tro
trong truyền thống Giáo Hội (và luôn luôn được cử hành vào
ngày thứ tư gọi là Thứ Tư Lễ Tro), khởi sự cho mùa thống hối
dài 40 ngày: Mùa Chay.
Bốn mươi ngày
này nhắc lại hai biến cố: 40 năm dân Do Thái đi trong sa mạc
để tiến về Đất Hứa, và 40 ngày Chúa Giêsu ăn chay nơi hoang
địa. Đối với dân Do Thái, cũng như đối với Chúa Giêsu, cần
phải vượt qua sự ngã lòng và giữ vững niềm cậy trông vào Chúa.
Đấy là điều mà Giáo Hội mong mỏi nơi con cái mình trong ngày
Lễ Tro, khi kêu gọi dân Chúa thống hối.
Thống hối trong
Mùa Chay không phải là một hành vi nhận tội của phạm nhân bị
đưa ra trước vành móng ngựa. Thống hối là nhìn lại những vết
nhơ trong cuộc đời mình, để cảm tạ và hy vọng vào một Tình Yêu
lớn hơn những tội lỗi đời ta, để nhận ra giá trị của một hữu
thể độc nhất vẫn hằng được Thiên Chúa yêu thương…
Một nhà diễn
thuyết nọ có lần đưa ra trước cử tọa tờ 20 Mỹ kim. Ông hỏi 200
thính giả đang ở trong phòng: “Ai muốn nhận tờ $20 này?” Một
số bàn tay đưa lên. Ông bảo: “Tôi sẽ tặng cho một người trong
các bạn, nhưng trước hết, để tôi làm như thế này đã.” Ông vò
tờ $20 cho nhăn nheo rồi hỏi: “Ai còn muốn nhận tờ bạc này?”
Vẫn có những bàn tay đưa lên. “Thôi được, tôi làm thêm thế này
nhé.” Ông vứt tờ giấy $20 xuống đất, lấy giày đạp dẫm lên và
chà đi chà lại. Sau đó ông nhặt tờ giấy bạc nhăn nhúm và vấy
bẩn lên rồi hỏi: “Bây giờ, có ai còn muốn nhận tờ bạc này
không?” Vẫn còn có những bàn tay đưa lên.
Và bài diễn
thuyết của ông bắt đầu như thế này:
- Các bạn ạ,
các bạn vừa rút ra được một bài học đáng giá. Dù ta có chà đạp,
làm bẩn thỉu thế nào đi nữa với tờ bạc này, thì giá trị của nó
vẫn còn nguyên vẹn. Có phải không, nhiều lần trong cuộc đời,
chúng ta đã sa ngã, bị vấp té, bị hoen ố và tệ hại vì những
hành vi tội lỗi của mình. Chúng ta thấy rằng bản thân mình
không còn giá trị gì nữa. Thế nhưng, khi chúng ta nhìn lên
Thiên Chúa, một Thiên-Chúa-bị-đóng-đinh-và-mang-thương-tích vì
yêu thương chúng ta, thì ta sẽ hiểu rằng Ngài đã yêu thương
đến cùng để cứu độ chúng ta. Và chính trong Tình Yêu cao vời
đó, giá trị chúng ta vẫn còn nguyên vẹn, vì Tình Yêu dành cho
chúng ta trong Con của Người không bao giờ suy suyển.
Mùa Chay chính
là Mùa Trở Về với Tình Yêu Cứu Độ, trở về bằng cầu nguyện và
hãm mình, hầu tâm linh đuợc thanh thoát mà nhận ra cái nhìn
yêu thương vô biên và trường kỳ của Thiên Chúa.
Cùng nhịp với
Mùa Chay Thánh, Thứ Sáu, 3 tháng 3 là
Ngày Thế Giới Cầu
Nguyện
(World Day of Prayer). Ngày này được khởi đầu từ phong trào
của các phụ nữ Kitô giáo trên toàn thế giới thuộc mọi Giáo Hội.
Phong trào này ra đời năm 1887 tại Hoa Kỳ với châm ngôn: “Tìm
Hiểu, Cầu Nguyện, Hành Động.” Đến thập niên 30 phong trào tràn
sang Châu Âu và hiện nay có hơn 180 nước tham gia. Chủ đề Ngày
Thế Giới Cầu Nguyện năm nay, phong trào tại Nam Phi đề xuất
với chủ đề: “Dấu Chỉ Thời Đại” (Signs of the Times) và mời gọi
thế giới hướng lòng cầu nguyện cho tín hữu tại Phi Châu, một
lục địa đang chịu nhiều khổ đau nhất: với hàng triệu người còn
sống trong cơ cực nghèo đói, với con số thất nghiệp cao nhất,
và với căn bệnh AIDS đang hoành hành khốc liệt nhất.
Trong niềm
hiệp thông với Dân Chúa,
Maranatha 73
bắt đầu bằng bài giảng ngày Lễ Tro năm 2003 của Đức Thánh Cha
Gioan Phaolô II, mà đến nay tư tưởng vẫn còn nóng bỏng tính
thời sự. Ngày Thế Giới Cầu Nguyện trong tuần tiếp ngay sau Thứ
Tư Lễ Tro năm nay thật phù hợp để chúng ta bước vào Mùa Chay
Thánh sốt sắng và thâm sâu hơn, nên
Maranatha
tuần này cũng dành nhiều trang hướng về Mùa Chay và tinh thần
cầu nguyện thống hối. Mùa Chay cũng là dịp Giáo Hội mời gọi
chúng ta chia sẻ nhiều hơn cho những anh chị em thiếu thốn,
cần được giúp đỡ và cảm thông. Trong tinh thần này,
Maranatha 73
cho
đăng câu chuyện về cô Nguyễn Thị Mai, người sinh viên rất trẻ
tuổi đời, nhưng khi giã từ cõi tạm này đã để lại một chứng từ
độc đáo và dấu ấn khó phai mờ trong lòng một số nguời quen
biết. Qua cuộc đời của Mai, hy vọng mỗi người chúng ta nhìn
lại cuộc sống bản thân mình, đồng thời biết cảm thông, trân
trọng và chia sẻ với tha nhân, (từ những người thân thiết nhất
cho đến những người đang ở đâu đó…), họ đang khắc khoải vươn
lên trong cái bất hạnh thể chất hay tinh thần mà mình chẳng
mảy may quan tâm hay có chút thì giờ nhìn đến.
Làm thế nào để
chúng ta khởi sự Mùa Chay năm nay, không phải với lòng u sầu
thảm thiết của một tội nhân, nhưng với tâm tình thống hối, cậy
trông và tràn đầy hy vọng của những người xác tín rằng Thiên
Chúa Tình Yêu vẫn mãi ở đó trong cuộc đời mình và thế giới hôm
nay. Người có thể đổi mới tất cả, khởi sự từ tâm hồn mình, để
làm cho mọi sự trở nên tinh tuyền và đẹp đẽ, nếu chúng ta chân
thành và thiết tha cầu nguyện:
Maranatha, Lạy
Chúa, xin ngự đến!
MARANATHA
LỄ
TRO – MÙA CHAY
THỨ
TƯ LỄ TRO
Đức Gioan Phaolô II
1.
“Hãy thổi kèn lên khắp Sion, hãy ra lệnh ăn chay, triệu tập
một đại lễ, quy tụ dân chúng, ra lệnh mở đại hội, tập họp các
bô lão, quy tụ các thiếu nhi và các trẻ còn măng sữa.”
(Ge 2, 15-16)
Những
lời này của tiên tri Giôel nói đến chiều kích cộng đoàn của
việc thống hối. Quả thật, thống hối chỉ có thể xuất phát từ
con tim, mà theo nhân chủng học Kinh Thánh, đó là nơi cư ngụ
những ý định sâu thẳm nhất của con người. Tuy nhiên, những
hành vi thống hối đòi hỏi phải được thực thi cùng với mọi
thành phần của cộng đoàn.
Đặc
biệt vào những thời điểm khó khăn, sau những khó khăn hay
trước một hiểm nguy, Lời Chúa, qua môi miệng các tiên tri, kêu
gọi tín hữu đi vào thống hối: Mọi người đều được triệu tập,
không trừ ai, từ người già đến trẻ em; mọi người đều hiệp nhất
để van nài Thiên Chúa dũ thương mà tha thứ. (x. Ge 16-18).
2.
Cộng đoàn Kitô hữu lắng nghe lời thống thiết mời gọi hoán cải
này, lúc chuẩn bị đi vào hành trình bốn mươi ngày Mùa Chay, mà
theo nghi lễ cũ, khởi sự bằng việc xức tro. Cử chỉ này, mà
nhiều người nghĩ rằng đã thuộc về một thời đại xa xưa, rõ ràng
là đi ngược lại với nếp suy nghĩ của con người thời nay, nhưng
điều này lại thôi thúc chúng ta đào sâu ý nghĩa để khám phá ra
sức mạnh và ảnh hưởng đặc biệt của cử chỉ ấy.
Khi
ghi dấu tro trên trán tín hữu, người chủ tế lặp lại câu:
“Hỡi người, hãy nhớ rằng mình là tro bụi, và sẽ trở
về với bụi tro”.
