Số 74 Ngày 11-03-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Hội Thánh Mang Nơi Mình Sự Tự Hiến của Thiên Chúa Lm Vũ Xuân Hạnh

Ý Nghĩa Mùa Chay – Sưu Tầm-

Veni, Sancte Spiritus - Lạy Chúa Thánh Thần, Xin Ngự Đến! - Maranatha

Thắc Mắc về Hình Ảnh Thiên Chúa Trong Sách Ngũ Thư - Đỗ Trân Duy

Thánh Giuse: Hình Ảnh về Thiên Chúa là Cha - Đức Gioan Phaolô II

Ơn Khôn Ngoan Nơi Thánh Giuse- Gm. Bùi Tuần

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J

Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D.

Chuyện Cánh Tay -  Trần Duy Nhiên

Một Ly Sữa - Sưu Tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý độc giả,

 

Bài giảng Mùa Chay của cha Nguyễn Văn Đông ngày 4 tháng 3 năm 2001 tại Nhà Thờ Đức Bà Sàigòn đã gây một tiếng vang rất sâu lắng, chẳng những tại Việt Nam, mà còn cả nhiều nơi trên thế giới. Thế nhưng bài giảng của cha không có gì là sâu sắc hay cao siêu cả, cũng chẳng nói gì nhiều về thống hối ăn năn, về tình yêu Thiên Chúa. Cha chỉ kể lại đơn sơ mộc mạc chứng từ của mình qua bao nhiêu năm âm thầm sống giữa những người cùi, người Thượng ở Pleiku.

Về bài giảng này, cha chân tình tâm sự:

- Có lần mình gặp cha tổng đại diện và là cha sở giáo xứ chánh tòa Saigon, và nói với ngài về những cơ cực của người Thượng, đặc biệt là người phong, rồi yêu cầu ngài trình bày với giáo dân ngài ở Saigon để họ thông cảm mà tiếp tay với Pleiku. Cha tổng đại diện nói: “Tôi không nói đâu. Tôi dành cho cha một thánh lễ chúa nhật Mùa Chay, cha hãy xuống Saigon để cử hành thánh lễ và giảng cho giáo dân dưới ấy.” Chúa ôi! Từ trước đến giờ thiếu thốn thì thiếu nhiều rồi, nhưng lên tòa giảng mà xin tiền thì điều này chưa bao giờ nảy ra trong đầu óc mình chứ đừng nói đến việc thực hiện. Nhưng đã phóng lao thì theo lao! Mùa Chay là mùa chia sẻ, mình cũng có thể trình bày một số công việc chia sẻ cụ thể chứ sao. Nghĩ như vậy, nhưng làm thế nào thì cũng chưa biết, mà lòng thì cứ lo lo. Thế là trên đường về Saigon mình đánh vòng lên trại phong Di Linh, đến trước mộ Đức Cha Cassaigne mà trình với ngài:

“Thưa Đức cha, Đức cha là người yêu thương người phong hơn ai hết, Đức cha hiểu họ thiếu gì, họ cần gì. Con phải đi nói với giáo dân Saigon về họ mà không biết nói sao. Xin Đức cha cùng theo con để nói với những giáo dân dưới ấy nhé!” Thế là mình xuống Saigon mà không chuẩn bị trước một bài giảng nào cả… và mình đã nói như thế. Thế rồi cái bài giảng chẳng đâu vào đâu ấy đã khiến giáo dân nhà thờ chánh tòa Saigon đóng góp cho người cùi ở Pleiku một số tiến lớn nhất từ trước đến giờ mình đã đuợc nhận. Rồi sau đó, từ khắp các lục địa lại gửi quà về giúp, thậm chí có nơi còn lập cả một hội để gây quỹ giúp người Thượng ở Pleiku!

Không phải vô cớ mà cha Đông lại chạy đến với Đức cha Cassaigne. Trọn đời của Đức cha là một chuỗi ngày sống và chia sẻ tất cả với người cùi tại Kala để rồi khi nằm xuống, ngài chỉ để lại trên mộ của mình vài chữ ngắn gọn: “JEAN CASSAIGNE. 1895-1973. Caritas et Amor.” “Bác Ái và Tình Yêu.” Đó là phương châm của ngài khi là giám mục, nhưng đó cũng là kim chỉ nam để ngài sống trọn vẹn cuộc đời tận hiến của mình: tận hiến cho Chúa và cho những người con mang bệnh cùi trong mình. Chính ngài đã thiết lập trại cùi Kala ở Di Linh vào ngày lễ thánh Giuse năm 1929, và trong vòng 10 năm ngài là người duy nhất để chăm sóc phần hồn phần xác cho những người Thượng mắc bệnh phong và bị xóm làng gạt bỏ ra ngoài rừng trong tình trạng sống dở chết dở. Mãi đến năm 1938 mới có được 3 Nữ Tử Bác Ái đến tiếp tay với ngài. Năm 1941, ngài buộc phải rời Kala để xuống Saigon thi hành chức vụ Giám mục, rồi 14 năm sau, ngài lại trở về sống với những người con phong hủi của mình từ năm 1955 cho đến khi qua đời năm 1973. Và trong 18 năm chung sống ấy, ngài đã chia sẻ ngay cả bệnh tật của họ để rồi chết đi trong cái đau đớn quằn quại của một người đã nhiễm bệnh phong. Ngày ngài qua đời, người ta thấy kẹp trong cuốn sách Phụng Vụ Giờ Kinh của ngài lời cầu nguyện hằng ngày: Lạy Chúa, là Chúa Trời con, từ bây giờ con bằng lòng và sẵn sàng nhận lãnh bởi tay Chúa cái chết bất cứ cách nào tuỳ theo Thánh ý Chúa, với nỗi bồi hồi, khốn bức và trần phiền đau đớn nữa. Amen.

Đức cha Cassaigne ấy, một con người từ một đất nước xa xôi ở phương Tây, đã đến và ở lại với đất nước nghèo nàn khốn khổ Việt nam. Vị giám mục ấy đã chọn đi theo con đường của  Đức Kitô, Đấng đã yêu và chết cho tình yêu, khi Đức cha trọn vẹn dành cuộc đời tận hiến để đồng hành và chia sẻ cuộc khổ nạn với những khổ đau thân xác và tinh thần của người cùi để rồi đồng cảm với họ đến cùng. Có lần một nữ tu nặng lời với một bệnh nhân vì anh phạm lỗi. Thấy thế, ngài đã trách xơ trước mặt bệnh nhân! Ngày hôm sau, ngài gặp riêng xơ để xin lỗi và tâm sự:  “Hôm qua cha trách con, cốt ý để cho bệnh nhân đừng tủi, mặc dầu con đã làm phải. Cha đến xin con đừng buồn. Chúng ta không thể làm Chúa Giêsu buồn, thì cũng đừng làm cho người cùi buồn. Vì họ là con Chúa, là hình ảnh Chúa Cứu Thế đau khổ trên Thập Giá.” Chúa càng thương ai nhiều thì Ngài càng đòi hỏi nhiều. Đó là điều Đức cha cảm nghiệm và truyền lại cho các nữ tu là những là cánh tay đắc lực của ngài, các xơ Céleste, Josephine và Angélique.

