Số 75 Ngày 25-03-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Lễ Truyền Tin - Đức cha Germain

Làm Theo Ý Chúa - Đức cha Bùi Tuần

Lòng Yêu Thương và Tha Thứ của Thiên Chúa – Lm Vũ Xuân Hạnh

Làm Sao Tha Thứ? – Lm. John Monbourquette, O.M.I - Lm Trần Trung Liêm, O.P.  tóm lược

Ăn Chay và Cầu Nguyện Qua Các Bản Văn Tân Ước

Chay Tịnh… Hoài Hương

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Danh Sách 15 Tân Hồng Y – Lm. Trần Đức Anh, O.P.

Esau và Giacóp -  Trần Duy Nhiên

Bạn của Người Con – Sưu tầm

Lời Cầu Trong Đêm – Phan-xi-cô

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý độc giả,

 

Trong tuần lễ vừa qua, bản tin thế giới loan báo nhiều biến cố có tầm vóc rộng lớn có ảnh hưởng đến cả một quốc gia, thậm chí đến toàn thể thế giới. Tại Liên Hiệp Quốc, Tổng Thư Ký Kofi Annan trình ra một loạt cải cách nhằm tổ chức lại guồng máy các văn phòng, thay đổi các lề lối và cơ chế làm việc, để cho phù hợp với thực tại hôm nay. Tại Pháp, các cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn học sinh sinh viên yêu cầu chính phủ rút lại luật ‘Hợp đồng việc làm đầu tiên’ (CPE: Contrat de première embauche) đã bắt đầu đi vào bạo động. Xe cộ bị đốt, hơn 420 người biểu tình bị bắt, khoảng 60 người bị thương trong số đó có nhiều cảnh sát. Tại Thái Lan, làn sóng người biểu tình yêu cầu Thủ Tướng từ chức không ngớt gia tăng, mặc dù bị sự phản đối của những người biểu tình khác ủng hộ Thủ Tướng. Tại Việt Nam, thứ trưởng bộ Giao Thông Vận Tải được Ban Công An Điều Tra mời lên làm việc nhiều ngày để làm rõ những nghi vấn về tham ô của những người nắm vai trò rất quan trọng trong guồng máy Nhà Nước.

Những tin này đều là những tin gây bất bình an, dù cho mục tiêu vẫn là nhắm phục vụ lợi ích của người dân. Bên lề những tin nhức nhối ấy, thì cũng có những tin đầy yên ủi. Tại Hàn Quốc, Tổng thống Roh Moo-hyun vừa bổ nhiệm bà Han Myung-sook làm thủ tướng thay cho thủ tướng Lee Hae-chan vừa từ chức hồi tuần trước. Bà có thể sẽ trở thành nữ thủ tướng đầu tiên của đất nước này nếu việc bổ nhiệm được Quốc Hội thông qua. Tại Vatican, Đức Thánh Cha Bênêditô XVI triệu tập Đại Hội Hồng Y đầu tiên kể từ ngày Đức Gioan Phaolô II qua đời, để bàn bạc về những cách thức đối diện với những đòi hỏi của thời đại. Cũng trong dịp này, ngày 24. 3. 2006, ngài cũng tấn phong cho 15 tân hồng y thuộc 11 quốc gia khác nhau.

Tuy nhiên, những tin tức vang dội thế giới này cũng không che khuất được một tin tức được loan báo cách đây hơn 2000 năm cho một thiếu nữ rất trẻ nơi một làng quê nhỏ bé tại Palestine. Thiếu nữ ấy tên là Maria, người báo tin là thiên thần Gabriel, và mẩu tin âm thầm nhưng có sức mạnh thay đối bộ mặt thế giới, ấy là Thiên Chúa mượn cung lòng người nữ ấy để đến chia sẻ nếp sống của loài người.

Xét cho cùng, những tin sốt dẻo trong tuần qua không ảnh hưởng gì bao nhiêu đến cuộc sống của bạn và tôi… Có thay đổi chăng là đối với một số người làm việc tại trụ sở Liên Hiệp Quốc, với giới trẻ tại Pháp, với nhân dân ở Hàn Quốc. Và ngay cả vấn đề tham ô tại Việt Nam, nếu có bằng chứng là một hai thứ trưởng tham ô đi nữa, thì cũng chỉ thêm một viên thuốc đắng cho người Việt Nam vì nhận ra rằng có những người ở cấp lãnh đạo đất nước đã ‘bóc lột’ mình một cách tàn nhẫn. Có biết mình bị bóc lột hay không thì mọi sự cũng đã rồi, không ai có thêm được một cái gì cả! Ngay cả sự tấn phong 15 hồng y thì cũng là chuẩn bị cho một cuộc bầu giáo hoàng tương lai chứ không động chạm đến đời sống tâm linh của cá nhân của từng Kitô hữu.

Tuy nhiên, biến cố Truyền Tin, dù đã 2000 năm qua rồi, thì vẫn còn mang tính thời sự và liên quan mật thiết đến đời sống Kitô hữu của mỗi một chúng ta. Thật vậy, ‘Đức Giêsu Kitô hôm qua, hôm nay vẫn là một, và cho mãi đến muôn đời.’ (Dt 13:8). Hôm xưa, Ngài đã nhập thể trong cung lòng của một Evà mới, và Con Người tiêu biểu cho nhân loại này đã biến lòng mình thành Đền Thờ cho Chúa Ngự. Ngày hôm nay, Chúa vẫn nhập thể trong cung lòng của mỗi người, để chúng ta trở nên đền thờ của Chúa Thánh Thần.

Quả thật, trong Mùa Chay Thánh này, khi nhìn lại cõi lòng của mình, ít ai dám tự xưng mình đủ tư cách để làm một Đền Thờ như thế. Với biết bao điều dơ bẩn chồng chất theo thời gian, cõi lòng mình không còn giống như một Đền Thờ của Thiên Chúa, có giống chăng là giống một chuồng heo, chuồng bò. Mấy ai trong chúng ta được xứng đáng như Đức Mẹ, để dâng lên Thiên Chúa một cung lòng tinh tuyền vẹn sạch? Tuy nhiên, xưa kia Chúa cũng từng chọn ‘chuồng bò Bêlem’ để đến với con người, thì ngày nay, Ngài cũng vẫn sằn sàng biến ‘chuồng bò’ của mỗi tâm hồn của chúng ta thành nơi Ngài ngự, miễn là chúng ta biết học nơi Đức Mẹ để nói lên lời ‘Fiat’ trong tâm tình phó thác vào quyền năng và tình yêu của Ngài.