Trở về với bụi tro, ấy là vận mệnh của mọi người và mọi vật.
Tuy nhiên, con người không chỉ là thân xác, mà còn là thần
khí. Nếu xác thịt buộc phải trở về với cát bụi, thì thần khí
mãi mãi là bất diệt. Ngoài ra, tín hữu biết rằng Chúa Kitô đã
sống lại, và qua đó, xác thân Ngài đã chiến thắng tử thần.
Chính Ngài cũng bước đi trong hy vọng theo viễn ảnh đó.
3.
Như thế, nhận tro trên trán có nghĩa là tự nhận mình là loài
thọ tạo, được dựng nên từ bùn đất và sẽ trở về bùn đất (x. St
3,19); điều này cũng có nghĩa là tự cáo mình là tội nhân, cần
được Chúa thứ tha để có thể sống theo Tin Mừng (x. Mc 1,15);
cuối cùng, điều ấy có nghĩa là khơi dậy niềm hy vọng vào một
cuộc gặp gỡ viên mãn với Chúa Kitô trong vinh quang và trong
bình an của Nước Trời.
Viễn
ảnh niềm vui này thôi thúc mọi tín hữu phải nỗ lực sống trong
thời buổi hiện tại một phần của cái bình an tương lai. Điều
này đòi hỏi phải thanh luyện tâm hồn và khẳng định lại mối
hiệp thông với Thiên Chúa và với anh chị em mình. Đấy là mục
đích của việc cầu nguyện và ăn chay mà tôi mời gọi anh em thực
hiện, trước những đe dọa chiến tranh đang đè nặng trên thế
giới này. Qua cầu nguyện, chúng ta đặt nền hòa bình vào bàn
tay Thiên Chúa, và chúng ta chờ mong hòa bình đích thực chỉ từ
bàn tay của Ngài mà thôi. Qua ăn chay, chúng ta chuẩn bị tâm
hồn để đón nhận bình an của Chúa, đó là hồng ân trên mọi hồng
ân và đấu chỉ rằng Nước của Ngài đã đến.
4. Do
đó, cầu nguyện và ăn chay cần phải đi kèm với những hoạt động
công bình; việc hoán cải phải được thể hiện bằng việc đón nhận
nhau và liên đới với nhau. Về điểm này, tiên tri Isaia từng
kêu gào: “Cách
ăn chay mà ta ưa thích nhất chẳng phải là thế này sao: mở
xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc; trả tự do cho
người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm?”
(Is 58,6)
Không
có hòa bình trên trần gian ngày nào các dân tộc còn bị áp bực,
còn bất công trong xã hội và còn bất bình đẳng kinh tế. Nhưng
muốn có được những thay đổi cơ chế, thì những sáng kiến và
phát minh bên ngoài thôi vẫn chưa đủ; trước hết cần phải có
một sự hoán cải tâm hồn của mọi người hướng về tình yêu.
5.
“Hãy thật lòng trở về với Ta.”
(Ge 2.12). Ta có thể nói rằng sứ điệp mà chúng ta cử hành hôm
nay được tóm lược trong lời này, lời Thiên Chúa khẩn khoản kêu
nài chúng ta hoán cải tâm hồn.
Lời
mời gọi này được thánh Phaolô lặp lại trong bài đọc II:
“Nhân danh Đức Kitô, chúng tôi năn nỉ anh em hãy làm hoà
cùng Thiên Chúa [...] Giờ đây là cơ hội thuận tiện, giờ đây là
ngày cứu thoát.”
(2 Cr
5, 20; 6, 2).
Anh
chị em thân mến, giờ đây là cơ hội thuận tiện để nhìn
lại thái độ của chúng ta đối với Thiên Chúa và đối với anh chị
em mình.
Giờ đây là ngày cứu độ,
nghĩa là lúc chúng ta xét lại sâu xa những tiêu chuẩn hướng
dẫn chúng ta trong nếp sống đời thường.
Lạy
Chúa, xin giúp chúng con thật lòng trở về với Chúa;
Chúa là Đường đưa chúng con đến cứu độ, là Chân lý giải thoát
chúng con, là Sự Sống không bao giờ phải chết!●
Thứ Tư Lễ Tro, ngày 5-3-2003
Trở về mục lục >>
¶
Mùa Chay thánh:
Ý NGHĨA LỄ NGHI BỎ TRO TRÊN ĐẦU CÁC TÍN HỮU
Trước hết, lãnh nhận việc bỏ Tro trên đầu là một cử chỉ có từ
rất lâu đời. Trong Cựu Ước chúng ta thấy nhiều lần: việc bỏ
tro trên đầu là dấu hiệu của tang chế, đau buồn và của sự tự
hạ mình, để xin ơn tha thứ.
Trong lúc quân đội của Assyria do Tướng hùng hổ Holoferno chỉ
huy tiến vào Israel, mọi người dân Giêrusalem, cả phụ nữ và
trẻ em, phủ phục xuống đất trước Ðền Thánh và bỏ tro trên đầu,
giang tay lên trời, khẩn cầu Thiên Chúa (Judit , 4, 11 ).
Ông
Gióp, sau khi tha thiết kêu cầu Thiên Chúa cứu mình trong cơn
cực khổ, hoạn nạn, bị mọi người từ bỏ, trở về với Chúa với tất
cả niềm tin tưởng và thề hứa: “Lạy Chúa, con xin rút lời than
phiền, trách móc, con đau đớn bỏ tro bụi trên con." (Job 42,
6).
Bị
đe dọa tàn phá, sau khi nghe tiên tri Giona giảng, toàn dân
thành Ninive, từ Vua đến dân thường và cả loài vật nữa, bỏ tro
trên đầu, mặc áo nhặm, xin ơn tha thứ và đã được Thiên Chúa
thương đến. (Jona 3, 5).
Trong khi lãnh chút tro trên đầu, chúng ta, các người lớn,
nhất là các bậc làm cha mẹ, các nhà giáo dục, các linh mục,
các nam nữ, hãy lo lắng giải thích ý nghĩa cho các trẻ em. Tốt
hơn cả là chúng ta cùng với các em lãnh tro trên đầu, để có
dịp thuận tiện giải thích ý nghĩa sâu xa của lễ nghi này.
Lễ
nghi bỏ tro trên đầu nhắc nhở chúng ta nhận biết: chúng ta là
hư vô trước mặt Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa không yêu thương
chúng ta, nếu Người không ban sự sống cho chúng ta, nếu Người
không xuống thế cứu chuộc chúng ta, thì chúng ta chỉ đáng giá
như một chút bụi tro...và còn kém cả bụi tro nữa, vì chúng ta
sẽ không có ở trần gian này. Lời linh mục căn dặn chúng ta
trong lễ nghi bỏ tro trên đầu: “Người là bụi tro, người sẽ trở
về tro bụi." Lời này nhắc cho chúng ta “sẽ phải chết và trở về
đất bùn," chờ đợi ngày sống lại hợp với linh hồn bất tử, để
hưởng vinh quang hay bị án phạt đời đời, tùy đời sống lành
thánh hay tội lỗi của mỗi một người trong chúng ta. Ðây là một
chân lý và một thực tại không thể phủ nhận được. Cần phải suy
tư nhiều, cách riêng trong Mùa Chay thánh này, để chân lý và
thực tại này sẽ giúp chúng ta sống lành thánh mỗi ngày mỗi
thêm mãi. Chết là án phạt “Người phải chết, vì người đã không
tuân giữ lề luật của Ta.” Thánh Phaolô nói rõ: "Vì tội lỗi, sự
chết vào trong thế gian". Mọi người, lớn bé già trẻ, giầu
sang, nghèo hèn, quyền chức hay bạch đinh, có tín ngưỡng hay
vô thần... đều phải chết và chết có một lần mà thôi và không
biết khi nào phải chết. Các tiến bộ khoa học, cách riêng trong
lãnh vực y khoa, tìm mọi cách để kéo dài sự sống, nhưng chưa
khám phá được môn thuốc nào chữa khỏi chết và sẽ không bao giờ
khám phá được, vì đây là án phạt của tội lỗi: “Ngươi phải
chết.”
Nhìn
thẳng vào thực tại này, chúng ta, người có đức tin, không thể
và không được phép buồn sầu, trái lại vui mừng.
Chúng ta bởi
Thiên Chúa mà đến trong thế gian này. Một ngày nào đó, chúng
ta trở về với Người, chỉ vì tình yêu thương và tha thứ, chứ
không vì công nghiệp nào cả của chúng ta. Nếu Người yêu thương
chúng ta vô cùng, chúng ta không phải sợ hãi chi. “Nếu Chúa
tôi chấp tội, thì nào ai có thể cứu rỗi được?”