Cách đây hai tuần, ngày 25 tháng 2, Chủ tịch Nước Việt Nam đã lên tận trại cùi Kala mà giờ đây đã đổi tên thành ‘Trung Tâm Điều Trị Phong Di Linh’ để trao tặng danh hiệu ‘anh hùng’ cho một trong ba xơ đó. Ấy là xơ Josephine Mai Thị Mậu, người đã sống 40 năm ơn gọi nữ tu của mình qua hai thế hệ phục vụ người phong, và từng học những bài học tận hiến cụ thể qua 5 năm sống cạnh Đức Cha Cassaigne. Một nữ tu được Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa tặng danh hiệu Anh Hùng, tương đương với những người Cộng Sản sáng chói nhất! Xơ Mậu nhận tước hiệu ‘anh hùng’ như nhận giùm cho một người khác; bởi lẽ trái tim của xơ đã được Chúa Kitô và người cùi chiếm trọn nên không còn chỗ để chất chứa thêm niềm vui của một vị anh hùng! 40 năm của xơ là một hành trình ‘sa mạc’ mà Dân Chúa đã đi qua, mà mỗi ngày là một ngày tận hiến để hướng đến Phục Sinh của mình và của những người mình yêu mến. Sa mạc của xơ chính là một sa mạc nội tâm, nơi mà Chúa tỏ mình ra cho Dân Người rõ nét hơn nơi nào khác!

Trong giờ Kinh Truyền Tin tuần vừa qua, Đức Thánh Cha Bênêditô XVI đã nói như sau về ‘sa mạc’ Mùa Chay:

“ Hình ảnh sa mạc là một ẩn dụ rất hùng biện cho kiếp người. Sách Xuất hành kể lại kinh nghiệm của Dân Israel, sau khi ra khỏi Ai Cập, đã đi trong sa mạc Sinai trong một cuộc hành hương 40 năm, trước khi đặt chân vào miền Đất Hứa. Trong suốt hành trình này, dân Do Thái đã có được cảm nghiệm về sức mạnh và sự bền bỉ của kẻ cám dỗ luôn xúi dục họ đánh mất lòng trông cậy vào Chúa, và đi lùi trở lại. Đồng thời, nhờ những suy gẫm của Môsê, họ đã học được cách lắng nghe lời Chúa kêu gọi họ trở nên dân thánh của Người.

Suy niệm lại trang Kinh Thánh này, chúng ta hiểu rằng muốn thể hiện cuộc sống với trọn vẹn tự do, cần phải vượt qua thử thách của chính cái tự do đó, nghĩa là vượt qua cám dỗ. Chỉ khi nào vượt khỏi tình trạng nô lệ đối với sự dối trá và tội lỗi, thì con người, nhờ đi theo đức tin mình, mới có thể mở lòng đón nhận chân lý, mới tìm ra ý nghĩa của cuộc đời mình, và mới tìm được bình an, tình yêu và niềm vui.”

Cùng với tư tưởng của Đức Thánh Cha, theo bước chân sa mạc của ‘Người Cùi’ Cassaigne và ‘anh hùng’ Joséphine Mậu, Maranatha 74 sẽ nói đến ý nghĩa Mùa Chay với sự tự hiến, với hình ảnh sa mạc, tiếp theo là những bài nói về sự tiến triển tâm linh qua một hình ảnh Thiên Chúa mà chúng ta cần phải tái khám phá hằng ngày. Dĩ nhiên, trong đường hướng của mình, Maranatha tiếp tục loạt bài Linh Đạo và Giáo Dân Cầu Nguyện; thêm vào đó, những bài sưu tầm nho nhỏ gửi đến quý độc giả những tâm tình dễ thương của những con người hướng về Đất Hứa dưới sức mạnh ‘đổi mới’ của Chúa Thánh Thần.

Ngoài ra, ngày 19 tháng 3 cũng là ngày đại lễ Giáo Hội kính nhớ thánh Giuse, một vị thánh suốt đời đi trong sa mạc của im lặng, của chịu đựng, của kết hiệp với Chúa Kitô, vì thế Maranatha cũng gửi đến quí vị vài suy tư về thánh nhân. Đó cũng là cách để mừng lễ rất nhiều độc giả, cộng tác viên, tu sĩ cũng như giáo dân đã chọn thánh Giuse làm quan thầy.

Và trong hành trình sa mạc Mùa Chay năm nay, chúng ta không bao giờ quên rằng cuối sa mạc là Đất Hứa, và là sự hiện diện sáng ngời của Chúa Kitô Phục Sinh, vì thế những ngày này cũng là những ngày để lặp lại trong xác tín và cậy trông: Maranatha, lạy Chúa xin ngự đến!

                                                                      MARANATHA

 

 MÙA CHAY

 


 

HỘI THÁNH MANG NƠI MÌNH SỰ TỰ HIẾN CỦA THIÊN CHÚA

Lm. Vũ Xuân Hạnh

 

Sống mùa Chay là trở về với niềm tin căn bản nhất mà Thiên Chúa luôn luôn mời gọi chúng ta: Trở về với tình yêu của Thiên Chúa. Chính tình yêu ấy, đã làm cho Thiên Chúa, Đấng tác tạo con người, hạ mình hiến thân cho con người. Tình yêu tự hiến vô cùng ấy của Thiên Chúa, cũng chính là đèn soi cho tất cả chúng ta, cho cả Hội Thánh này ngắm nhìn mà tự hiến cho nhau, tự hiến cho thế giới quanh mình. Vì thế, trong mầu nhiệm tự hiến, nổi lên cách rõ ràng hai chiều kích rất quan trọng: Thiên Chúa tự hiến cho con người, để con người biết hiến dâng chính mình cho Thiên Chúa bằng sự tự hiến cho nhau. Sống suốt mùa Chay, chúng ta phải sống cho được hai chiều kích ấy.

Hôm nay, chúng ta phác họa trong phần I (cũng có thể coi đây là bài I) về sự tự hiến của Thiên Chúa. Phần II (hay bài II - trong các số báo kế tiếp), chúng ta bàn về sự đáp trả tình yêu tự hiến của Thiên Chúa nơi Hội Thánh của Người và vai trò của mỗi chúng ta góp phần trong mầu nhiệm tự hiến ấy.

PHẦN I: BA NGÔI TỰ HIẾN CHÍNH MÌNH

Mầu nhiệm tự hiến của Thiên Chúa, đã làm cho Ba Ngôi Thiên Chúa gần gũi đến vô cùng với loài người. Thiên Chúa Ba Ngôi như xóa mọi khoảng cách để “chạy” về phía loài người, để đón nhận họ với tất cả niềm trìu mến của Người. Chúa Cha tự hiến mình khi trao ban chính Người Con Duy Nhất, sinh ra tự lòng mình. Chúa Con tự hiến mình, khi chấp nhận hóa thân làm người, chia sẻ đến cùng cái kiếp nguời mong manh của loài người. Chúa Thánh Thần tự hiến mình trong hy tế của Chúa Con, để thánh hóa loài người, làm cho bất cứ ai tin và đón nhận Chúa Con, sẽ sống và sống mãi. Chúa Thánh Thần tiếp tục tự hiến khi tiếp tục được trao ban đến muôn đời cho trần gian, để thánh hóa trần gian, làm phát sinh hiệu quả cứu chuộc do Chúa Con thực hiện.