Vì thế, Maranatha 75 sẽ suy niệm về thái độ của Đức Mẹ trong ngày Truyền Tin, từ đó tìm ra con đường đón Chúa qua tinh thần vâng phục, đồng thời biết đón nhận và tha thứ cho anh em theo gương của Thiên Chúa đối xử với mỗi một chúng ta.

            Chớ gì thông qua những bài học nơi Đức Mẹ, chúng ta can đảm cậy trông vào Tình Yêu vô biên của Thiên Chúa, để sống trọn vẹn và sốt sắng những ngày còn lại của Mùa Chay này, mà biến lòng mình thành ‘chuồng thờ’ của Ngài. Và bấy giờ, chúng ta sẽ sẵn sàng để khẩn cầu: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến!

                                                                      MARANATHA

  

LỄ TruyỀn Tin

 Đức Cha Germain

            Chính tổng lãnh thiên thần Gabriel đã loan báo cho Đức Maria Mầu Nhiệm Nhập Thể. Khi các phụ nữ đến mộ của Chúa Kitô để tìm kiếm Ngài, thì cũng chính thiên thần Gabriel đã loan báo biến cố phục sinh và dặn dò: “Đừng tìm kiếm Ngài, Ngài không có ở đây, Ngài chờ đợi anh em ở Galilê.” Qua hai sự kiện này, ta thấy có một sự thống nhất lạ lùng trong mầu nhiệm. Tôi cầu mong sao cho Lễ Truyền Tin năm nay sinh lợi cho tất cả anh chị em. Muốn như thế, tôi mời gọi anh chị em nhìn ở mọi góc cạnh, vì nếu nhìn vào chính giữa thì Mầu Nhiệm sẽ vượt khỏi trí khôn chúng ta, nhưng nếu nhìn ở các đường viền chung quanh thì mình lại cảm nhận được mầu nhiệm ấy.

Đức Maria là nhân vật duy nhất mà trong Phúc Âm Chúa Kitô đã gọi là “Người Nữ” (viết bằng chữ hoa). Ngài đã tặng Đức Maria hai lần danh hiệu này, Ngài không gọi Bà là Mẹ hay Maria, ngài gọi là Người Nữ. Chẳng hạn tại tiệc cưới Cana, Ngài nói: “Người Nữ ơi, Người muốn tôi làm gì?” và trên Thập Giá, Ngài đưa tay về hướng tông đồ Gioan mà nói với Bà: “Người Nữ ơi, đây là con của Người!” Chưa bao giờ người nói với một người nam mà bảo rằng “Người Nam ơi!” nhưng Ngài đã nói như thế với một Người Nữ, và chỉ với một người duy nhất, ấy là Đức Maria. Điều này cho thấy rằng danh hiệu Người Nữ đã được chu toàn, được hoàn tất trong Đức Maria.

Điều gì đã được hoàn tất trong Đức Maria khiến Mẹ được viên mãn đến như thế? Chính Mẹ là người đã cưu mang trong lòng mình và sinh ra cho đời một vị Thiên Chúa, một điều chưa từng xảy ra trên vũ trụ này. Vai trò người nữ, hay đúng hơn vai trò duy nhất của người nữ, ấy là sinh hạ, là cho ra đời. Tất cả chúng ta đều thông qua cung lòng của một người mẹ. Đức Mẹ là tuyệt tác của toàn thể nhân loại trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Thiên Chúa đã chọn Mẹ, đã đoái nhìn đến Mẹ, không phải vì Mẹ có một công trạng gì đặc biệt, nhưng vì Mẹ hội tụ toàn bộ tinh thần của nhân loại cũng như tất cả mọi nỗ lực tác sinh một thọ tạo cao vời và độc nhất vô nhị.

Ta hãy nhớ lại điều này: Sau khi tạo thiên lập địa, Thiên Chúa đến cạnh con người mà đề nghị: “Nếu ngươi muốn, Ta đề nghị ngươi yêu mến Ta. Và nếu ngươi yêu mến trong sự thật, chẳng hạn yêu mến thế giới dưới kia, toàn bộ thế giới với thú vật, cây cỏ, đất đai; nếu ngươi thực hiện điều đó, thì Ta sẽ yêu mến ngươi và ban cho người sự sống của chính Ta.” Như vậy, khi ta trở thành Kitô hữu, thì Thiên Chúa cũng đề nghị: “Nếu con muốn, Cha sẽ trở thành người bạn chí thiết của con, nghĩa là Cha sẽ sinh ra để đón nhận sự sống giống con. Cha là đấn dựng nên con, thế nhưng Cha sẽ trở nên một người giữa mọi con người.” Lời đề nghị của Đấng Tạo Dựng hầu như là một nghịch lý: Người không tông cửa mà vào. Đấy là điều mà ta gọi là Sự Công Bình của Thiên Chúa. Công bình chính là tôn trọng bằng mọi giá sự tự do của Hữu Thể, sự tự do của con người: Người đến để ‘xin phép’ và cánh cửa đã mở ra đến cho Thiên Chúa đến với loài người. Cánh cửa cuối cùng được mở ra, chính là Đức Maria, và Thiên Chúa đã đi vào cung lòng Mẹ.

Đức Maria từng ở trong Đền Thờ, và Mẹ biết rất rõ về các thiên thần. Vì thế, điều làm Mẹ ngạc nhiên không phải là thiên thần Gabriel xuất hiện, nhưng mà là điều sứ thần nói, sau đó là lời đáp trả của Mẹ: “Xin vâng, vì tôi là tôi tá của Chúa.”