Lễ nghi bỏ tro
trên đầu nhắc nhở: chúng ta phải chết: “Người là bụi trọ,
người sẽ trở về tro bụi.” Tại sao chúng ta cố tình quên đi
chân lý và thực tại này? Chúng ta đừng sống như người cự phú
Chúa nhắc trong Phúc Âm. Ông ta tính toán tích trữ của cải để
hưởng cuộc đời. Nhưng Chúa phán: “Vậy hỡi người khờ dại, đêm
nay Chúa gọi người về, thì ích lợi gì những tính toán của
người?" Chúng ta được gọi sống cuộc sống vĩnh cửu. Cuộc sống ở
trần gian chỉ là tạm bợ, với biết bao khổ cực, đau đớn, bệnh
tật: “Người phải đổ mồ hôi, bới đất nhặt cỏ, mới kiếm được của
ăn.” Ðây là số phận con người sống ở trần gian, đây là án phạt,
sau khi ông bà nguyên tổ lỗi luật Thiên Chúa. Nghĩ đến cuộc
sống vĩnh cửu, chúng ta can đảm lãnh nhận mọi vất vả, hy sinh
của cuộc đời, để lập công: “Per Crucem ad Lucem.” (nhờ Thánh
giá để tiến đến ánh sáng muôn đời).
Mùa Chay thánh
là thời gian chuẩn bị việc cử hành Mầu nhiệm Phục sinh. Lễ
nghi bỏ tro trên đầu nhắc lại cho chúng ta rằng: một ngày nào
đó, xa hay gần, chúng ta cũng qua sự chết, để được phục sinh
với Chúa trong vinh quang. Muốn được hưởng vinh quang, cần
phải đi trên con đường Thánh giá, con đường Chúa Giêsu đã đi
và đây là con đường duy nhất dẫn đưa đến cuộc sống vĩnh cửu.
Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã đề nghị với các thanh niên
“con đường duy nhất này,” trong sứ điệp ngài gửi để chuẩn bị
Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ XVI , được cử hành cấp giáo
phận, vào Chúa nhật Lễ Lá.
Lễ nghi bỏ tro
trên đầu biểu lộ sự trở lại của mỗi một người trong chúng ta.
Bỏ tro trên đầu, linh mục có thể đọc “Ngươi là tro bụi, và
ngươi sẽ trở lại bụi tro," hoặc lời này: "Hãy sám hối và tin
vào Tin Mừng". Chính Thiên Chúa kêu gọi chúng ta trở về với
Người: "Hãy tận tình trở về với Ta." ( ( Joel 2, 12 ). Tội lỗi
không phải chỉ là một việc lỗi lề luật Thiên Chúa hay Giáo hội,
nhưng còn là một vết thương gây hại cho mối quan hệ tình yêu
giữa Thiên Chúa và con người. Trong Mùa Chay thánh, mỗi người
trong chúng ta hãy công nhận mình là người con hoang đàng, bỏ
nhà ra đi, sống một đời lãng mạn, nay bị túng cực, đói khổ: "Tôi
đã phạm đến Trời và đến Cha tôi". Và với sự thống hối này,
quyết tâm trở về nhà Cha: “Tôi sẽ trở về nhà Cha tôi, nơi có
dư dật mọi sự. Tôi sẽ thú nhận với Cha tôi: con đã phạm đến
Cha. Xin Cha tha thứ." ( Lc 15,14-24 ).
Sau cùng, sự
nghiêm khắc của lễ nghi bỏ tro mời gọi chúng ta tiến đến niềm
an vui của tha thứ, của việc trở lại nhà Cha. Chúng ta phải
nhìn vào Thiên Chúa và tin vào tình yêu thương của Người, hơn
là nhìn lại quá khứ của tội lỗi. Chúng ta phải nhìn vào những
sự kỳ diệu của ơn thánh Chúa hoạt động và biến đổi tâm hồn
chúng ta hơn là khóc lóc tội lỗi xưa kia. Chúng ta hãy nhìn
vào cử chỉ âu yếm của người Cha khi thấy con phung phá trở về
nhà, hơn là nghĩ đến cuộc sống hoang đàng của chúng ta trước
đây.
Dó đó, lễ nghi
lãnh nhận chút tro trên đầu là một bước tiến đến tình yêu và
tín nhiệm. Dĩ nhiên chúng ta thú nhận tội lỗi chúng ta, nhưng
chúng ta còn ca ngợi hơn nữa lòng thương xót của Chúa. Và
chúng ta hãy hát lên lời Thánh vịnh sau đây:
“Lạy Chúa, xin
thương xót con vì tình yêu thương và lòng nhân hậu của Chúa.
Xin xóa sạch mọi tội lỗi con, để linh hồn con trở nên trắng
như tuyết.”
( TV 50, 1 )
www.catholic.org.tw/vntaiwan
Trở
về mục lục >>
¶
TẠI SAO HỌ
KHÔNG ĂN CHAY?
Lm Mark Link
Ngày xưa người
Ai Cập thường ăn chay để được trẻ trung hơn; người Hy Lạp ăn
chay để tinh thần được linh lợi hơn; người thổ dân Nam Mỹ ăn
chay để biểu lộ lòng can đảm. Các nghệ sĩ vẽ tượng thánh người
Nga thường ăn chay để vẽ cho đẹp hơn. Những sự kiện lý thú
này cũng như nhiều sự kiện khác nữa được tìm thấy trong quyển
sách hấp dẫn của Bác sĩ Allan Cott nhan đề: "Chay Tịnh:
Phương Pháp Kiêng Cử Đích Thực" (Pasting: The Ultimate
Diet.)
Tờ bìa của
quyển sách được mọi người ưa thích này có ghi "Ăn chay có thể
giúp chúng ta cảm thấy khoẻ mạnh hơn về mặt thể lý cũng như về
mặt tâm linh. Thật thế, trái với mọi người thường lầm tưởng,
đối với những người trưởng thành, việc ăn chay trong một thời
gian dài cũng không làm hại cho sức khoẻ của họ. Ngược lại,
ăn chay đem cho họ nhiều lợi ích. Bác Sĩ Cott kể ra hai trường
hợp thú vị để minh hoạ điều ông nói: Những người lính Nhật ẩn
náu trong vùng rừng núi Philippines hơn 30 năm sau thế chiến
thứ 2 vì không muốn đầu hàng đồng minh, vẫn khoẻ mạnh hơn
nhiều so với các chiến hữu của họ đã trở về nhà sinh sống. Và
dân chúng Anh quốc trong thời kỳ thực phẩm khan hiếm suốt thế
chiến thứ 2 phải ăn theo khẩu phần thế mà vẫn trông thật tráng
kiện. Khi chế độ khẩu phần chấm dứt thì tình trạng sức khoẻ
trong nước bắt đầu tồi tệ và những bệnh tật hầu như không thấy
xuất hiện trong thời kỳ ăn theo khẩu phần nay bắt đầu lộ diện.
Bác sĩ Charler Goodrich cho rằng trở ngại chính khiến ngày hôm
nay người ta không làm được gì hết. Nỗi sợ này, theo ông, nằm
sâu trong mỗi người chúng ta.
**************
Ngoài việc ăn
chay vì những lý do tự nhiên như để trẻ trung hơn, khỏe mạnh
hơn và để biểu lộ lòng can đảm--người xưa còn ăn chay vì những
lý do về tâm linh nữa. Hầu hết mọi tôn giáo trên thế giới đều
tán dương việc ăn chay. Truyền thuyết kể rằng Đức Phật vì ăn
chay nhịn đói nên đã gầy guộc đến nỗi khi hóp bụng lại, ngài
có thể chạm vào xương sống của mình. Bắt chước Chúa Giêsu ăn
chay 40 ngày trong sa mac, các Kitô hữu sơ khai cũng ăn chay
để ăn năn tội và cầu xin sự trợ giúp đặc biệt của Chúa. Dân
Do Thái ngày xưa cũng ăn chay vì những lý do tương tự: để ăn
năn tội, để biểu lộ lòng thương tiếc kẻ chết, để chuẩn bị và
hối thúc Đấng Mesia và Nước Chúa đến. Vì thế chúng ta không
ngạc nhiên khi thấy người ta tranh luận sôi nổi về vấn đề ăn
chay trong bài Phúc Âm hôm nay. Bài Phúc Âm không kể rõ lý do
các môn đệ thánh Gioan tẩy giả ăn chay nhưng có lẽ họ làm thế
là để chuẩn bị cho việc Đấng Mesia và Nước Thiên Chúa sắp đến.
Thực thế, thánh Gioan tẩy giả đã báo cho các môn đệ ngài một
điều vĩ đại đang xảy ra. Điều này giải thích được câu trả lời
của Chúa Giêsu khi Ngài nói: “điều trọng đại đang xảy ra. Đấng
Mêsia đã đến, vương quốc đang cận kề. Lý do ăn chay giờ đây
không còn giá trị nữa.” Bây giờ mà vẫn ăn chay thì khác nào
tiếp tục băng bó cánh tay sau khi nó đã lành hẳn rồi, khác nào
tiếp tục che dù sau khi cơn mưa đã tạnh!
Điều trên đây
nêu cho chúng ta một điểm quan trọng: việc sống đạo của chúng
ta đôi khi giống hệt lối sống đạo của dân Do Thái ngày xưa.
Họ ăn chay là để chuẩn bị chờ đón Đấng Mêsia và nước Thiên
Chúa đến, thế mà khi Đấng Mêsia và Nước Chúa đến, họ vẫn cứ
tiếp tục ăn chay. Có lẽ vì đã có thói quen ăn chay quá lâu,
nên họ quên mất lý do đầu tiên của việc ăn chay, để rồi việc
ăn chay giờ đây chỉ còn là một thói quen máy móc.