Như vậy, chính nơi Chúa Kitô, qua mầu nhiệm cuộc đời của Người, ta học biết sự tự hiến của Thiên Chúa:

1. Trong mầu nhiệm nhập thể:

Cùng với việc Chúa Kitô tự hiến khi nhập thể làm người, Nước Trời đã đến trong trần gian. Mầu nhiệm Hội Thánh được chuẩn bị từ lâu trong Cựu Ước, nay bắt đầu phôi thai. Chính Chúa Kitô sau này sẽ là Trưởng Tử giữa một đàn em đông đúc (Rm 8, 23).

Tự hiến trong nhập thể, Thiên Chúa trở thành Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Hội Thánh là hình ảnh hữu hình của Đấng “hằng ở cùng chúng ta.” Vì thế, nhờ Hội Thánh, mầu nhiệm nhập thể vẫn còn. Rồi từ mầu nhiệm nhập thể, Hội Thánh nhận lấy vinh quang lớn: Mãi mãi Hội Thánh mang nơi mình chiều kích nhập thể của Thiên Chúa. Nhằm chứng minh cho chiều kích nhập thể thay mặt Chúa Kitô của Hội Thánh, Công Đồng nói: “Hội Thánh là triều đại của Chúa Kitô hiện diện một cách huyền nhiệm.” (LG 3).

Nhập thể làm cho lịch sử dân tuyển chọn sang trang. Bởi từ đây, ơn cứu độ không chỉ còn là lời hứa, nhưng đã thành hiện thực. Israel cũ nhường chỗ cho “Israel mới” Israel mới mới là đích đến của lời hứa cứu độ.

2. Trong mầu nhiệm vượt qua.

Tất cả mọi người đều được hưởng nhờ cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô. “Đây là chặng cuối cùng trong sứ mạng Messia của Đức Giêsu” “Có ý nghĩa vô cùng lớn lao là công cuộc cứu độ được mở rộng cho mọi người thuộc mọi thời đại và mọi nơi.” (GLCG 634).

Chính cuộc vượt qua khắc sâu đến vô bờ của tình yêu mà Chúa Kitô đã thực hiện, làm cho giá trị của hành vi tự hiến nơi Thiên Chúa cao ngất, cao đến đỉnh điểm, đến nỗi không còn bất cứ hành vi nào có thể lớn hơn, Thiên Chúa có thể sử dụng để diễn tả tình yêu của Người.

a. Trong mầu nhiệm thánh giá.

Chính nơi mầu nhiệm thánh giá, Hội Thánh chính thức được khai sinh. Bởi trong chiều thứ sáu tuần Thánh, khi lồng ngực của Đầu là chính Đấng Cứu Thế của Hội Thánh bị đâm thủng, chính là lúc Đầu trao ban sức sống cho thân mình. Bởi “sự khai nguyên và phát triển của Hội Thánh được biểu thị bằng máu và nước trào ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Giêsu bị đóng đinh.” (LG 3).

 Thánh giá là tột đỉnh, là lời nói vô giá của tình yêu Thiên Chúa. Bởi đó, thánh giá là chính đỉnh cao, là sự diễn tả lời chung quyết của sự tự hiến của Thiên Chúa dành cho trần gian.

Thiên Chúa đã cưu mang Hội Thánh, giờ đây tận đỉnh điểm của tình yêu, từ thánh giá Chúa Kitô, Người khai sinh Hội Thánh. Mầu nhiệm thánh giá làm cho ơn cứu độ của Hội Thánh có giá trị khôn lường. Nó có sức thần hóa và ban sự sống cho con người. Cũng từ sự tự hiến này, Hội Thánh trở nên cao trọng, vì Hội Thánh đáng giá máu của Chúa Kitô: “Người đã lấy máu mình mà chuộc lấy Hội Thánh.” (LG 9). Ngược lại, trong máu ấy, Hội Thánh trở nên thánh thiện, tinh tuyền: “Nhờ Đức Kitô là con người bằng xương, bằng thịt đã chịu chết, Thiên Chúa cho anh em được hòa giải với Người, để anh em trở nên thánh thiện tinh tuyền và không có gì đáng trách trước mặt Người.” (Cl 1, 22).

b. Trong mầu nhiệm phục sinh.

“Chúa Kitô là Đầu của thân thể, nghĩa là Đầu của Hội Thánh.” (Cl 1, 18). Nếu Đầu đã chết để thân mình được sống, thì Đầu sống lại, mang lại sự sống mới cho thân mình. Từ nay, thân mình được sống trong lòng sự sống của Thiên Chúa. Bởi đó, Thiên Chúa, một khi là Cha của Chúa Kitô, đương nhiên là Cha của Hội Thánh, thân mình Chúa Kitô. Bởi cùng là con, Hội Thánh cùng đồng thừa tự với Chúa Kitô.

Tất cả những khía cạnh tương quan của Hội Thánh đối với Chúa Kitô và Thiên Chúa, đều được thánh Phaolô khám phá và diễn tả phong phhú. Ông không chỉ nhìn thấy Hội Thánh là thân thể mầu nhiệm, mà Hội Thánh còn là hiền thê của Chúa Kitô (2Cr 11, 2).

Hội Thánh là hiền thê, vì thế, Chúa Kitô cũng là vị hôn phu của Hội Thánh. Bởi vậy, khi phục sinh vị hôn phu ấy, Thiên Chúa đã thực hiện một kỳ công của tình yêu lớn không thể tả đối với Hội Thánh: Từ nay, hiền thê được khắc sâu dấu ấn phục sinh của hôn phu mình. Mọi người đến với hiền thê sẽ gặp vị hôn phu ấy, và nhận lãnh ơn phục sinh của chính vị hôn phu ấy nơi hiền thê.

Thiên Chúa mãi còn tiếp tục tự hiến mình khi và sau khi tôn vinh Chúa Kitô trên trời. Bởi cùng với sự vinh thăng của Đầu và Hôn phu, thân mình cũng chính là hiền thê được mời gọi kết hợp với Chúa Kitô, tiến tới niềm vinh phúc quê trời, nơi mà Thiên Chúa ban thưởng chính mình cho những ai tôn thờ Người trong Chúa Kitô.

Về phía Chúa Kitô, về cùng Cha, Người thực hiện vai trò trung gian đối với Hội Thánh: cầu bầu, ban Thánh Thần là hơi thở, là sự sống thần linh, và là sự sống còn của Hội Thánh. Bền Cha, Chúa Kitô chuẩn bị cho tòan Hội Thánh: “Thầy đi để dọn chỗ cho anh em,” Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14, 2-3).

3. Trong mầu nhiệm Hiện Xuống.

Bằng việc trao gởi ơn Thánh Thần nơi Hội Thánh mà Chúa Kitô đã thiết lập, Thiên Chúa tiếp tục tự hiến cho trần gian nhưng ở “dạng thức” mới. Chúa Thánh Thần sẽ dạy và cho ta nhớ lại mọi điều Chúa Kitô đã dạy (Ga 14, 26). Chúa Thánh Thần không hiện diện hữu hình nhưng cuộc “nhập thể” của Người là một sức mạnh phi thường làm linh hoạt Hội Thánh. Bằng những hoạt động của Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa tiếp tục tự hiến, Người tự hiến không ngừng, tự hiến mãi mãi.