Xin dừng lại đây một phút: tôi không hiểu là trong cuộc đời của chính anh chị em, có bao giờ anh chị em cảm thấy rằng con người của mình, cuộc sống của mình là một ngục tù không. Chúng ta bị trói chặt vì hoàn cảnh, nghề nghiệp, một loại biến cố, thậm chí vì linh hồn mình. Chưa thời đại nào mà lại có nhiều người bị khủng hoảng âu lo, bị suy nhược thần kinh như thời đại chúng ta. Vì sao như vậy? Bởi vì người ta đã xua đuổi Thiên Chúa ra khỏi nền văn minh của mình từ bốn thế kỷ qua. Vì thế, khi chúng ta đang ở trong ngục tù đó mà có thể thốt lên từ cõi lòng mình: “Lạy Chúa, Xin Hãy Đến!” thì Người sẽ đến! Và lúc ấy, giống như Đức Mẹ, chúng ta làm câm miệng cách suy nghĩ, những ưu tư lo lắng của mình mà tìm hiểu cách thức mà Vị Thiên Chúa ấy suy nghĩ và hành động. Đấy là điều mà Đức Maria đã làm để mở cánh cửa cuối cùng. Thiên thần Gabriel bảo rằng: “Cô sẽ thọ thai,” nhưng làm thế nào một trinh nữ có thể thọ thai mà không cần đến người nam? Đức Maria đã nêu lên lời chất vấn duy nhất để xác nhận rằng điều bất khả ấy sẽ trở thành hiện thực. “Tôi sẽ sinh con, nhưng tôi không liên hệ gì với người nam!”  

Tất cả chúng ta đều có thể làm như thế đối với Thiên Chúa theo cách thức mà Người thể hiện đối với chúng ta, nghĩa là Người sẽ mặc khải cho chúng ta một hình thức bất khả, và cái bất khả xuất hiện trước mắt chúng ta và thường đi trước những thắc mắc của chúng ta. Những thắc mắc ấy rồi sẽ được giải quyết, bởi vì nếu ta tự do hiến dâng cho Chúa thì Người sẽ tự do đem đến giải pháp. Đấy là điều cao cả nơi Đức Mẹ. Đấy là một dạng tự do trọn vẹn của một người biết ngắm nhìn và lắng nghe chính tác giả của tự do và hai hữu thể gặp nhau để đem lại hoa trái tự sự gặp gỡ đó. Đức Mẹ là Đấng tổng hợp trời và đất, và những tương quan giữa trời và đất. Chính vì thế mà Mẹ trở thành một nhân vật có sự quyền năng phi thường.

Tất cả chúng ta hãy trở thành những con người tự do, và qua đó làm vinh danh Thiên Chúa cho đến thiên thu vạn đại. Amen

   Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

LÀM THEO Ý CHÚA

Ðức Cha J.B. Bùi Tuần

Sắp đến lễ Truyền Tin. Khi cử hành lễ trọng này, các chủ tế thường giảng về lời Đức Mẹ "xin vâng", cộng đoàn cũng hay đồng ca lời "xin vâng" của Đức Mẹ.

Đến nay, lời "xin vâng" của Đức Mẹ trong biến cố truyền tin đã trở thành một gương mẫu "Sống Lời Chúa" cho nhiều tín hữu tại Việt Nam ta.

Nhận xét này báo cho chúng ta một tin vui. Để góp phần nhỏ vào tin vui này, tôi xin phép được chia sẻ kinh nghiệm về cách sống "xin vâng". Tất nhiên chia sẻ này sẽ rất giới hạn. Nó được diễn tả như một hành trình. Hành trình này có những chặng như sau:

1/ Nhận thức về bổn phận "phải làm theo ý Chúa"

"Xin vâng" không phải là nói theo công thức đạo đức, mà là một lời hứa sẽ làm theo ý Chúa.

Chúa Giêsu phán: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: 'Lạy Chúa, lạy Chúa' là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi" (Mt 7,21).

"Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví như người ngu dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành" (Mt 7,24-27.

Lời Chúa trên đây dạy ta phải chú trọng đến thực hành. Đừng xin vâng như một lễ nghi. Nghe rồi, nói rồi, hứa rồi, là kể như xong. Xin vâng kiểu đó chỉ là một cách giữ đạo hình thức. Kết quả sẽ rất tai hại. Phải đặt trong lời xin vâng một quyết tâm làm theo ý Chúa. Làm thực sự, làm đến nơi đến chốn.

2/ Nhận thức mình yếu đuối, tội lỗi, tối tăm

Quyết tâm làm theo ý Chúa là điều khởi đầu không được thiếu. Nhưng liền sau quyết tâm đó sẽ không phải là động lực tự phụ, tự đắc. Nhưng là một nhận thức khiêm nhường về bản thân mình.

Nhận thức khiêm nhường đó có thể diễn tả như lời tự thú của thánh Phaolô xưa: "Điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại làm... Bởi đó, tôi khám phá ra luật này: Khi tôi muốn làm sự thiện, thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay. Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Chúa. Nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: Luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí và giam hãm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể của tôi. Tôi thực là người khốn nạn. Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (Rm 7,15-26).

Lời tự thú trên đây của thánh Phaolô là một sự thực sống động. Mỗi người trong chúng ta đều đã và đang cảm nghiệm sự thực đó nơi bản thân mình.

Cảm nghiệm này cần được ta nói lên với Chúa một cách khiêm nhường. Riêng tôi, hằng giờ và từng phút, tôi vẫn nhìn lên Chúa, với tấm lòng của trẻ thơ yếu đuối, rất xác tín lời Chúa phán xưa: "Không có Cha, chúng con không thể làm gì được" (Ga 15,5). Tôi không thể làm được điều gì tốt, nhưng lại rất có thể làm được nhiều điều không tốt trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót. Nhất là những thiếu sót thì vô số kể.

Nhận thức mình yếu đuối, hèn hạ, tối tăm sẽ không là một cái nhìn bi quan bệnh hoạn, nhưng sẽ là một cái nhìn đúng sự thực, lành mạnh, đưa tới một nhìn nhận mang tính cách cứu độ.

3/ Nhìn nhận mình cần đón nhận Chúa và ở trong Chúa cứu độ

Chúa Giêsu phán: "Thầy là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào Thầy, thì không ở lại trong bóng tối" (Ga 12,48).

Tôi tin lời Chúa trên đây. Từ niềm tin ấy, tôi khao khát cầu xin Chúa đến với tôi. Đời tôi trở thành một thao thức đợi chờ. Đợi chờ một Thiên Chúa đang đến.