Các nhà tâm lý
cảnh giác chúng ta đừng để thói quen và tập quán chế ngự một
số lãnh vực trong đời sống chúng ta. Thực ra, thói quen vô
cùng hữu ích cho chúng ta trong một số lãnh vực nhưng đồng
thời cũng có thể gây tác hại trong một số lãnh vực khác.
Tôn giáo là một
lãnh vực cần đến thói quen, chẳng hạn thói quen cầu nguyện mỗi
ngày thực vô cùng ích lợi. Tuy nhiên trong một số lãnh vực
khác, thói quen lại gây tác hại, chẳng hạn vịêc nhúng tay nước
thánh và làm dấu thánh giá khi bước vào giáo đường có thể trở
nên quá lờn, quá thường đến nỗi chúng ta có thể làm điều đó mà
chẳng suy nghĩ gì. Chúng ta trở nên quá máy móc đến nỗi không
còn nhớ đến ý nghĩa của việc chúng ta làm nữa.
Chúng ta có thể
trở nên giống đám dân Do Thái thời Chúa Giêsu. Họ đã không
nhận ra lý do khiến họ ăn chay nữa. Cũng vậy, chúng ta có thể
không còn nhận ra lý do tại sao chúng ta dùng nước thánh làm
dấu thánh giá khi chúng ta bước vào nhà thờ. Vì thế, thỉnh
thoảng chúng ta cần hồi tâm suy nghĩ lại. Chúng ta cần nhớ
lại lý do chúng ta dùng nước thánh làm dấu "Nhân danh Cha và
Con và Thánh Thần." Điều này nhắc ta nhớ lại ngày ta được rửa
tội bằng nước với lời đọc "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần."
Vì thế dùng nước làm dấu thánh giá trên mình nhằm giúp chúng
ta ý thức lại Bí tích rửa tội của chúng ta
Chúng ta biết
rằng thói quen và tập quán rất hữu ích trong một số lãnh vực
thuộc đời sống tôn giáo của chúng ta. Tuy nhiên nếu chúng ta
không cành giác, chúng sẽ trở nên vô cùng tác hại. Chẳng hạn
chúng ta có thể thực hành một số hành vi tôn giáo cách máy móc
đến nỗi làm mà không nghĩ gì hết, chúng không còn ý nghĩa gì
đối với chúng ta nữa hết; Khi đó chúng ta sẽ bị rơi vào tình
trạng nguy hiểm giống như đám người Do Thái trong bài Phúc Âm
hôm nay. Họ đã quên mất lý do ăn chay của họ. Họ đã quên mất
rằng đó chỉ là dấu hiệu cho thấy lòng khao khát chuẩn bị đón
chờ Đấng Mesia và nước Thiên Chúa đến.
********************
“Lạy Chúa
xin đừng để chúng con cầu nguyện và thực hành các nghi thức
tôn giáo một cách máy móc theo thói quen. Xin cho mọi lời nói
và nghi thức tôn giáo mà chúng con thực hành được thực sự là
những hành vi thờ phượng có ý thức. Chúng con nguyện xin nhờ
Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen”
Trở về mục lục >>
¶
NGÀY
THẾ GIỚI CẦU NGUYỆN
TRONG ĐỜI SỐNG TÍN HỮU
Lm. Nguyễn Công
Ðoan, S.J.
-
Sáng nay mẹ làm gì?
- Cầu nguyện.
- Bắt đầu từ mấy giờ?
- 4 giờ rưỡi.
- Và sau khi cầu nguyện?
- Chúng tôi tôi tiếp tục cố gắng cầu nguyện qua công việc bằng
cách làm những công việc đó với Chúa Giêsu, vì Chúa Giêsu và
cho Chúa Giêsu. Ðiều này giúp chúng tôi đặt cả trái tim và tâm
hồn mình vào công việc đang làm. Những người đang hấp hối,
những người đang co quắp, những người bệnh tâm thần, những
người bị bỏ rơi, những người không được yêu thương. Họ là Chúa
Giêsu cải trang...
Ðó là những câu Mẹ Têrêxa
trả lời cho một cuộc phỏng vấn đăng trên báo Time, đầu tháng
12/1989. Những câu trả lời vắn tắt, đơn sơ này, nói lên tất cả
cuộc sống cầu nguyện của Mẹ Têrêxa và cũng có thể giúp chúng
ta hiểu biết ý nghĩa và vai trò của đời sống cầu nguyện trong
cuộc sống của mỗi người chúng ta. Ở đây trước hết, chúng ta sẽ
đề cập tới cầu nguyện trong cuộc sống của tất cả mọi người tín
hữu, để rồi từng bước, chúng ta sẽ đi sâu hơn về cầu nguyện,
đặc biệt trong ơn gọi của chúng ta.
Ðể suy nghĩ về ý nghĩa và vai trò của cầu nguyện trong cuộc
sống, tôi xin bắt đầu từ những hình thức, những cử chỉ, những
lời kinh đơn sơ nhất mà chúng ta đã được mẹ dạy cho từ khi
chúng ta mới bập bẹ biết nói. Có lẽ hầu hết chúng ta đều đã
được mẹ dạy cầu nguyện ngay từ khi bập bẹ biết nói. Khi chúng
ta 4, 5 tuổi, mỗi tối thường là mẹ giục chúng ta hay là giúp
chúng ta quỳ gối làm dấu thánh giá, đọc kinh hoặc là nói những
lời vắn tắt mà mẹ dạy cho trước khi đi ngủ. Và khi chúng ta
bắt đầu có trí khôn hơn, chúng ta bắt đầu biết đọc kinh, biết
cầu nguyện chung trong gia đình, thì chúng ta thấy buổi đọc
kinh cầu nguyện trong gia đình bao giờ cũng bắt đầu với cử chỉ
quỳ gối. Rồi làm dấu thánh giá và sau đó, đọc kinh xin ơn Chúa
Thánh Thần, rồi kinh Tin, Cậy, Mến. Ðiều này chúng ta đã làm
từ lúc còn bé cho đến bây giờ, có lẽ mỗi ngày chúng ta vẫn
quen làm như thế. Nhưng không biết có lần nào, chúng ta thật
sự đi sâu vào những cử chỉ, những lời kinh đơn sơ này, đã cảm
mến tất cả cái nội dung và những tâm tình sâu xa mà những cử
chỉ, những lời kinh sơ đẳng này đem đến cho chúng ta hay chưa?
Hôm
nay, ít nhất là một lần, chúng ta thử làm lại những cử chỉ đầu
tiên ấy, đọc những lời kinh cơ bản nhất ấy với tất cả tâm
tình, chậm rãi và hãy đi vào trong những tâm tình mà những cử
chỉ, những lời kinh ấy gợi lên cho chúng ta, và như thế, chúng
ta sẽ hiểu được ý nghĩa của cầu nguyện là gì? Bởi vì, chính
những cử chỉ, những lời kinh ấy, đưa chúng ta vào đời sống cầu
nguyện và diễn tả chính ý nghĩa và nội dung của cầu nguyện
trong đời sống người tín hữu. Ðọc lại trong những hạnh các
thánh tử đạo, tổ tiên của chúng ta, chúng ta hay gặp thấy
những lời thách đố chúa Giêsu: bay thử cầu nguyện xin Chúa xem
Chúa có cứu được bay khỏi tay tao không? Và có lẽ người ngoại
đạo, những người đã bắt đạo, chỉ hiểu cầu nguyện như là một sự
van xin thần thánh làm theo ý mình, thậm chí những hình thức
bùa ngải là những cách người ta muốn sai khiến thần thánh làm
theo ý mình. Nhưng cầu nguyện đối với chúng ta lại mang một ý
nghĩa, một nội dung khác hẳn.
Cử chỉ đầu tiên mà cha mẹ dạy chúng ta hoặc khi vào nhà thờ
chúng ta làm, đó là quỳ gối. Quỳ gối là một cử chỉ tôn kính,
thờ lạy. Chúng ta quỳ gối trước mặt Thiên Chúa là một cử chỉ
để tuyên xưng lòng tin, để tôn vinh uy quyền của Thiên Chúa.
Quỳ gối, tức là chúng ta đã đặt mình trước Ðấng Tối Cao, tự
nhận mình là nhỏ bé, quỳ gối tôn thờ. Vậy thì chỉ một cử chỉ
quỳ gối, chúng ta làm với tất cả ý thức của chúng ta, thì nó
đã đưa chúng ta vào trong ý nghĩa của cầu nguyện rồi. Vì cầu
nguyện trước tiên là đến với Chúa, mà đến với Chúa như một con
người nhỏ bé đến trước Ðấng Toàn Năng. Cử chỉ quỳ gối là một
cách biểu lộ lòng tin, biểu lộ sự nhìn nhận Thiên Chúa là Ðấng
Toàn Năng. Chúng ta quỳ gối tôn thờ Thiên Chúa, nhìn nhận Ngài
là Chúa của chúng ta. Ðó là bước đầu tiên của cầu nguyện. Cầu
nguyện là gặp gỡ với Thiên Chúa, bằng cả tâm hồn và thể xác
chúng ta, bằng cả con người chúng ta. Nhưng có lẽ nhiều khi
chúng ta quỳ gối một cách máy móc, chúng ta quỳ gối vì đã quen
thế thôi, vào nhà thờ thì quỳ gối, đọc kinh thì quỳ gối. Bạn
hãy thử một lần quỳ gối trước mặt Thiên Chúa với tất cả tâm
tình, với tất cả ý thức nhìn nhận mình là ai trước mặt Thiên
Chúa. Nhìn nhận Thiên Chúa là Ðấng cao cả, vượt trên mọi thọ
sinh, là Chúa của chúng ta.