Chúa Thánh Thần còn là sức mạnh của Hội Thánh. Biến cố ngày lễ Ngũ Tuần và cánh cửa nhà tiệc ly mở rộng là bằng chứng của sức mạnh lạ thường ấy. Từ ngày đó, Hội Thánh vẫn không ngừng mở rộng cửa để đồng hành cùng nhân loại, đón nhận mọi người. trong sứ mạng đầy chông gai, Hội Thánh vẫn luôn được Chúa Thánh Thần nâng đỡ.

Chúa Thánh Thần cũng là mạch sống của Hội Thánh. Bởi suốt dọc dài lịch sử, Hội Thánh của Chúa Kitô đã phải và vẫn phải đương đầu trước bao nhiêu sóng gió và thách thức, dù chủ quan hay khách quan. Đặc biệt là những thử thách mà Hội Thánh phải vượt qua, trong đó, bao gồm rất nhiều những cuộc chia rẻ nội bộ, và vô vàn những tấn công khác từ bên ngoài. Điều lạ lùng hết sức, đó là, dù đã phải trải qua quá nhiều khó khăn như thế, Hội Thánh vẫn đứng vững, vẫn tiếp tục củng cố chính mình. Càng đối diện với nhiều vấn đề cần phải giảiu quyết bao nhiêu, Hội Thánh càng trưởng thành, càng khẳng định sức sống luôn luôn vươn tới của mình. Mãi mãi Hội Thánh vẫn là Hội Thánh của Chúa Kitô nhập thể, tử nạn, phục sinh, vinh thăng. Sức mạnh vượt lên cách quá đỗi kỳ diệu ấy, bởi đâu mà có, nếu không phải là sức mạnh của Chúa Thánh Thần! Nếu không có ơn Chúa Thánh Thần gìn giữ, tác tạo, hồi sinh, nếu không có mạch sống từ giữa lòng mình, chắc chắn, Hội Thánh đã không còn là Hội Thánh.

4. Chiều kích Ba Ngôi.

Nếu Thiên Chúa tạo dựng là Thiên Chúa duy nhất Ba Ngôi, thì Người cũng là Thiên Ch1ua cứu độ duy nhất Ba Ngôi. Tác giả Irênê nói: “Chúa Cha luôn luôn là Đấng sáng kiến và ra lệnh, Chúa Con thi hành và Thánh Thần hoàn tất, nhờ đó con người được sinh ra, lớn lên và dần dần trở nên hoàn hảo.” (Adveus Haeresses).

Đến lược Hội Thánh, khi nhận lãnh hồng ân Ba Ngôi, trong Hội Thánh, Thiên Chúa duy nhất lại tiếp tục tự hiến chính mình: Cha ban Thánh Thần cho Con, Con ban lại cho Hội Thánh, nhờ Thánh Thần của Cha và Con, Hội Thánh nên phong phú và duy nhất. Thánh Thần và Hội Thánh cùng làm chứng về Cha và Con.

Đặc biệt, khi công bố mầu nhiệm Vượt qua, Hội Thánh không chỉ tuyên xưng Chúa Kitô là Đức Chúa, nhưng còn tuyên xưng tình yêu Ba Ngôi cứu độ trần gian. Và thông qua mầu nhiệm Chúa Kitô mà Hội Thánh hằng tuyên xưng, Hội Thánh cung kính tuyên xưng hành động cứu độ liên lỉ của Ba Ngôi suốt dòng lịch sử cứu độ.

Ngày nay, tiếp tục lên đường rao truyền chân lý Chúa Kitô và giới thiệu Lời cứu độ của Người, Hội Thánh không dừng lại nơi gương mặt con người của Đấng Cứu Thế, nhưng chỉ cho thế giới thấy nơi con người ấy là tình yêu, là hành động, là sự biểu lộ tràn đầy, sung mãn tình yêu của Thiên Chúa. Bởi vậy, một khi tiếp tục công cuộc cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện nơi Chúa Kitô, Hội Thánh không làm điều gì khác hơn là tiếp tục nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi mà đưa con người qua từng thời đại gia nhập cộng đoàn Hội Thánh. Bởi khi nhân danh Ba Ngôi để tái tạo sự bình an cứu độ trong tâm hồn nhân loại, Hội Thánh vừa tuyên xưng, cậy nhờ, tìm chỗ dựa bảo đảm cho đức tin của mình; vừa làm theo lệnh truyền của Chúa Kitô: “Thầy đã được trao quyền trên trời dưới đất . Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28, 18-19).

5. Kết luận:

Thiên Chúa, bởi lòng yêu thương vô cùng của Người, tự hiến vì loài người và cho loài người, đó là chân lý muôn thuở, chúng ta cần học biết để đáp trả tình yêu tự hiến của Người, một tình yêu có một không hai trong cõi đời này, một tình lớn lao diệu vợi: Đức Chúa tự hiến cho con người, chỉ  kêu nài, chứ không đòi buộc con người phải tự hiến cho mình. Về phía loài người, nếu có tự hiến cho Thiên Chúa, thì đó chỉ là sự đáp trả trong tình yêu mà loài người nhận được nơi Thiên Chúa mà thôi.

Thấy được nghĩa vụ đáp trả của mình, nhất là trong bối cảnh sống mùa Chay, chúng ta ý thức niềm vui tự hiến mà mình cần phải có trong tinh thần chay tịnh. Niềm vui tự hiến ấy, ta có thể thực hiện qua những việc làm sơ đẳng mà Hội Thánh mời gọi trong mùa Chay:

Gặp gỡ Thiên Chúa trong cầu nguyện.

Để cho lòng lắng chìm trong thinh lặng, nhằm múc lấy ơn bình an cho tâm hồn.

Suy niệm thường xuyên cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô, để càng ngày càng khám phá đến tận cùng sự huyền diệu của Tình yêu Thiên Chúa tự hiến cho chính ta và cho trần gian.

Bác ái với anh chị em, không chỉ là cho đi những cái mình có, nhưng để làm tròn hành vi tự hiến, chỉ có thể là cho đi chính mình, cho chính những gì là mình, nhằm hy sinh tận cùng cho nghĩa cử bác ái.

Hàm chứa trong sự bác ái, đòi kẻ tự hiến phải tha thứ đến cùng, tha thứ như chính Chúa tha thứ cho ta, để chính ta và xung quanh ta có bình an, thế giới tiến tới hòa bình.

Sống tự hiến trong mùa Chay còn là sống những lời mời gọi thắm thiết của tiên tri Isaia: “Đức Chúa là Thiên Chúa phán như sau: 'Cứ lấy hết gân cổ mà kêu lên, đừng kiềm hãm, kêu lớn tiếng lên như tù và, báo cho dân ta hay tội ác của chúng, cho nhà Giacob biết những lỗi lầm đã phạm. Ngày lại ngày chúng kiếm tìm Ta, chúng ao ước biết đường lối của Ta, như thể một dân tộc vẫn thực hành sự công chính và không bỏ luật pháp của Thiên Chúa mình. Chúng xin Ta ban những điều luật công minh, chúng ước ao được đến gần Thiên Chúa. Chúng nói: 'Chúng tôi ăn chay, sao Ngài không thấy, chúng tôi hãm mình, sao Ngài chẳng hay?'