Khi Người đến, gặp thấy lòng con người thao thức về sự cứu độ, Người sẽ thương đốt lên trong lòng họ lửa tin mến nồng nàn. Họ sẽ được Người chia sẻ cho dần dần kế hoạch làm theo ý Chúa.

Họ sẽ làm. Chúa cũng sẽ làm với họ. Họ cảm nghiệm được một sự an ổn thiêng liêng. Cho dù nhiều lúc, họ không tránh được đau khổ. Nhất là khi họ thấy một lời Chúa phán xưa sẽ phải được thực hiện nơi họ: "Thật, Thầy bảo thật các con, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không thối đi, thì nó vẫn trơ trơ một mình. Còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác" (Ga 12,24).

Cùng đi sâu vào con đường cứu độ, mà Chúa Giêsu đã đi, kẻ muốn làm theo ý Chúa càng cảm thấy cần phải gắn bó với Người. Gắn bó chặt chẽ và sống động như cành cây với thân cây. Như Chúa Giêsu đã quả quyết: "Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái" (Ga 15,5).

Từ kinh nghiệm ấy, sự luôn ở lại trong tình thương của Chúa trở thành một vấn đề bức xúc. Nó sẽ có liên hệ mật thiết với sự bình an, mà Chúa hứa ban riêng cho những ai làm theo ý Chúa. Như Chúa Giêsu đã hứa: "Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban cho các con sự bình an của Thầy. Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng" (Ga 14,27).

Ai đã được nếm sự bình an này, sẽ rất chân thành nhìn nhận: Khi mình làm theo ý Chúa, thì có sự bình an. Sự bình an mà mình được, hoàn toàn không do công phúc của mình, nhưng do Chúa ban cho mà thôi.

Chia sẻ trên đây chẳng có gì lạ. Tuy nhiên, hy vọng nó cũng được coi là một nhắn gởi của một người lớn tuổi, đã trải qua nhiều chặng đường lịch sử rất phức tạp. Nhìn lại đời mình, tôi thấy: Chỉ có sự thao thức làm theo ý Chúa mới đáp lại được ơn gọi Chúa đã dành cho mình. Tôi nhìn lại với tâm tình cảm tạ và vô vàn thống hối ăn năn.

Hiện nay, chủ nghĩa cá nhân và thực dụng đang rất mạnh. Nó dụ dỗ những người tin Chúa hãy sống theo ý riêng mình, hãy đua đòi làm theo ý thế gian. Tình hình này rất nguy hiểm cho tương lai đạo đức Phúc Âm.

Vì thế, lời "xin vâng" của Đức Mẹ nên được coi là một nhắn gởi tha thiết. Rất mong các môn đệ Chúa hãy đón nhận, để suốt đời mình sẽ là một dòng thiện chí tuyệt đối phó thác làm theo ý Chúa, mặc dù ý Chúa thường rất khác ý thế gian và ý riêng ta

   Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

      

MÙA CHAY

 

 

LÒNG YÊU THƯƠNG THA THỨ CỦA THIÊN CHÚA

 Lm. Vũ Xuân Hạnh

Tại một nhà thờ bên Tây Ban Nha có một tượng thánh giá rất đặc biệt: Chúa Giêsu chịu đóng đinh có một tay trái và hai chân, tay phải rời khỏi lỗ đinh và đưa ra phía trước trong tư thế như đang ban phép lành.

Chuyện kể rằng, một lần, tại nhà thờ này có một tội nhân đến xưng tội. Đối với một tội nhân có quá nhiều tội nặng như anh ta, vị linh mục rất nghiêm khắc và ngăm đe nhiều điều. Nhưng chứng nào vẫn tật đó. Ra khỏi tòa giải tội ít lâu, hối nhân lại tiếp tục sa ngã. Rất nhiều lần như thế. Cuối cùng, vị linh mục đành răn đe: “Tôi không muốn anh vấp lại những tội như thế nữa. Đây là lần cuối cùng, tôi tha tội này cho anh.” Hối nhân ra khỏi tòa giải tội mà lòng trĩu nặng và đau khổ. Được vài tháng sau, anh ta lại đến xưng tội, và xưng cũng cùng những tội nặng y như những lần trước. Vị linh mục dứt khoát: “Anh đừng có đùa với Chúa. tôi không tha!” Thật lạ lùng. Ngay lập tức, vị linh mục cùng hối nhân đều nghe có tiếng thì thầm phía bên trên đầu mình. từ cây thánh giá, bàn tay phải của Chúa Giêsu được rút ra khỏi lỗ đinh và ban phép lành cho hối nhân. Vị linh mục nghe được tiếng thì thầm ấy nói với chính mình: “Ta là người đổ máu ra cho người này chứ không phải con.”

Kể từ đó, bàn tay phải của tượng Chúa Giêsu chịu nạn không gắn vào thánh giá nữa, nhưng vẫn giữ tư thế đang ban phép lành, như không ngừng mời gọi: “Hãy trở về với Ta, các ngươi sẽ được tha thứ.”

Lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa trong cuộc đời là điều có thật, không phải chỉ vì Hội Thánh và giáo lý của Hội Thánh dạy như thế, nhưng là vì sự cảm nghiệm của con tim bao nhiêu người, nhất là nơi các vị thánh trên suốt dòng lịch sử Hội Thánh. Lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa lớn lắm, mạnh lắm, làm cho người trong cuộc, một khi thấy mình tội lỗi ê chề bao nhiêu, thì càng yêu mến chân thành bấy nhiêu. Lòng tha thứ đó, có lẽ, dù có đem trời cao, biển rộng mà so sánh, thì sự so sánh ấy vẫn khập khiễng như thường. Bởi lòng tha thứ của Thiên Chúa lớn cho đến mức, tội lỗi dù có quá sức chịu đựng của lòng người, Thiên Chúa vẫn một lòng tha thứ. Người tha thứ đến cùng. Dẫu cho mọi người rất kinh nghiệm về nỗi yếu đuối của mình, nhưng vẫn khó tha thứ cho anh chị em, thì Thiên Chúa không mảy may vướng một lỗi lầm nào, lại rất dễ dàng tha thứ.