Sau cử chỉ quỳ gối, đó là dấu thánh giá. Chúng ta làm dấu
thánh giá trên mình: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, thì
trước tiên là chúng ta tuyên xưng Ba Ngôi Thiên Chúa, không
phải chỉ một cách trừu tượng, nhưng là tuyên xưng Ba Ngôi
Thiên Chúa trong quan hệ Cứu Chuộc chúng ta. Chúng ta tuyên
xưng Thiên Chúa Cứu Ðộ bằng Mầu Nhiệm thập giá: Cha đã sai Con
Một xuống làm của lễ đền tội cho chúng ta, trên thập giá. Làm
dấu thánh giá, tuyên xưng Ba Ngôi Thiên Chúa, tuyên xưng ơn
cứu độ, tức là chúng ta khẳng định mình thuộc về Ba Ngôi nhờ
ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã thực hiện bằng thập giá của Ðức
Kitô. Toàn thể con người: trí khôn , con tim và toàn thân. Khi
chúng ta làm dấu trên trán, trên ngực và trên hai vai thì hai
vai là tượng trưng cho cả con người, vầng trán tượng trưng cho
trí tuệ, lòng ngực là con tim. Chúng ta thấy ý nghĩa tượng
trưng này khi chúng ta nói "gánh nặng đè trên hai vai". Không
phải chỉ trên hai vai mà trên cả con người. Và khi chúng ta
gặp lại người bạn thân, chúng ta vỗ vai, chúng ta nắm hai vai
của bạn mà mừng rỡ, hay khi chúng ta giận dữ, chúng ta cũng có
thể có khi nắm hai vai người bạn mà lay. Vậy thì hai vai cũng
là tượng trưng cho cả con người. Làm dấu thánh giá trên trán,
trên ngực và trên hai vai, đó là ghi dấu thánh giá của ơn cứu
độ trên con người của mình, tuyên xưng rằng mình thuộc về Ba
Ngôi Thiên Chúa, mình được cứu độ nhờ Mầu Nhiệm thập giá, và
đồng thời cũng nhìn nhận là mình sống dưới cờ thập giá. Mình
nhận lấy thập giá của mình để đi đằng sau Chúa Giêsu, cùng vác
thập giá với Chúa Giêsu, đón nhận cuộc sống của mình như một
cuộc tham dự vào Mầu Nhiệm thập giá của Chúa Giêsu.
Như vậy các bạn thấy cử chỉ đầu tiên của buổi đọc kinh, cầu
nguyện của chúng ta gói ghém tất cả ý nghĩa của cầu nguyện.
Cầu nguyện là thời gian chúng ta dành riêng để sống mối quan
hệ của mình với Thiên Chúa. Tuy rằng chúng ta vẫn tin có Chúa,
nhưng phải có thời gian dành riêng để sống mối quan hệ ấy. Ðó
là thân phận con người. Chúng ta không thể nào sống tất cả mọi
mối quan hệ một lúc, dù khi sống một cách ý thức đầy đủ, thì
không nhất thiết chúng ta phủ nhận quan hệ khác, nhưng mà nhất
thiết phải có thời gian dành riêng, phải có thì mạnh cho mỗi
mối quan hệ. Ngay cả khi những quan hệ ấy bổ sung lẫn cho
nhau. Chẳng hạn cha mẹ cùng yêu thương nâng niu một đứa con,
đứa con làm cho hai vợ chồng gần nhau hơn, nhưng mà vẫn có lúc
dỗ cho con ngủ để vợ chồng có thời giờ sống riêng với nhau. Vợ
chồng có thể cùng ẵm con đi thăm một người bạn, nhưng trong
lúc gặp bạn cũng phải bắt con ngồi yên để bố mẹ nói chuyện,
hay để cho con ra ngoài chạy chơi, dù cho lúc ấy không phải từ
chối con, lúc ấy là thời gian dành riêng để nói chuyện với
người bạn, là cái thì mạnh để sống mối quan hệ với người bạn.
Giờ cầu nguyện là thời gian dành riêng để sống ý thức mối quan
hệ với Chúa. Ðiều này cần thiết trong đời sống chúng ta, cũng
giống như khi chúng ta còn bé mới bập bẹ biết nói, mẹ dạy
chúng ta nhận ra ông, bà, chú, bác, bằng cách dạy ta khoanh
tay lại: Ạ ông đi con, ạ bà đi con, ạ bác đi con. Những cử chỉ
ngây thơ ấy là bước đầu để dạy cho chúng ta quan hệ gia đình,
quan hệ xã hội, quan hệ với người khác. Ngày tết, chúng ta đi
mừng tuổi ông bà, chú bác, cô dì; con dâu mới, con rể mới đi
nhận họ. Rồi ngày giỗ, con cháu tụ họp đọc kinh, ăn giỗ. Ðám
cưới thì người ta mời bà con họ hàng nội ngoại. Tất cả những
sinh hoạt gia đình, xã hội đó, nhằm duy trì nuôi dưỡng mối
quan hệ gia đình, mặc dù quan hệ huyết nhục nằm ở trong huyết
quản của chúng ta vẫn còn đó. Nhưng mà con người vẫn bị chi
phối bởi quy luật: xa mặt cách lòng. Không có những sự gặp gỡ
thì cũng sớm quên nhau. Giữa con người với con người: thấy
được nhau, nghe được nhau, sờ được nhau, mà còn cần có những
thời giờ dành riêng cho từng mối quan hệ, thì đối với Thiên
Chúa, Ðấng mà ta không thấy được, không nghe được, không sờ
được, ta lại càng cần phải có thời giờ mỗi ngày dành riêng để
nuôi sống mối quan hệ này, mà ta đón nhận bằng lòng Tin, Cậy,
Mến mà thôi, mặc dù có Thánh Thần ở trong ta, khác nào dòng
máu của Thiên Chúa để cho ta làm con Thiên Chúa, mang sự sống
của Thiên Chúa trong mình ta. Cũng vì vậy mà ta thấy rằng
những cử chỉ mở đầu đã đặt ta vào chính ý nghĩa sâu xa nhất
của cầu nguyện, đó là nhìn nhận và thờ lạy Thiên Chúa, nhìn
nhận mối quan hệ này với Ba Ngôi Thiên Chúa và tham dự vào
cuộc sống của Ba Ngôi. Nhìn nhận mình được cứu chuộc nhờ Thập
Giá và sẵn sàng sống dưới cờ thập giá, tham dự vào Mầu Nhiệm
thập giá của Ðức Kitô để cùng với Ngài làm con Thiên Chúa, để
cùng với Ngài sống Mầu Nhiệm Phục Sinh, sống đời sống mới.
Tất cả quan hệ của ta với Chúa thâu tóm trong dấu Thánh Giá.
Ta là con của Chúa Cha, ta tham dự vào Mầu Nhiệm chết và sống
lại của Chúa Giêsu và ta sống nhờ Thánh Thần. Khi còn bé và có
khi cả lúc đã lớn, chúng ta sướng biết bao được ngồi trong
lòng cha, trong lòng mẹ. Có khi chúng ta chẳng cần nói gì cả
mà ngồi yên nép vào lòng mẹ, để cảm thấy cái êm đềm của lòng
mẹ, cái hạnh phúc có cha, có mẹ. Có lần tôi đã thấy một bé gái
chừng 10 tuổi theo mẹ lên thăm cha ở trại cải tạo. Cha mẹ ngồi
đối diện nhau, hai bên bàn, còn cô bé thì được tự do hơn, cứ
đứng sau lưng cha, hai tay ôm ngang cổ cha, nép vào cha, cô bé
cứ hưởng cái hạnh phúc được ôm lấy cha thế thôi. Giờ cầu
nguyện là để ta đích thân sống trước mặt Cha cùng với Chúa
Giêsu và nhờ sự dạy dỗ của Thánh Thần. Ta hãy hưởng cái hạnh
phúc đó. Chính hạnh phúc này sẽ là sức mạnh cho ta trong những
giờ khác, trong cuộc sống mỗi ngày. Cũng như đứa bé được mẹ
dẫn đến cổng trường, mẹ hôn âu yếm trước khi để con vào lớp,
thì đứa bé ấy sẽ luôn sống xứng đáng để khi mẹ tới đón, lại
được mẹ ôm vào lòng, hoặc nó có té đau, nó có làm dơ quần áo,
thì nó vẫn tin tưởng rằng lát nữa mẹ sẽ đón về, mẹ sẽ làm dịu
nỗi đau, mẹ sẽ giặt sạch áo quần. Chính vì thế mà ta thường
thấy những trẻ em được cha mẹ yêu thương, tỏ ra hồn nhiên, bạo
dạn hơn.