Này ngày ăn chay, các ngươi vẫn lo kiếm lợi, vẫn áp bức mọi kẻ làm công cho mình. Này, các ngươi ăn chay để mà đôi co cãi vã, để nắm tay đánh đấm thật bạo tàn. Chính ngày các ngươi muốn ăn chay để tiếng các ngươi kêu thấu trời cao thẳm, thì các ngươi lại ăn chay không đúng cách. Phải chăng đó là cách ăn chay mà Ta ưa chuộng trong ngày con người phải thực hành khổ chế? Cúi rạp đầu như cây sậy, cây lau, nằm trên vải thô và tro bụi, phải chăng như thế mà gọi là ăn chay trong ngày các ngươi muốn đẹp lòng Đức Chúa?

Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm? Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục? Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, vết thương ngươi sẽ mau lành. Đức công chính ngươi sẽ mở đường phía trước, vinh quang Đức Chúa bao bọc phía sau ngươi. Bấy giờ, ngươi kêu lên, Đức Chúa sẽ nhận lời, ngươi cầu cứu, Người liền đáp lại: 'Có Ta đây!'

   Trở về mục lục >>

 

š¶›

Ý NGHĨA MÙA CHAY

 

Mùa chay là một thời gian hồng ân đối với Giáo Hội và đối với mỗi Ki tô hữu, một tiếng gọi thay đổi đời sống và biến đổi đời sống, Chúa nói: “Đây ta làm một thế giới mới.” (Kh 21,5)

Mùa Chay mời gọi ta lắng nghe lời của ngôn sứ Ez 36: “Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới. Ta sẽ lấy khỏi thân hình anh em trái tim đá và sẽ ban cho anh em một trái tim thịt và ta sẽ là Thiên Chúa của anh em.”

Mùa chay làm vang lên những tiếng kêu của ngôn sứ Giê-rê-mi-a và sách Khải Huyền: “Lạy Chúa xin đưa con trở về.” (Gr 31,18), “Này đây Ta đứng ngoài cửa và ta gõ.” (Kh 3,20).

Mỗi năm Giáo Hội tìm cách giúp dân Chúa sống cho đúng đường lối Chúa mời gọi trở về và hoán cải khi đang tiến về lễ Phục sinh hơn nữa.

1. Mùa Chay và kinh nghiệm sa mạc

Đối với dân Người đã giải phóng khỏi Ai Cập, Thiên Chúa muốn cho họ kinh nghiệm về sa mạc: “Người cho họ đi theo con đường vòng trong sa mạc.” (Xh 13,18).

Tại sao Chúa muốn cho Ít-ra-en đi theo con đường sa mạc đó? Là để cho họ nghe được tiếng Thiên Chúa của họ, để họ hoán cải, để họ tìm lại được đức tin và tình yêu tinh trong, rời xa những an toàn giả tạo.

Trong Tin Mừng Thánh Gio-an Tẩy giả cũng đi vào sa mạc. Người rao giảng trong xa mạc, người mời dân chúng vào sa mạc.

Chính Đức Kitô muốn sống và đảm nhận kinh nghiệm của dân Người và của Gio-an Tây Giả. Đối với Người, sa mạc là thời gian chịu thử thách: “Người bị cám dỗ; nhưng cũng là thời gian sống gần Chúa: “các Thiên Thần đến hầu hạ Người” (Mc 1,13).

Vậy, trong Kinh Thánh, sa mạc là thời gian cắt đứt và gặp gỡ, lột bỏ và hoán cải, tiếp đón và được mạc khải, đối thoại với một vị Thiên chúa rất gần, chuẩn bị cho tương lai.

Làm sao người Kitô hữu có thể đi vào sa mạc hôm nay?

Không phải là đi vào trong một sa mạc địa lý, nhưng là ở trong tình trạng lắng nghe Thần Khí Thiên Chúa.

Mỗi người chúng ta hãy cố gắng thỉnh thoảng thinh lặng bên trong, nghiệm xét cuộc đời mình và tìm lại điều chính yếu, khiêm nhường đón nhận sự thật làm cho mình nên tự do, nhìn người lân cận với một trái tim mới, ngó miền dất hy vọng mà Chúa ban cho, đổi mới canh tân đời sóng nhờ Tin Mừng ta đón nhận, sống trong ánh sáng của Thiên Chúa, trong tình trạng sẵn sàng: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?”

2. Mùa Chay: thời gian hoán cải

Mùa Chay nhắc lại lời Thánh Gio-an Tẩy Giả kêu gọi: “Hãy hoán cải.” Mùa Chay bắt đầu bằng nghi lễ tro. Nghi lễ này giúp ta ý thức, ở trong Giáo Hội và liên đới, về sự xói mòn và già nua do tội lỗi gây ra. Ngày lễ này khiến ta nghĩ đến con người bệnh tật và tội lỗi, ngồi bên cạn bờ hồ, chờ được nhận vào vòi nước sôi sục của ơn tha thứ. Nghi lễ này là một lời kêu gọi hãy sinh lại làm một con người mới được dựng nên bằng sự công chính và thánh thiện.

Những nẻo đường hoán cải thì nhiều:

* Có việc hoán cải trái tim, nghĩa là nhìn nhận tội lỗi của mình và ra sức tập nhìn nhận con người như Thiên Chúa nhìn: “Sao ngươi thấy cái rác trong con mắt của anh em, mà cái xà trong mắt của mình lại không thấy?” (Lc 6,41).

* Đối thoại, khi chúng ta có những tranh chấp. Đức Giêsu khuyên nên tìm gặp gỡ, hãy có sáng kiến ấy, hãy mau giàn hoà (Mt 18,15). Điều này đúng với các đôi vợ chồng, những người trong một gia đình, đối nhóm, đối với những người hàng xóm láng giềng, đối với các Kitô hữu cùng một Giáo Hội khi không biết nhau hoặc chia rẽ nhau.

* Giao hoà với chính mình: chấp nhận những giới hạn của mình, những khó khăn của mình, tin tưởng vào Thiên Chua đang làm việc trong trái tim ta.

* Yêu thương kẻ thù: những người muốn hại ta, những người đang hại ta. Chúa Kitô đã nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ,” và Thánh Stê-pha-nô thêm vào: “Lạy Chúa, xin đừng chấp tội họ.” (Cv 7,60).

* Tha thứ cho anh em: Chúa Giêsu bảo là phải bảy mươi lần bảy. Mac-cô thường tạo được những cuộc hoà giải không tiên liệu trước được.

Mùa phụng vụ này nhắc ta nhớ rằng Đức Kitô là Đấng hoà giải vĩ đại. Người đã tạo hoà bình bằng đổ máu ra trên thập giá. Nơi Người, cuộc giao hoà Thiên Chúa và người tội lỗi thành toàn.

Và chính trong Bí Tích Hoà giải mà việc giao hoà này được thực hiện cách đặc biệt. Mùa Chay nhắc mỗi Kitoo hữu hãy sống hoán cải, cử hành bí tích thống hối, tham dự những cuộc cử hành thống hối để lương tâm được soi sáng và nhất là đánh giá đúng việc xưng tội riêng: đây là cuộc gặp gỡ với Đức Kitô và Giáo hội qua con người của vị linh mục.