Đọc Tin Mừng Chúa nhật thứ IV mùa Chay, ngay câu đầu tiên, câu nói của Chúa Giêsu: “Như Môisen giương cao con rắn ở sa mạc thế nào, Con Người cũng sẽ giương cao như vậy,” tôi bỗng nhớ tới câu chuyện cảm động trên, để càng cảm nhận rất nhiều lần rằng: Thiên Chúa là Chúa của tình yêu. Tha thứ là khuôn mặt chói ngời của tình yêu Thiên Chúa. bởi tôi nhận ra trong câu nói của Chúa Giêsu bộc lộ cả một nỗi lòng khoan dung tha thứ của Thiên Chúa.

Vậy câu nói của Chúa Giêsu: “Như Môisen đã giương cao con rắn ở sa mạc thế nào, Con Người cũng sẽ giương cao như vậy,” có liên quan thế nào với tình yêu tha thứ của Thiên Chúa?

Quay về câu chuyện con rắn đồng trong sa mạc, sẽ cho ta câu trả lời. Sau khi xuất Aicập, bốn mươi năm ròng rã trong hoang địa, dân Israel gặp mọi thử thách. Họ oán trách Chúa đã để họ lầm than. Một lần cơn thịnh nộ của Chúa đã để cho rắn độc cắn chết nhiều người. dân Chúa quá sức khiếp sợ. Họ nhìn nhận tội lỗi của mình, và Chúa đã đoái thương nỗi thống khổ của họ. Người dạy ông Môisen hãy làm một con rắn bằng đồng, treo lên cây, để bất cứ ai bị rắn cắn, nếu nhìn lên con rắn đồng, sẽ được cứu. Như vậy, khi con rắn đồng được giương lên, thì ngay chính lúc đó, lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa lại tỏa sáng và trao ban. Từ nay, Thiên Chúa sẽ cứu sống dân, những kẻ đã từng oán trách, thậm chí chống đối Người.

Hình ảnh con rắn đồng là biểu trưng của Đấng Cứu Chuộc. Cũng như con rắn đồng được giương cao, Chúa Kitô sẽ giương cao như vậy. Nếu con rắn đồng nói lên lòng tha thứ, thì Chúa Kitô được giương cao, chính là lòng tha thứ của Thiên Chúa đạt đến tuyệt đối, chiếu sáng ngời ngời và lan tỏa đến bất cứ người nào đã từng được sinh làm người trong cuộc đời. Chúa Kitô giương cao, nghĩa là lòng tha thứ của Thiên Chúa giương cao cho cả nhân loại nhìn vào mà học lấy, mà tha thứ cho nhau.

Lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa mạnh lắm, mạnh đến nỗi, Thiên Chúa như ném chính Người Con duy nhất và yêu quý nhất của mình cho trần gian để thực hiện lòng tha thứ đối với chính trần gian vô vàn lần xúc phạm Thiên Chúa.

Trong mạch văn của bài Tin Mừng, thánh Gioan còn ghi thêm chính lời Chúa Kitô: “Thiên Chúa yêu trần gian đến nỗi đã ban chính Con Một… Thiên Chúa không sai Con của Người đến luận phạt trần gian, nhưng để trần gian nhờ Con của Người mà được cứu độ.” Thiên Chúa luôn ở về phía chúng ta để ra tay cứu chứ không phải phạt.

Mùa Chay là mùa của lòng yêu thương tha thứ. Bởi thế, việc ăn chay trong mùa Chay, trước hết phải là xóa bỏ hận thù và tha thứ. Nhưng để có tha thứ, cần đến sự hòa giải. Anh chị em mất lòng nhau, anh chị em có hố sâu ngăn cách bởi hận thù. Tinh thần chay tịnh đòi anh chị em phải lấy lại lòng nhau, phải lấp đầy những ngăn cách, để những gì thuộc về thù hận bị chôn xuống, những gì là trao ban, là yêu thương sẽ bùng lên, vươn mạnh. Anh chị em và tôi hãy nhớ kỹ, nhớ rõ hai điều quan trọng: Làm sao có thể tha thứ, nếu không bao giờ muốn hòa giải; làm sao có thể nhận được ơn tha thứ, nếu không biêt tha thứ.

Chẳng biết câu chuyện về cánh tay Chúa Giêsu trên thánh giá ban phép lành để tuôn đổ ơn tha thứ cho tội nhân thực hư thế nào, nhưng lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa ngàn đời vẫn thế: bền vững và cao ngất. Câu chuyện có thể không có thật, nhưng lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa mãi mãi vẫn thật. Vì thế, dẫu cho không có thật, câu chuyện vẫn đáng quý, vì nó phản ánh một sự thật rất thật: LÒNG THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG THA THỨ. Câu chuyện càng đáng quý, khi nó giúp ta ghi lòng tạc dạ để học lấy lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa mà tha thứ cho anh chị em.

Thiên Chúa đã không dạy bài học tha thứ suông, nhưng đã dạy bài học tha thứ bằng chính mạng sống của Chúa Kitô. Nếu ngày xưa, con rắn đồng trong sa mạc được giương lên, thì hôm nay, chính Chúa Kitô được giương lên. Mãi mãi chúng ta biết ơn Chúa Kitô và khắc sâu lời của Người: “Như Môisen đã giương cao con rắn ở sa mạc thế nào, Con Người cũng sẽ giương cao như vậy.”

   Trở về mục lục >>

š¶›

LÀM SAO THA THỨ?

THỰC HÀNH THA THỨ QUA 12 GIAI ĐOẠN

Lm. John Monbourquette O.M.I.-  Tóm lược: Lm. Trần Trung Liêm, O.P.

 

Tầm quan trọng của tha thứ: Một thế giới không có tha thứ sẽ rơi vào một trong bốn tình trạng sau:

1.  Trường tồn hóa nỗi đau

2.  Sống với sự oán hận triền miên

3.  Sống chôn vùi trong quá khứ

4.  Tìm cách trả thù

“Muốn hạnh phúc trong một giây lát? Hãy trả thù. Muốn hạnh phúc dài lâu? Hãy tha thứ.” (Henry Lacordaire, O.P.)