Những bài kinh tiếp theo dấu Thánh Giá giúp chúng ta phát
triển nội dung của quan hệ với Chúa Ba Ngôi và những tâm tình
mà ta phải sống với Chúa, những tâm tình cơ bản nhất. Kinh đầu
tiên ta đọc là Cầu xin Chúa Thánh Thần. Tại sao lại phải xin
ơn Thánh Thần khi bước vào cầu nguyện? Chúng ta đã biết rằng,
chỉ có nhờ Thánh Thần, ta mới có thể gọi Thiên Chúa là Cha -
Ábba: nếu mà dám dịch cho sát có thể gọi Thiên Chúa là "Ba" -
Ábba là tiếng mà trẻ con Dothái ngày nay gọi cha, cũng như
chúng ta gọi ba, và cũng chỉ nhờ Thánh Thần chúng ta mới có
thể tuyên xưng Ðức Giêsu là Chúa. Cũng chỉ nhờ Thánh Thần
chúng ta mới biết cầu nguyện thế nào cho phải. Thánh Phaolô đã
dạy chúng ta những điều ấy trong thư gửi tín hữu Rôma ở chương
8, câu 14-15 nói về Thánh Thần dạy chúng ta kêu Thiên Chúa là
Cha và câu 26-27 nói về Thánh Thần cầu thay nguyện giúp cho
chúng ta. Thánh Thần dạy cho chúng ta cầu nguyện. Và cũng ở
chương 8 này, thánh Phaolô nói rằng Thánh Thần dẫn dắt chúng
ta sống làm con Thiên Chúa. Vậy thì trong mọi việc, chúng ta
phải biết xin ơn Thánh Thần đề biết sống đúng tư cách làm con
cái Thiên Chúa. Ðặc biệt trong cầu nguyện chúng ta sống triệt
để cái ý thức làm con của mình đối với Chúa, đặc biệt là quan
hệ của con đối với Cha. Nhờ Thánh Thần, ta mới có thể gọi
Thiên Chúa là Cha như Chúa Giêsu, và với Chúa Giêsu. Vì ta là
con Thiên Chúa trong mức độ ta được ở trong Chúa Giêsu, là con
trong người Con, như thánh Phaolô nói. Trong Phúc Âm theo
thánh Luca, ở chương 10,21 chúng ta thấy chính Chúa Giêsu cũng
đã thân thưa với Cha theo tác động của Chúa Thánh Thần. Chúng
ta biết Chúa Thánh Thần trong Chúa Giêsu. Và trong tất cả
những tác động đó có chính việc cầu nguyện của Chúa Giêsu.
Chính khi Chúa Giêsu cảm thấy vui mừng được Thánh Thần thúc
đẩy, Chúa Giêsu thân thưa với Chúa Cha những lời êm đềm nhất:
"Lạy Cha, con ngợi khen Cha..." Truyền thống của Giáo Hội đã
dạy chúng ta đọc kinh xin ơn Chúa Thánh Thần trước giờ cầu
nguyện và trước các công việc làm hằng ngày, bởi vì Thánh Thần
dạy chúng ta cầu nguyện, Thánh Thần cầu nguyện trong chúng ta
và Thánh Thần dẫn dắt chúng ta sống làm con Thiên Chúa.
Tiếp theo là kinh Tin Cậy Mến. Khi chúng ta gặp một người, thì
người đó ở trước mặt chúng ta, khi chúng ta nhớ đến một người,
thì người đó hiện ra trong tâm trí chúng ta cùng với tình cảm
của chúng ta đối với người ấy. Nhưng khi chúng ta đến trước
mặt Thiên Chúa, thì con mắt chúng ta không thấy Chúa, tâm trí
chúng ta cũng rất mơ hồ. Do đó, cần phải đem cả tâm trí mà đón
nhận sự hiện diện của Thiên Chúa bằng một lòng tin, một lòng
tuyên xưng lòng tin với tất cả tâm tình, để có thể hoàn toàn ý
thức rằng ta đang ở với Chúa, ở trước mặt Chúa, ở trong lòng
Chúa. Ta được Chúa yêu thương đến nỗi ban Con một của Ngài để
ta được gọi Ngài là Cha và thân thưa với Ngài như con với Cha,
ta gieo mình vào lòng Cha, thấy mình được ngồi trong lòng Cha
với Chúa Giêsu thì những tâm tình tiếp theo sẽ trào dâng. Ta
khao khát được ở trong lòng Cha và ta tin tưởng hoàn toàn Tình
yêu của Cha. Chính Tình Yêu ấy sẽ giữ ta, để ta được ở trong
lòng Cha bây giờ và mãi mãi. Ở trong lòng Cha, cảm nhận Tình
Yêu của Cha, ta sẽ thấy lòng mình tràn đầy một tâm tình yêu
mến Cha, đồng thời ta sẽ nhìn mọi người như con của Cha và
muốn chia với mọi người Tình Yêu như Cha yêu thương ta. Có bao
giờ bạn để ý hình ảnh một em nhỏ, khi mẹ đi xa về, ôm đứa nhỏ
hơn của nó vào lòng. Thế là, lát sau, trong cái êm đềm của
lòng mẹ, nó lại quay sang cùng với mẹ mà nựng em nó. Lúc ấy,
nó thương em nó hơn bao giờ bởi vì lúc ấy nó cảm thấy được mẹ
thương, mẹ thương nó, mẹ thương em nó, và nó càng thương em nó
hơn. Tình Yêu thật bao giờ cũng tỏa ra như hơi nóng sưởi ấm
chung quanh. Chính vì thế mà cầu nguyện, khi đưa chúng ta vào
trong lòng Thiên Chúa, khi cho chúng ta một thời gian để sống
tuyệt đối lòng Tin Cậy Mến, như đứa bé được ngồi trong lòng
cha, trong lòng mẹ, để cảm mến tất cả cái êm ái ngọt ngào của
một đức con có cha có mẹ, được cha được mẹ yêu thương, thì
chính cái tình thương ấy khi tràn ngập lòng chúng ta sẽ cuốn
chúng ta theo mà tràn tới anh em. Nước mắt chảy xuôi là như
thế. Tình yêu từ Thiên Chúa mà đến, tình yêu tràn qua cha mẹ
đến trong chúng ta, sẽ làm cho chúng ta tràn sang tới anh em.
Tình Yêu Thiên Chúa tràn ngập lòng chúng ta cũng sẽ cuốn theo,
mở rộng tâm hồn, cuốn chúng ta đi theo chiều Tình Yêu Thiên
Chúa mà đến với mọi người, mà yêu thương mọi người. Cùng một
trái tim, cùng một Tình Yêu Chúa ban cho ta để yêu mến Chúa và
yêu mến anh em, nên không thể tách rời hai tình yêu này được,
và cũng không thể yêu anh em nếu không yêu Chúa.
Vậy,
bây giờ bạn hãy thử sống những động tác và những lời kinh cơ
bản ấy, thật chậm rãi êm đềm, đừng vội vã, cứ cảm nếm hết
những gì Cha ban cho trước khi chuyển sang động tác tôn thờ
làm cho bạn cảm thấy hạnh phúc êm đềm, làm cho bạn cảm nhận
được sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa, thì bạn cứ ngừng
ở đó, đừng vội chuyển sang động tác khác, hãy nếm hết sự ngọt
ngào của cử chỉ thờ lạy đã. Hoặc nếu chỉ một ý nghĩa của Dấu
Thánh Giá làm cho bạn sung sướng êm đềm, thì bạn hãy cứ hưởng
nỗi vui sướng êm đềm, ánh sáng mà lời tuyên xưng Ba Ngôi Thiên
Chúa, tuyên xưng ơn Cứu Ðộ và đón nhận trên con người của mình
bằng Dấu Thánh Giá: NHÂN DANH CHA - VÀ CON - VÀ THÁNH THẦN,
đặt mình dưới cờ Thánh Giá của Chúa Giêsu, nhận mình được cứu
chuộc nhờ Thập Giá, nhận mình sống dưới bóng Thập Giá, cùng
vác Thập Giá với Chúa Giêsu để cùng được vinh quang với Chúa
Giêsu vì mình đã được Thiên Chúa yêu thương. Bạn hãy thử một
lần, chậm rãi, cảm nghiệm tất cả ý nghĩa sự an ủi, hạnh phúc,
ánh sáng, do những cử chỉ, những lời kinh đơn sơ chúng ta đã
học từ thuở nhỏ, đã đọc mỗi ngày. Bạn hãy thử một lần, rồi bạn
cũng sẽ thấy được, bạn sẽ hiểu được thế nào là cầu nguyện, và
bạn cũng sẽ nhận ra cầu nguyện cần thiết trong cuộc sống của
bạn như thế nào”
Trở về mục lục >>
¶
Đỗ Trân Duy
Nhận
Xét Trên Thực Tế Về Đọc Kinh
Đa số
chúng ta tin rằng đọc kinh tức là cầu nguyện. Điều này chỉ
đúng khi ta ý thức mình đang cầu nguyện chứ không phải đang
“đọc lời” kinh. Tuy vậy ý thức mình đang cầu nguyện đòi hỏi
một trình độ, nó không đơn giản chút nào. Tôi xin phép quan
sát một số dạng đọc kinh tiêu biểu.