3. Thời gian ăn chay

Việc ăn chay diễn tả sự khiêm nhường trước nhan Thiên Chúa và được kinh nghiệm tháp tùng và mang lại cho ta điều chính yếu. Nó là nguồn ánh sáng, giải toả, bác ái, sức mạnh, công lý: “Việc ăn chay ta chuộng: bẻ gãy xích xiềng bất công, phóng thích những người bị áp chế, chia sẽ cơm bánh với người đói, cho người vô gia cư tá túc, cho người trần truồng áo mặc.” (Is 58,6). Đức Kitô đã thực hành việc ăn chay cách đơn giản và khiêm nhường nhưng không gán cho việc này ý nghĩa tang chế (Mt 9,15).

Trong Mùa chay, Giáo Hội dạy ta ít nhất ăn chay vào thứ tư lễ tro và thứ sáu tuần thánh, nhiều người cũng ăn chay bằng cách kiêng thuốc lá, rượu, lời ăn tiếng nói, các chi tiêu… Có những quyết định thỉnh thoảng bỏ những bữa ăn để cùng số tiến ấy giúp những người túng thiếu. Họ chọn đói một chút để giúp những người đói thật. viết: “Đừng bảo là một giọt nước trong đại dương. Đúng ra đó là một tia lửa đốt lên thành một đám cháy lớn.” Bởi vì thời gian hoán cải và cầu nguyện, Mùa Chay cũng trở thành một thời gian chia sẻ: Một số người chấp nhận từ bỏ một phần phú túc của mình để những người khác sống một đời xứng đáng “con người” hơn.

“Đây là lúc Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ. Anh em đã nhận lãnh ân huệ của Thiên Chúa, thì đừng để trở nên vô hiệu.” (2Cr 6, 13)

  Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

Veni, Sancte Spiritus

Maranatha

            Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến”  là một kinh rất xưa trong truyền thống Giáo Hội để xin Ngài đổi mới trái đất này bằng việc khởi sự thay đổi tâm hồn của người tín hữu. Các thừa sai tiên khởi, với sự trợ lực của cha ông chúng ta, đã để lại một Kinh Đức Chúa Thánh Thần mà tín hữu nào cũng thuộc, và là kinh khởi đầu mọi sinh hoạt của người tín hữu Công giáo. Tuy nhiên, vì muốn cho người bình dân hiểu được lời kinh của Giáo Hội, nên kinh tiếng Việt có vẻ hơi xa nguyên bản. Chúng tôi ghi lại đây bản dịch sát mặt chữ để chúng ta thấy rõ tâm tình đích thực mà Giáo Hội muốn gửi gắm qua lời kinh này. Từ đó, ta thấy rằng Kinh Chúa Thánh Thần mà ta đọc thường xuyên chính là một kinh xin ơn đổi mới rất thích hợp trong Mùa Chay Thánh. Chúng tôi cũng ghi lại nguyên văn bản kinh La Tinh mà các bậc cao niên còn thuộc nằm lòng và vẫn thấy bồi hồi xúc động khi nghe lại nguyên tác.

 

Veni, Sancte Spiritus, reple tuorum corda fidelium, et tui amoris in eis accende.

 

 

 

 

V. Emitte Spiritum tuum et creabuntur.

 

R. Et renovabis faciem terrae.



 

Oremus

 

Deus, qui corda fidelium Sancti Spiritus illustratione docuisti. Da nobis in eodem Spiritu recta sapere, et de eius semper consolatione gaudere. Per Christum Dominum nostrum. Amen.

Xin ngự đến, lạy Chúa Thánh Thần, xin làm tràn đầy lòng các tín hữu, và thắp lên trong lòng họ ngọn lửa tình yêu của Chúa. 

 

Xướng: (Lạy Thiên Chúa) Xin phái Thánh Thần Chúa đến và họ sẽ được tái tạo.

Thưa: Và Chúa sẽ đổi mới bộ mặt trái đất.

 

Chúng ta hãy cầu nguyện:

Lạy Thiên Chúa, Đấng dạy dỗ tâm hồn các tín hữu bằng ánh sáng của Thánh Thần, xin ban cho chúng con, cũng trong Thánh Thần ấy, được luôn luôn khôn ngoan đích thực, và mãi mãi vui mừng trong sự yên ủi của Ngài, nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen

Chúng con Lạy Ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng. Chúng con xin Đức Chúa Thánh Thần xuống đầy lòng chúng con là kẻ tin cậy Đức Chúa Trời, và đốt lửa kính mến Đức Chúa Trời trong lòng chúng con.

 

Chúng con xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần xuống

 

Thưa: Sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con.

 

Chúng con cầu cùng Đức Chúa Trời xưa đã cho Đức Chúa Thánh Thần xuống soi lòng dạy dỗ các thánh Tông Đồ, thì rày chúng con cũng xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần lại xuống yên ủi dạy dỗ chúng con làm những việc lành, vì công nghiệp vô cùng Đức Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng con. Amen

 

            Ngoài ra, còn một kinh Veni Sancte Spiritus khác, được gọi là Bài Ca Tiếp Liên Vàng (Golden Sequence); ấy là bài ca tiếp liên trong thánh lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Thánh ca này được xem là một tuyệt tác trong tuyển tập thi ca tiếng Latinh của Giáo Hội. Trong lịch sử, nhiều giáo phụ đã không ngớt lời ca ngợi. Truyền thống đã gán cho ít nhất ba vị là tác giả của bài thánh ca này: Vua Robert II le Pieux của Pháp (970-1031), Đức Giáo hoàng Inôcentê III (1161-1261) và Stephen Langton (- 1228), tổng giám mục Canterbury (lúc bấy giờ chưa xảy ra cuộc ly khai của Anh Giáo)! Đặc biệt, phần hai của thánh ca này rất thích hợp cho Mùa Chay, vì đấy là một lời khẩn khoản xin Chúa Thánh Thần ‘rửa sạch những gì dơ bẩn, tưới xuống những gì khô cằn, chữa lành bao nhiêu thương tích’ để Kitô hữu có thể đón nhận ơn cứu độ và niềm vui đời đời. Rất tiếc là chúng tôi không tìm ra bài dịch nào trong tầm tay cho bài thánh ca tuyệt vời này, nên đành tạm dịch để tất cả chúng ta có thể dùng tâm tình của lời kinh tuyệt vời này trong Mùa Chay thánh.

 

Veni, Sancte Spiritus, 
Et emitte caelitus 
Lucis Tuae radium. 

 

Veni, Pater pauperum, 
Veni, dator munerum, 
Veni, lumen cordium . 

 

Consolator optime, 
Dulcis hospes animae, 
Dulce refrigerium. 

 

In labore requies, 
In aestu temperies, 
In fletu solatium. 

 

O lux beatissima, 
Reple cordis intima 
Tuorum fidelium. 

 

Sine Tuo numine, 
Nihil est in homine, 
Nihil est innoxium. 

 

Lava quod est sordidum, 
Riga quod est aridum, 
Sana quod est saucium. 

 

Flecte quod est rigidum, 
Fove quod est frigidum, 
Rege quod est devium. 

 

Da Tuis fidelibus, 
In Te confidentibus, 
Sacrum septenarium.

 

Da virtutis meritum 
Da salutis exitum, 
Da perenne gaudium. Amen

Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến, 
Và từ trờ
i cao, xin chiếu xuống 
Một tia ánh sáng của Người
. 