 

Quyển sách “Làm Sao Tha Thứ?” là kết quả của một nghiên cứu và suy tư lâu dài được nuôi dưỡng bởi những kinh nghiệm điều trị và những kiến thức chuyên môn của tác giả; mục đích là để cung cấp một hướng dẫn thực tiễn giúp người đọc tha thứ qua các giai đoạn cụ thể.  Sau đây là những lý do chính làm cho cuốn sách này được ra đời.

 

Hơn ba năm trời, tác giả đã cố gắng để vượt qua một vết thương lòng. Tác giả tưởng đã tìm được giải đáp bằng một hành vi tha thứ thuần túy bằng ý chí, nhưng tác giả đã lầm vì vẫn không tài nào được bình an nội tâm; mà ngược lại, tức giận, cay cú, lo lắng vẫn tồn tại trong lòng.  Nhận thức này là một trong những yếu tố chính thúc đẩy tác giả tìm hiểu, nghiên cứu và hệ thống hoá những kinh nghiệm bản thân hoặc qua những lần giúp trị liệu cho các bệnh nhân.  Nhưng trên hết, yếu tố quyết định chính là việc tác giả chứng kiến sự tha thứ có khả năng chữa lành căn bệnh thể lý.  Sau đây lời thuật lại của tác giả.

 

“Tôi đã dùng tâm lý trị liệu cho một trung niên 55 tuổi, là một giáo sư đại học và là người đạo đức. Niềm say mê công việc và những vấn đề gia đình của ông đã làm cho ông suy sụp trong sự trầm uất, dẫn đến bệnh loét bao tử. Sau 10 lần trị liệu, bệnh nhân đã học được cách giải tỏa nỗi đau bằng cách diễn tả cụ thể sự thất vọng và tức giận đối với người vợ nghiện rượu, đứa con trai nghiện ma túy và đứa con gái say mê điên khùng một chàng trai mà ông ghét cay ghét đắng. Một lần tôi dùng đến kỹ thuật các chiếc ghế trống, mà mỗi chiếc ghế thay thế cho một thành phần trong gia đình của ông, và tôi gợi ý ông nói chuyện và tha thứ cho mỗi người trong bọn họ.  Lần đó là một lần trị liệu rất cảm động.  Nhiều lần, ông đã khóc nức nở khi nói lên lời tha thứ; và rồi ông cũng đã xin mỗi người trong bọn họ tha thứ cho ông về sự vắng mặt quá nhiều và sự thiếu quan tâm của ông với việc nhà.  Hai tuần sau buổi trị liệu ấy, ông báo cho tôi hay rằng các vết loét dạ dày của ông đã liền sẹo.  Tôi thật quá ngạc nhiên, làm sao sự tha thứ lại có hiệu lực chữa lành cả những căn bệnh thể lý!

Nhận thấy quyển sách này rất thực dụng giúp các Kitô hữu có thể sống trọn vẹn và hạnh phúc hơn, chúng tôi xin tóm tắt và cô đọng những tư tưởng chính của tác giả.  Hy vọng có thể làm một chút quà cho độc giả trong Mùa Chay 2006.  Sách “Làm Sao Tha Thứ” có 2 phần chính: phần đầu trình bày bản chất của sự tha thứ và phần hai trình bày 12 giai đoạn để thực hành tha thứ.  Chúng tôi chỉ xin tóm tắt chương III “Những Quan Niệm Sai Lầm Về Tha Thứ” của phần một, sau đó sẽ tóm tắt phần thực hành qua 12 giai đoạn của tác giả.

                                    NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ THA THỨ

1.  Tha thứ không phải là quên đi (not forgetting):

  • “Tôi không thể tha vì tôi không thể quên.” “Hãy lật sang trang mới”, “Đừng buộc mình vào sỉ nhục đó, hãy tiếp tục sống.”  Những kiểu nói và hành động như trên là không lối thoát bởi vì:

i.   Quên điều sỉ nhục sẽ cản trở việc tha thứ vì mình sẽ không còn biết phải tha thứ gì.

ii.  Nếu tha đồng nghĩa với quên thì điều gì sẽ xẩy ra cho những người có trí nhớ tự nhiên tuyệt vời.

  • Hành trình tha thứ đòi một trí nhớ tốt và một ý thức thật rõ ràng về điều xúc phạm.

  • Tha thứ giúp chữa lành ký ức: khi tha thứ, ký ức về thương tổn sẽ mất đi tính cay độc của nó, biến cố đau thương sẽ dần dần liền sẹo, và việc gợi nhớ lại điều xúc phạm không còn gây đau đớn nữa.

2.  Tha thứ không có nghĩa là phủ nhận (not denial):

  • Khi bị xúc phạm, phản ứng thông thường là xây cho mình một thành lũy để tránh bị đau đớn và những tình cảm tương tự.  Phản ứng tự vệ này thường có vẻ là sự chối bỏ điều xúc phạm.  Nếu phản xạ tự vệ kéo dài thì nó có thể trở thành nỗi u uất và làm cho ta mang bệnh; rồi vì chán nản nên cũng không cảm thấy cần chữa trị, và đương nhiên không muốn tha thứ.

  • Edith Stauffer trong Unconditional Love and Forgiveness định nghĩa tha thứ: “Tha Thứ, chính là hủy bỏ mọi yêu sách, điều kiện và mong muốn khỏi trí khôn, vì chúng làm ách tắc thái độ của tình yêu.” 

  • Phải chăng để tha thứ, trước hết, phải chối bỏ một phần chính mình?  Nếu thế thì rất nguy hiểm!  Tha thứ chân thật cần chú ý đến những cảm tính nữa (tức giận, xấu hổ).

3.  Tha thứ đòi hỏi nhiều hơn hành vi ý chí (more than willpower):  Hãy xét hai trường hợp sau:

  • Một bé trai bị nhốt trong phòng và buộc phải xin lỗi chị nó vì đã lục lọi nhật ký rồi sau đó chọc ghẹo chị.

  • Một cô giáo tách riêng hai đứa trẻ đang cãi nhau trong sân chơi và buộc chúng lập tức phải tha thứ nhau.

  • Nhiều người cho rằng tha thứ giống như một liều thuốc thần diệu có khả năng sửa đúng những sai phạm. 