Có lẽ đa số chúng ta không quen giữ tâm an trú
trong tĩnh lặng. Chúng ta cần kinh nguyện lấp đầy khoảng trống
để khỏi suy nghĩ. Trong nhà thờ, trước thánh lễ, cả cộng đoàn
chia bè đọc kinh. Hầu như mọi người chỉ để ý đến lối đọc ngân
nga còn nội dung của kinh không phải là chủ điểm. Trong kinh
có câu “Lạy Chúa tôi, tôi sấp mình trước mặt Chúa tôi” nhưng
mọi người vẫn đứng hoặc ngồi. Lại có câu “Để nước mắt thống
hối làm của ăn đêm ngày cho con..” lời kinh thật thắm thiết,
nhưng có vẻ không phải như vậy. Nhiều lần mọi người đang lần
chuỗi thì bị một ông “chức sắc” át giọng để đọc “lịch trong
tuần”. Vài bà vớt vát đọc hết kinh Kính Mừng dở dang, âm thanh
lịm dần rồi cũng im. Có khi cộng đoàn đọc hết kinh mà “cụ” vẫn
chưa “ra”, mọi người chuyển qua đọc sách bổn. Chẳng hạn “Đạo
Đức Chúa Trời có 10 điều răn. Thứ nhất…” hay “Hội Thánh có 6
điều răn. Thứ nhất…” Đối với cá nhân tôi cũng vậy, bà nội tôi
vừa quét sân vừa đọc kinh. Khi có con gà chạy ngang qua, cụ
ngừng chổi quát đôi câu rồi lại đọc tiếp. Mỗi lần ăn cơm, ông
nội tôi đọc kinh “Lạy Cha”. Cụ đọc một mình lầm rầm trong
miệng, đến mấy chữ cuối thì cụ la to “…cho khỏi sự dữ”. Cả nhà
chỉ chờ thế là đồng loạt hô lên: “Amen”. Với tính chuộng đọc
kinh, chúng ta tìm ra đủ loại kinh để thích ứng cho mọi hoàn
cảnh, chả cần mất công tìm lời cầu nguyện.
Tinh thần đọc kinh là cầu nguyện còn thể hiện
trong sự giáo dục. Chúng ta ưa khuyến khích con em học thuộc
kinh hơn là hướng dẫn chúng cầu nguyện. Nhiều kinh chúng chẳng
hiểu, chúng tụng kinh như cách trả bài học thuộc lòng, một
phản xạ của trí nhớ. Một nhà tâm lý học cho biết trong một
“ca” bệnh lý của ông có một chú bé. Cậu này không thể đọc kinh
“Lạy Cha” vì mỗi lần đọc chữ “cha” là cậu nghĩ đến người cha
bạo hành của mình. Không ngờ tâm lý trẻ thơ lại có sự khủng
hoảng sai lạc đến vậy. Điều đó chưa bao giờ được người lớn
thẩm xét một cách nghiêm chỉnh. Nhiều bậc “bề trên” nghiêm
chỉnh dùng kinh nguyện làm phương cách cải huấn tâm hồn. Khi
một kẻ “bề dưới” phạm lỗi, bậc bề trên bắt sám hối bằng cách
đọc một chuỗi kinh. Đôi khi còn phải quì gối mà lần chuỗi. Vô
tình kinh nguyện trở thành một khổ hình. Công Giáo chúng ta có
truyền thống sau khi xưng tội “phải” đọc một số kinh, gọi là
“việc đền tội”. Ý niệm này ít hay nhiều đã tạo ra tâm trạng
đọc kinh là một án phạt. Tâm lý chung không ai thích bị phạt
nặng, cho nên chúng ta thích gặp cha “dễ”, để khỏi “bị” đọc
kinh nhiều. Nếu không ý thức tội được tha không phải do việc
trao đổi một số kinh mà có, chúng ta đã hiểu sai ơn tha tội.
Nền tảng kinh nguyện dựa vào cảm xúc lo lắng hơn
là tôn thờ Thiên Chúa. Chúng ta có khuynh hướng cầu với các
thánh, nhiều hơn với Thiên Chúa, để xin phúc lợi . Những sinh
hoạt thu hút hằng chục ngàn người là những cuộc hành hương Đức
Mẹ, đại hội Thánh Mẫu, và viếng linh địa của các thánh. Kinh
cầu các thánh Martin, Vinh Sơn, Jude, cha Trương Bửu Diệp được
truyền đi khắp nơi qua mục rao rặt trên báo chí và trên “Nét”.
Thông thường bản kinh có ghi thêm câu. “Ai đọc kinh này 9 lần
mỗi ngày, 9 ngày liên tiếp sẽ được toại nguyện.” Có khi lại
kèm theo lời hù dọa “Ai không truyền cho người khác đọc sẽ gặp
tai nạn.” Người ta có thể hiểu rằng Kitô hữu chạy tới Đức Mẹ,
tới các thánh vì ai cũng có nhu cầu muốn tránh khỏi tai họa.
Xin đừng có mặc cảm khi cầu nguyện cho nhu cầu này. Nhưng nếu
chỉ vì vậy mà cầu nguyện, tôi e rằng, vô tình chúng ta lại đi
chứng minh cho tư tưởng của những tay tổ chống Chúa như Freud
và Jung. Freud cho rằng tôn giáo chỉ mang đến sự sợ hãi trong
tâm trí con người. Jung nhận định vì đời sống khổ đau nên tôn
giáo mới có cớ phát sinh. Đó lại là những điều mà Giáo Hội phủ
nhận.
Hãy
Nâng Đọc Kinh Lên Tầng Cầu Nguyện
Kinh
là những bài soạn sẵn giúp ta nói ra những lời đúng với giáo
lý của đạo, vì vậy kinh nguyện có giá trị rất lớn. Một số kinh
đặc biệt còn đem lại ơn ân xá cho người tụng. Tuy nhiên nếu
không ý thức “đang cầu nguyện”, ta ngưng đọng ở tầng đọc lời,
kinh trở nên một chuỗi âm thanh vô hồn. Một kinh nếu được lập
đi lập lại nhiều lần hằng ngày có thể trở thành một bài “đọc
lời” máy móc. Lời kinh thốt ra do phản xạ của trí nhớ. Miệng
đọc trơn tru nhưng trí óc vẩn vơ ở nơi khác, ta thường gọi là
tình trạng “lo ra”. Nếu không biết mình đang nói gì, sao gọi
là cầu nguyện. Không những kinh không chuyên chở được tâm
nguyện mà còn vô ân phước. Cầu nguyện là một tên gọi khác của
suy niệm trực tiếp. Khi đọc kinh, ta phải suy niệm trực tiếp
vào điều ta đang nói. Suy niệm là một thành tố không thể thiếu
trong khi đọc kinh. Ý thức này phản ảnh giáo huấn: “Con hãy
thờ phương Thiên Chúa hết mình, hết tâm hồn, hết trí khôn.”
Đức Mẹ cũng khuyên, “Các con đừng chỉ đọc chuỗi Mân Côi, nhưng
hãy cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi với cả trái tim.” Tiến sĩ
Wayne W. Dyer nói, “Cầu nguyện là cuộc tiến hóa tâm linh. Lúc
đó tâm linh ta nối kết với Thần Khí, nhờ đó Thần Khí cho ta
một nguồn sống mới.” Khi có suy niệm, dù ta đọc những kinh
soạn sẵn không hợp với cảnh, dù lời kinh nói “sấp mình xuống”
nhưng ta không thể sấp mình, tất cả không thành vấn đề. Tâm
linh thiêng liêng của ta đã thể hiện tất cả những việc đó. Vì
vậy người bất toại nằm liệt giường, người tù biệt giam vẫn có
thể dự thánh lễ và rước Mình Thánh Chúa một cách thiêng liêng,
dù không có ai viếng thăm. Bởi vì mọi suy niệm đều hiện hữu
thực sự trong thế giới tâm linh.
Cũng có những trường hợp thiếu vắng yếu tố suy
niệm trực tiếp. Chẳng hạn con cháu đọc kinh chung mỗi tối, hay
vào thời giáo dân dự thánh lễ cử hành bằng tiếng Latinh. Lũ
trẻ chả hiểu người lớn tụng cái gì và giáo dân cũng chả hiểu
linh mục đọc cái gì. Không hẹn mà cả Tây lẫn Đông cùng gặp
nhau trong vấn đề này. Pierre Teihart de Chardin, nhà nhân
chủng học Pháp, và Phùng Hữu Lan, vị học giả Trung Hoa, đều
cho rằng: bất cứ cách thế phụng vụ nào hợp với tình cảm của
con người đều có giá trị tôn giáo chân thực. Có thể người cầu
nguyện chưa thấu hiểu lời kinh, nhưng hành vi tôn kính làm
trọn vẹn cho chính người cầu nguyện. Như vậy giá trị tôn vinh
Thiên Chúa cũng nằm ở tấm lòng biểu lộ sự tôn kính. Dầu vậy,
lòng tôn kính cũng chỉ trở thành cầu nguyện khi ta đồng hóa
với ý thức đang cầu nguyện.