 

Lạy Cha kẻ nghèo hèn, xin ngự đến

Xin ngự đến, Đấng ban mọi hồng ân,

Lạy Ánh Sáng tâm hồn, xin ngự đến.

 

Lạy Đấng Yên Ủi tối cao tối thượng

âu yếm viếng thăm các tâm hồn

làm cho tất cả dịu dàng tươi mát.

 

Trong lao động trong nghỉ ngơi

Trong bệnh hoạn, trong yên hàn

Trong nước mắt, trong ủi an.

 

Ôi! Lạy Ánh Sáng Phúc Ân

Xin đổ hồng ân tràn đầy

Trong tâm hồn người tín hữu.

 

Nếu Người không thương trợ giúp

thì loài người còn có được chi

Nếu không phải chỉ là tội lỗi.

 

Xin rửa sạch những gì dơ bẩn

Xin tưới xuống những gì khô cằn

Xin chữa lành bao nhiêu thương tích.

 

Xin uốn nắn những gì cứng cỏi

Xin hâm nóng những gì nguội lạnh

Xin sửa lại những điều sai trái.

 

Xin ban xuống cho người tín hữu,

những kẻ đang trông cậy vào Người,

Đủ tất cả bảy ơn Thần Khí.

 

Xin ban công lao đức hạnh

Xin ban ơn cứu độ cánh chung

Xin ban xuống niềm vui vĩnh cửu. Amen. 

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

THẮC MẮC VỀ HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA TRONG SÁCH NGŨ THƯ

                                                                                                                 Đỗ Trân Duy

     Mùa Chay không giản dị chỉ là mùa chay tịnh. Theo ngôn ngữ Công Giáo đây là mùa lent. Nguyên gốc tiếng Anglô Saxon, Lent có nghĩa là thời gian vào mùa xuân, thời vạn vật có mầm sống mới. Lent, vì vậy, mang khái niệm về sự tái sinh. Lent là thời điểm vượt qua. Con người vị kỷ cũ suy tàn theo mùa đông để con người mới thức tỉnh nhận ra ý nghĩa thật của sự sống. Nhận thức tiên khởi của sự sống phải là ý thức về Thiên Chúa. Khái niệm về Thiên Chúa được biểu lộ qua các bài đọc trong thánh lễ Chủ Nhật mùa chay. Đó là những trích đoạn trong bộ Tôra, tức Ngũ Thư. Tôra tương truyền do Môse biên soạn gồm 5 cuốn: Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số, và Thứ Luật. Do Thái giáo và Kitô giáo cùng có chung mặc khải về Thiên Chúa bắt nguồn từ bộ Tôra. Điều cần nói là trong Tôra, Thiên Chúa được nhận diện một cách rất đặc thù. Lối nhìn này đã gây ra hoang mang cho một số Kitô hữu và những vị tân tòng.

     Thiên Chúa Theo Lối Nhìn Của Người Do Thái Thời Môsê

     Từ cổ thời, người Do Thái đã nhận ra Thiên Chúa là Đấng Duy Nhất. Họ dùng ký hiệu YHWH để chỉ Thiên Chúa. Húy danh YHWH duy trì được lòng tôn kính của họ về một huyền nhiệm siêu việt, vì người ta chỉ có thể chiêm niệm YHWH chứ không thể nói ra. Muốn xướng danh YHWH, người ta phải thêm vào những nguyên âm ê, ô, a để trở thành YêHôWah (Giêhôva) hay YahWêh (Giavê). Từ thời cổ, dân Do Thái nhìn Giavê với lòng kính sợ. Họ tin những bất hạnh là hậu quả nổi giận của Giavê. Lịch sử “dân Chúa” bắt đầu từ lúc họ là dân nô lệ sống trên đất Ai Cập. Tuy họ có yếu tố dân tộc nhưng lại thiếu yếu tố lãnh thổ để thành lập một quốc gia. Muốn lập quốc cho dân Chúa, Thiên Chúa trao cho Môse quyền lãnh đạo và hỗ trợ ông giải phóng họ khỏi ách nô lệ từ bạo chúa Pharaô. Sau đó Thiên Chúa hướng dẫn họ tới miền đất Người đã hứa ban cho để dựng nước. Có thể nói vào thời MôsÊ(1300 trước Công nguyên) Thiên Chúa được nhận diện rõ hơn cả, vì Giavê đối thoại trực tiếp để lập giao ước với dân của Người.

     Lãnh tụ Môse là người duy nhất được tiếp xúc với Giavê mặt đối mặt. Vì vậy ông là người độc nhất nắm quyền chuyển mệnh lệnh từ Giavê đến cho dân. Đương nhiên ông là người có thẩm quyền tối thượng giảng giải về lời Chúa, thành lập luật lệ, và xử luật. Uy thế này đã củng cố cho ông một địa vị cao cả trên muôn dân bao gồm những quyền chính trị, tôn giáo lẫn quân sự. Do Thái kể từ khi chống lại vua Pharaô, đến cuộc di dân dài 40 năm trong sa mạc, là dòng lịch sử chiến tranh sống còn của chủng tộc. Trong hành trình gian khổ lập quốc, Môse một mặt giúp dân giữ vững lòng tin vào Thiên Chúa, một mặt chống quân địch từ bên ngoài. Môse đã thực hiện được điều này bằng cách biến Do Thái giáo thành một chủ nghĩa ái quốc, một ý thức hệ quốc gia. Ông lồng mọi biến cố lịch sử vào ý của Thiên Chúa. Nhờ vậy ông khai sinh ra một ý chí kiêu hùng cho một chủng tộc gọi là “dân Chúa”. Ý chí này giúp dân Do Thái có sức mạnh sinh tồn. Môse và chủng tộc của ông đã nhận diện Thiên Chúa theo tinh thần ái quốc cực đoan này.

            Với nhân sinh quan như vậy, Môse đã vẽ ra khắp nơi, bàng bạc trong Ngũ Thư, một hình ảnh Thiên Chúa thiên vị, độc đoán, và bạo hành. Chẳng hạn để áp lực Pharaô thả dân Do Thái ra đi, Thiên Chúa giáng xuống dân Ai Cập 10 thiên tai khủng khiếp khác nhau mà càng về sau cường độ của tai ương càng mạnh. Hiện tượng khó hiểu không phải ở chỗ Pharaô không biết sợ, nhưng ở chỗ Thiên Chúa cố tình an bài như thế để ra oai. Giavê nói với Môse, “Hãy đến với Pharaô, vì Ta đã làm cho lòng nó và bầy tôi nó lì ra, ngõ hầu ta làm dấu lạ để ngươi thuật lại cho con cháu ngươi nghe Ta đã xử làm sao với Ai Cập, và các dấu lạ Ta đã thi thố ra nơi họ, khiến các ngươi biết Ta là Giavê” (XH 10:1-2). Trong chương 20 sách Xuất Hành, người ta nhận ra tai họa của Pharaô nằm trong công thức “Ta là Thiên Chúa ghen tuông, phạt tội cha ông trên con cháu đến ba bốn đời, đối với những ai thù ghét ta” (XH 20:5). Điều này không khỏi khiến người học đạo hoang mang.