  • Phải chăng tha thứ là một hành vi của ý chí mà thôi?  Phải chăng nó có thể thu xếp mọi xung đột cách tức thời và dứt điểm?  Tha thứ kiểu này chỉ là để làm dịu đi nỗi lo lắng của nhà giáo hơn là giáo dục đứa trẻ.  Tha thứ không những là hành vi của ý chí mà còn là kết quả của một tiến trình dài đồng thời cần phải huy động mọi quan năng của con người: cảm tính, con tim, trí tuệ, phán đoán, trí tưởng tượng, và nhất là đức tin.

4.  Tha thứ không thể bị bắt buộc (Cannot be given on command): 

  • Hoặc tha thứ là tự do tự nguyện, hoặc là không có tha thứ.  Một số mục tử hay bị cám dỗ là bắt buộc người ta tha thứ một cách tự do.

  • Không thể giản lược sự tha thứ vào một bó buộc luân lý; làm như thế là đánh mất đặc tính nhưng không và tự phát của tha thứ.

  • Lời nguyện xin tha thứ cho chúng con, như chúng con tha thứ cho những kẻ đã xúc phạm chúng con, thường được giải thích: tha thứ cho người khác là điều kiện để mình được Thiên Chúa tha thứ. Vậy hóa ra, sự tha thứ của Thiên Chúa bị điều kiện hoá bởi những tha thứ nhỏ nhoi của con người? Và lòng quảng đại của Thiên Chúa dựa trên luật có đi có lại của con người?  Nếu không có sự tha thứ của con người thì họ phải chịu những hình phạt là chính họ cũng không được tha thứ sao?

5.  Tha thứ không đem ta trở lại tình trạng như trước khi bị xúc phạm (not take us back to before offence's situation):

  • Nhiều người hiểu lầm tha thứ có nghĩa là hoà giải và hoà giải có nghĩa là trở lại tình trạng như trước; và như vậy, hành động tha thứ hệ tại việc tái lập các mối quan hệ giống hệt những mối quan hệ chúng ta đã có trước khi xúc phạm xẩy ra. Trong những mối quan hệ ruột thịt thì hoà giải phải là hậu quả của tha thứ; nhưng tự bản chất, tha thứ không đồng nghĩa với hoà giải.

  • Với một người vắng mặt, không biết mặt, hay đã qua đời, chúng ta có thể tha thứ cho họ nhưng không thể hoà giải với họ nữa.  Có những cha mẹ đã tha thứ cho kẻ sát nhân mà họ chẳng bao giờ biết mặt, những kẻ đã cướp đi mạng sống của con cái họ. 

  • Không thể múc lại trọn vẹn chén nước đã đổ.  Hoặc là chúng ta sẽ buộc phải tin là đã chẳng có gì xẫy ra - trong trường hợp này, chúng ta tái thiết lập một tương quan dựa trên một sự lừa dối; hoặc chúng ta lợi dụng cuộc đối đầu đó để xét lại phẩm chất của tương quan ấy và tái thiết lập nó trên một nền tảng vững chắc hơn.

6.  Tha thứ không đòi phải từ chối quyền lợi của mình (not giving up our rights):

  • Một thiếu phụ phản ứng khi nghe nói về tha thứ: “Cha nên thận trọng khi nói về tha thứ.  Thật là nguy hiểm và ghê tởm khi tha thứ cho những kẻ bất lương; vì như thế, chẳng phải là khuyến khích chúng tái phạm sao?”

  • Benard Shaw đã từng nói: “Tha thứ là chỗ ẩn núp cho những kẻ lừa đảo.” (haven of crooks).  Đôi khi các tín hữu bị trách cứ là đồng hóa tha thứ với một hình thức nhượng bộ cho những yêu sách của công lý, nhất là khi họ có khuynh hướng quá dễ dàng đưa cả ‘má bên kia.’

  • Tha thứ có liên quan mật thiết với công lý.  Tha thứ phát xuất từ lòng khoan dung tự nguyện còn công lý nhằm tái lập trên nền tảng khách quan các quyền lợi của người bị thiệt hại.

  • Tha thứ mà không chống lại bất công, thì chẳng phải là dấu hiệu của sức mạnh và can đảm, mà là dấu hiệu của sự yếu nhược và dung thứ cho sai lầm.  Điều này chỉ khuyến khích tội phạm tiếp tục phạm tội.

7.  Tha thứ không có nghĩa là biện giải cho đối phương (not to excuse the offender):

  • Đó không phải là lỗi của hắn.  Hắn đã không hiểu biết, đã bị ảnh hưởng bởi môi trường, bởi lối giáo dục’  (xét như thế thì không ai phải chịu trách nhiệm về bất cứ hành vi nào của y vì y không bao giời được hoàn toàn tự do, tự ý).

  • Tha thứ không có nghĩa là làm nhẹ trách nhiệm luân lý của người gây xúc phạm, hay biện giải cho hắn.

  • Biện giải cho đối phương thường là một sự ngụy trang mà nạn nhân dùng để làm vơi bớt nỗi đau của mình (nếu kẻ xúc phạm đã cố tình, cố ý, thì thật là điều xỉ nhục quá lớn và mình lại là một kẻ tồi như thế hay sao?).

  • Biện giải như vậy một mặt khinh thường kẻ xúc phạm (ngu dốt, không biết) mặt khác làm giảm giá trị của y.  Nó góp phần hạ nhục (làm cho người gây xúc phạm bớt tính người) hơn là giải thoát (xem Kịch La Grâce của Gabriel Marcel, Davy 1959, 115).

8.  Tha thứ không phải là tỏ ra mình trội hơn về mặt luân lý (not demonstrate moral superiority):

  • Có những hành vi tha thứ lại hạ nhục đối phương hơn là giải thoát hắn và như thế có thể biến thành một hành vi tinh tế của sự trội hơn về mặt luân lý.  Mặc lốt của lòng khoan dung, có thể nó che đậy một ước muốn quyền lực.

  • Tha thứ để loè quần chúng.  Kẻ tha thứ muốn phô trương sự cao cả luân lý của mình (tốt lành, thánh thiện) hầu làm nổi bật sự đê tiện, hèn hạ của kẻ gây ra xúc phạm.  Càng sử dụng sự tha thứ vào mục đính ấy, càng tự châm biếm mình.