Không
Hề Có Phương Pháp Cầu Nguyện Chung Cho Mọi Người
Chúng
ta có khuynh hướng học cách cầu nguyện của một vị thánh nổi
tiếng cho chắc ăn. Để giúp đại chúng biết cách cầu nguyện, một
số vị có lòng quảng bá những phương thức cầu nguyện của thánh
Inhã, của thánh Bênêđitô… Gần đây nhiều vị khổ công tìm ra con
đường linh đạo của các bậc chân phước. Những đóng góp đó rất
hữu ích, nhưng vẫn có nhiều người cảm thấy chúng vô cảm với
tâm hồn của mình. Giáo sư Shannon tự thú, từ hồi còn là chủng
sinh đến lúc thụ phong linh mục, ông không biết cầu nguyện.
Ông đã theo học các khóa về giáo lý, tư tưởng các thánh, và
tham cứu rất nhiều sách luận về cầu nguyện. Ông vẫn thấy tâm
hồn trống rỗng khi cầu nguyện. Sau nhờ suy niệm câu nói của
thánh Phaolô: “Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho
phải. Chính Chúa Thánh Thần đã cầu khẩn thay cho chúng ta bằng
những lời tha thiết khôn tả.” (Rm 8:26-27), Shannon nghiệm ra
mình đã phí công bao lâu lo tìm phương pháp cầu nguyện. Bởi vì
không hề có phương pháp cầu nguyện nào hoàn toàn đúng cho ông.
Sự thật mỗi thánh đều có lời nguyện riêng hợp với tâm trạng và
ước vọng của họ. Chẳng hạn Đức Mẹ có kinh Ca Ngợi
(Magnificat), thánh Phanxicô có kinh Hòa Bình. Chúng ta khó có
được một tác phẩm tuyệt vời như thế, nhưng chúng ta cũng có
thể tự soạn riêng một bản kinh hợp cho tâm ước của mình.
Cầu nguyện không là đặc ân dành riêng cho những vị
thông thái biết lựa lời, có phương pháp, nhưng cho tất cả mọi
người. Cầu nguyện là trạng thái tự mặc khải , tự chứng, tự
thăng tiến của cá thể. Vì động năng chính là tự thức nên không
bị hạn hẹp vào một kiến thức, một lối nhìn, một phương thức
nào, dù đó là khuôn mẫu cao quí. Không thể có phương pháp cầu
nguyện như một nguyên lý khoa học. Cầu nguyện tự chính nó là
sự khôn ngoan hướng tới siêu việt (Dyer). Cầu nguyện không có
gượng ép, không có hình thức ràng buộc, không có không khí tạo
cảm xúc giả tạo. Cầu nguyện là sự nối kết rất riêng tư trong ý
chí tự do giữa ta và Thiên Chúa của mình. “Tôi biết Thiên Chúa
hiện hữu, tôi tin vào Thiên Chúa, vì vậy tôi cầu nguyện.”
(Giáo Hoàng Gioan Phaolô II). Thật thế, điều quan trọng nhất
của cầu nguyện là ý thức Thiên Chúa đang có mặt. Ngoài ra hãy
để Chúa Thánh Thần chuyển lời cầu nguyện thay cho chúng ta.
Đức
Giêsu Đã Cầu Nguyện Như Thế Nào
Dù có
đào xới Phúc Âm để biết cách suy tư và cầu nguyện của Đức
Giêsu, chúng ta cũng không thể lập lại y như Người. Tuy nhiên
chúng ta có thể nhìn ra khung cảnh cầu nguyện của Người. Khi
Tông Đồ Philíp xin Đức Giêsu cho biết Chúa Cha ở đâu, Người
đáp: “Ngươi không biết Ta ở trong Cha và Cha ở trong ta hay
sao?” (Ga 14:8-10). Như vậy khi Đức Giêsu cầu nguyện, Người
không hướng tới một Đấng ở bên ngoài. Chúa Cha luôn luôn ở
trong tâm hồn của Người, cũng như trong tâm hồn của từng người
chúng ta. Vì vậy Đức Giêsu, cũng như chúng ta, chỉ cần lắng
tâm là có thể cầu nguyện bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Tuy
nhiên Đức Giêsu đã vào sa mạc để tìm một khung cảnh yên tĩnh
để cầu nguyện. Người cũng đã vào đền thờ như về “nhà Cha” (Ga
2:16) để cầu nguyện. Suy từ nơi cầu nguyện ấy, chúng ta rút ra
hai khung cảnh: cầu nguyện trong sa mạc và cầu nguyện trong
đền thờ.
Cầu nguyện
trong sa mạc là cầu nguyện trong tĩnh lặng. Tĩnh lặng cả về
khung cảnh lẫn tâm hồn. Đức Giêsu dậy rằng: “Khi cầu nguyện,
hãy vào phòng, đóng kín cửa lại mà cầu nguyện với Cha ngươi,
là Đấng hiện diện ở nơi ẩn kín” (Mt 6:6). Cầu nguyện trong
tĩnh lặng là phần rất quan trọng cho mọi tôn giáo. Tất cả các
vị thánh đều phải trải qua kinh nghiệm đơn độc trong những
hình thức khác nhau như nhập thất, cấm phòng, tĩnh tâm…để
chuyển hóa tâm linh. Đơn độc là giai đoạn cá nhân thoát khỏi
mọi quyền lực cõi thế, khỏi mọi hình thức lễ nghi. Chân thân
bộc lộ một cách mãnh liệt đức giản dị, khiêm nhường, yêu
thương, và lòng quy thuận vào Thiên Chúa. Lối cầu nguyện này
cần thiết cho mọi tâm linh Kitô hữu. Cầu nguyện trong tĩnh
lặng cũng thường dẫn tới chiêm niệm và thiền định, tức lối cầu
nguyện vượt ra khỏi phương tiện ngôn ngữ.
(xin đọc Thinh
Lặng: Cầu Nguyện Tập Trung, Maranatha số 51).
Cầu
nguyện trong đền thờ là cầu nguyện với cộng đồng. Đức Giêsu
hứa rằng:
“Nơi nào có hai
hay ba người tụ lại vì danh ta, thì Ta ở giữa chúng.”
(Mt 18:20). Ý tưởng cầu nguyện với cộng đồng được biểu lộ
trong bản kinh đầu tiên của Kitô Giáo là kinh “Lạy Cha”. Trong
kinh này chúng ta thấy 2 điểm nói về cộng đồng. Thứ nhất là ý
tưởng vâng Ý Cha. Cầu nguyện là ý thức chúng ta thuộc về Đấng
Cha chung. Đồng thời chúng ta hiểu rằng sống đạo là đời sống
trong cộng đồng. Thứ hai là ý tưởng tha thứ cho nhau. Cầu
nguyện không phải là cầu cho riêng mình mà còn là cầu cho
người khác. Một nghĩa cử nổi tiếng là lời cầu của Abraham với
Thiên Chúa về số phận thành Sôđôm. Abraham mặc cả với Thiên
Chúa về số lượng người tốt lành sống trong thành Sôđôm, để xin
Thiên Chúa đừng phá hủy thành này. Cầu nguyện với người và cho
người là phương cách Thiên Chúa mời gọi chúng ta chia sẻ sự
sáng tạo và yêu thương với Người. Chúng ta cầu nguyện cho nhau
vì chúng ta cần đến nhau. “Chúng Ta” không phải chỉ là những
Kitô hữu đang sống, nhưng gồm cả những người vô tôn giáo và
những người đã qua đời.
Như
vậy những ai có khả năng cầu nguyện trong đơn độc vẫn cần cầu
nguyện với cộng đồng. Trái lại những ai thích dựa vào trợ lực
của cộng đồng, cũng cần phải dám đứng một mình đơn độc với
Thiên Chúa. Khi ta có thể tự đối diện Thiên Chúa để phơi bày
tâm tư, ta đã biểu lộ vinh quang của Người.
Hội Thánh Cầu
Nguyện Như Thế Nào
Chúng ta có thể
học hỏi cách Giáo Hội cầu nguyện qua thánh lễ Misa. Giáo Hội
nắm vững giáo lý dựa trên căn bản thần học: thờ phượng Thiên
Chúa và tôn kính các thánh. Giáo Hội luôn luôn chỉ cầu nguyện
với Thiên Chúa là nguồn duy nhất của mọi ơn, là chân lý tối
thượng của mọi sự. Bao giờ lời cầu nguyện cũng dâng lên Chúa
Cha, qua công nghiệp của Chúa Con, với sự thông hiệp của Chúa
Thánh Thần. Nghĩa là Thiên Chúa có Ba Ngôi, nhưng chỉ có một
Thiên Chúa. Đối với các thánh, Giáo Hội xác nhận họ là môn đồ
của Đức Giêsu, họ “đứng về phía” loài người như “đấng trung
gian” để cầu nguyện hỗ trợ cho loài người. Vì vậy kinh nguyện
các thánh thường có câu tiêu chuẩn mẫu: “qua trung gian thánh…
chúng con xin Chúa..”, hay: “vì công nghiệp của Chúa Giêsu…”
Giáo lý “các thánh là đấng trung gian” được biểu lộ rõ ràng
trong kinh “Kính Mừng” qua câu: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời,
cầu cho chún |