     Lịch sử cho biết trên đường tiến về miền đất hứa, để dẹp chướng ngại, Môse đã ra lệnh mở những cuộc chiến mang đầy tính chất tàn sát và hủy diệt. Mọi chiến lược chiến tranh, Môse đều nói là do Thiên Chúa truyền dậy nhằm bảo vệ “dân Chúa”. Thái độ ái quốc cực đoan của ông nổi bật nhất trong cuộc chiến ở Mađian. Trước khi khai chiến, Môse cho dân biết Giavê nói với ông rằng: “Hãy rửa mối thù của con cái Israel trên dân Mađian.” Rồi ông ra lệnh: “Một số trong các ngươi hãy lo trang bị đầu quân, để tiến đánh Mađian, mà trả thù cho Giavê.” Sau đó quân Do Thái vũ bão tiến đánh xứ Mađian như sứ mạng của một cuộc thánh chiến. Họ giết hết năm vua của Mađian là Evi, Rêqem, Xua, Hua, và Rêba. Họ cũng giết chết tất cả trai tráng Mađian, đàn bà con gái thì bị bắt làm tù binh. Họ phóng hỏa đốt hết dinh trại và thành trì, còn thú vật và của cải họ thu làm chiến lợi phẩm. Rồi họ mang chiến lợi phẩm ấy về cho Môse và cộng đồng Israel ở Moab, bên bờ Jorđan. Khi thấy đám tù nhân, Môse đã nổi cơn thịnh nộ, ông nạt đám quan quân: “Sao các ngươi lại để lũ con gái ấy sống… Hãy giết hết các trẻ con trai và mọi đàn bà đã biết nam nhân. Còn trẻ gái còn trinh chưa biết nam nhân thì dành cho các ngươi” (DS 31:1-18).

     Cùng một phương thức, khi đặt ra luật lệ xã hội, Môse đặt Thiên Chúa vào kiến trúc của cơ chế hành pháp để củng cố sự hiệu lực. Chẳng hạn “Giavê phán cùng Môse rằng: “Ai mắc phong cùi thì phải ở riêng, mặc áo rách tả tơi, để đầu tóc rối, đi đâu phải la lên ô uế ô uế” (LV 13:1-2,44-46). Ngoài ra lại có những luật lệ cho phép chặt tay kẻ phạm lỗi (TL 25:11-12), đàn ông có quyền bỏ vợ nếu không ưng ý (TL 24:1-4), cho phép trả thù theo kiểu “mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng” (XH 21:24), ném đá xử tử kẻ có tội (XH 21:29; TL 13:11), và còn nhiều nữa. Những luật lệ này thuần túy là bộ luật dân sự nhằm mục đích duy trì trật tự xã hội, nhưng Môse đã ban hành chúng trong vị thế là những giáo luật.

     Theo Tôra, Thiên Chúa đã lập giao ước với Ađam, với Noê, với Abraham, và với Môse. Lòng kiêu hãnh chủng tộc khiến dân Israel cho những dân không nằm trong “giao ước” là “dân ngoại”. Môse và các vị hiền sĩ thời Cựu Ước tuy công nhận Thiên Chúa là Đấng siêu việt tối cao sinh ra muôn dân tộc, nhưng lại không chấp nhận tình yêu của Thiên Chúa nới rộng cho dân ngoại. Điều trớ trêu này đã khiến người đời sau ngộ nhận về Thiên Chúa. Họ hoang mang về một tôn giáo lạ lùng trong đó con người nghịch với thiên nhiên, con người tàn ác với con người, con người khiếp sợ Thiên Chúa, Thiên Chúa ghét con người.

     Nhận Diện Về Thiên Chúa Qua Thời Gian

     Ý thức về Thiên Chúa bắt nguồn từ kinh điển Tôra. Tuy nhiên trên hành trình tâm linh tiến đến với Thiên Chúa, người đời sau không nhất thiết phải chịu ảnh hưởng bởi nhận định của trường phái Môse. Từng chút một qua thời gian, càng ngày nhân loại càng có nhận thức rõ hơn về Thiên Chúa. Chúng ta hãy bắt đầu nhận diện Thiên Chúa từ biến cố Người hiện ra với Môse dưới dạng bụi cây bốc lửa. Môse hỏi, “Nếu họ hỏi con tên của Người là gì thì con nói với họ làm sao?” Lời Thiên Chúa phán ra từ ngọn lửa (qua tiếng Hebrew): “Ehyeh asher ehyeh”. Tiếng Hy Lạp dịch câu này là “Ego eimi hoon” (Ta là Đấng hằng có);  tiếng Anh dịch là “I am who I am” (Ta là Ta); tiếng Việt dịch là “Ta có sao Ta có vậy”. Theo học giả Martin Buber, chữ ehyeh nguyên ngữ Hebrew là một động từ và có nghĩa “có ở đây có ở đó”. Vậy cả câu “Ehyeh asher ehyeh” phải dịch là “Ta hiện diện như Ta đang hiện diện”. Vượt trên tất cả sự bất toàn của văn tự, ngôn ngữ chúng ta đều cố gắng nắm bắt cái ý niệm “đang có mặt”. Nhưng rõ ràng khóm chữ ấy nói về một trạng thái vĩnh hằng chứ đâu phải là tên của Thiên Chúa. Từ đây ý niệm về Thiên Chúa sáng tỏ. Thiên Chúa không thể nêu danh, không ngưng đọng trong thời gian và không gian. Nói một cách khác Thiên Chúa là Đấng tự hữu, hiện diện ở khắp mọi nơi và không thể hiểu được. Mọi sự trong toàn cõi trời và đất đều biểu lộ tràn đầy vinh quang Thiên Chúa (Isa 6:3; Edê 43:2).

     Hành xử của Thiên Chúa cũng không như “dân Chúa” có thể tưởng. Ngay từ thời Môse, tuy chi họ Lêvi được giữ phẩm tước tư tế, nhưng Thiên Chúa lại thường nói với dân người qua các vị tiên tri dân giả. Các tiên tri, hay ngôn sứ, nói về Thiên Chúa cũng có khác với trường phái Môse. Tiên tri Isaia thấy Do Thái trong liên hệ cộng đồng thế giới. Thiên Chúa tỏ lộ vinh quang của Người với muôn dân tộc, bởi vì Thiên Chúa “ban sinh khí cho mọi cư dân trên mặt đất.” Đối với Do Thái, Người chỉ muốn họ giữ địa vị là “ánh sáng cho mọi dân tộc” mà thôi (Isa 42:5-6; 49:6). Ngôn sứ Giôna xóa bỏ hình ảnh Thiên Chúa muốn tiêu diệt “kẻ thù của Người” (nói theo ngôn ngữ trường phái Môse). Giôna kể rằng dân Ninivê có lối sống xa đoạ, nhưng Thiên Chúa vẫn thương họ. Mặc dù Giôna không muốn và tìm đủ mọi cách để từ chối sứ mệnh, nhưng Thiên Chúa nhất quyết sai ông đến cảnh tỉnh dân Ninivê để cứu họ khỏi bị án phạt (Giô 3:10, 4:1-11). Tiên tri Đanien ghi lại biến cố vua xứ Babylon là Nabukôđônôsô đánh chiếm thành Giêrusalem của dân Chúa. Sau đó vua cho đúc một tượng người khổng lồ bằng vàng và bắt dân