  • Sự tha thứ đích thực phát xuất từ sự khiêm tốn và mở lối cho sự hoà giải đích thực; ngược lại, sự tha thứ giả tạo chỉ kéo dài cái tương quan giữa kẻ thống trị và người bị trị. 

  • “Nếu anh đã không tha thứ cho tôi vì yêu tôi, anh muốn tôi làm chi với sự tha thứ của anh?” (Lời nói của nhân vật nữ Claude của Gabriel Marcel, Un Homme de Dieu - A Man of God).

  • Tha thứ thực sự trên hết và trước hết phải là một hành vi của sức mạnh nội tâm.  Chúng ta cần sức mạnh nội tâm để nhận ra và chấp nhận sự thương tổn của mình chứ không ngụy trang nó bằng một dáng vẻ tốt lành.

9.  Tha thứ không là phó mặc cho Thiên Chúa (not leaving it up to God):

  • Ta thường nói Tha thứ thuộc về Thiên Chúa (To forgive is divine or Only God can forgive).  Không thể viện cớ để trút đổ hoàn toàn trách nhiệm tha thứ lên cho Thiên Chúa.  Thiên Chúa không làm thay cho chúng ta hành động này.

  • Chạy đến với Thiên Chúa là một yếu tố cốt yếu trong tiến trình tha thứ, nhưng ta cũng phải chuẩn bị mình để đón nhận hồng ân này của Chúa.

  • Sự tha thứ vừa là việc của con người vừa là việc của Thiên Chúa.  Tự nhiên và ân sủng không loại trừ nhau; chúng hợp tác với nhau và kiện toàn nhau (còn tiếp)

Tác giả: Lm. John Monbourquette O.M.I, Giáo sư tại Saint Paul University, Ottawa, Canada.

Nguyên bản Pháp Ngữ: COMMENT PARDONNER? xuất bản năm 1992.

Bản dịch Anh ngữ do: Kathy Poor & Bernadette Gasslein, Nxb. Novalis tái bản năm 2002.

Tóm lược: Fr. Jos. Trần Trung Liêm, O.P, Calgary, Canada, 2006

   Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

Ăn Chay và CẦu nguyỆn Qua các bẢn văn Tân ƯỚc

            Mátthêu 4:1-7
1 Bấy giờ Đức Giê-su được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ.2 Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thấy đói.3 Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Người và nói: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi! "4 Nhưng Người đáp: "Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra." 5 Sau đó, quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Người trên nóc đền thờ,6 rồi nói với Người: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá." 7 Đức Giê-su đáp: "Nhưng cũng đã có lời chép rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi."

Máthêu 6:16-18
16 "Còn khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi.17 Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm,18 để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

Máthêu 9:14-17
14 Bấy giờ, các môn đệ ông Gio-an tiến lại hỏi Đức Giê-su rằng: "Tại sao chúng tôi và các người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay? "15 Đức Giê-su trả lời: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay.16 Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng rách thêm.17 Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị nứt: rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới: thế là giữ được cả hai."

Mátthêu 17:14-21
14 Khi thầy trò đến với đám đông, thì có một người tới quỳ xuống trước mặt Đức Giê-su15 và nói: "Thưa Ngài, xin thương xót con trai tôi, vì cháu bị kinh phong và bệnh tình nặng lắm: nhiều lần ngã vào lửa, và cũng nhiều lần ngã xuống nước.16 Tôi đã đem cháu đến cho các môn đệ Ngài chữa, nhưng các ông không chữa được."17 Đức Giê-su đáp: "Ôi thế hệ cứng lòng không chịu tin và gian tà! Tôi còn phải ở với các người cho đến bao giờ, còn phải chịu đựng các người cho đến bao giờ nữa? Đem cháu lại đây cho tôi."18 Đức Giê-su quát mắng tên quỷ, quỷ liền xuất, và đứa bé được khỏi ngay từ giờ đó. 19 Bấy giờ các môn đệ đến gần hỏi riêng Đức Giê-su rằng: "Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy? "20 Người nói với các ông: "Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: "rời khỏi đây, qua bên kia!" nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được. 21 Giống quỷ này không chịu ra, nếu người ta không ăn chay cầu nguyện."

Luca 2:36-38
36 Lại cũng có một nữ ngôn sứ tên là An-na, con ông Pơ-nu-ên, thuộc chi tộc A-se. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm,37 rồi ở goá, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa.38 Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần bên, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giê-ru-sa-lem.

Luca 18:9-14
9 Đức Giê-su còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác:10 "Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người kia làm nghề thu thuế.11 Người Pha-ri-sêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.12 Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.13 Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.14 Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên."

Công vụ 13:2-5
2 Một hôm, đang khi họ làm việc thờ phượng Chúa và ăn chay, thì Thánh Thần phán bảo: "Hãy dành riêng Ba-na-ba và Sao-lô cho Ta, để lo công việc Ta đã kêu gọi hai người ấy làm."3 Bấy giờ họ ăn chay cầu nguyện, rồi đặt tay trên hai ông và tiễn đi.4 Vậy, được Thánh Thần sai đi, hai ông xuống Xê-lêu-ki-a, rồi từ đó đáp tàu đi đảo Sýp.5 Đến Xa-la-min, hai ông loan báo lời Thiên Chúa trong các hội đường người Do-thái. Có ông Gio-an giúp hai ông.

Công vụ 14:19-23
19 Bấy giờ có những người Do-thái từ An-ti-ô-khi-a và I-cô-ni-ô đến, thuyết phục được đám đông. Họ ném đá ông Phao-lô rồi lôi ông ra ngoài thành, vì tưởng ông đã chết.20 Nhưng khi các môn đệ xúm lại quanh ông, ông đứng dậy và vào thành. Hôm sau, ông trẩy đi Đéc-bê cùng với ông Ba-na-ba. 21 Sau khi đã loan Tin Mừng cho thành ấy và nhận khá nhiều người làm môn đệ, hai ông trở lại Lýt-ra, I-cô-ni-ô và An-ti-ô-khi-a.22 Hai ông củng cố tinh thần các môn đệ, và khuyên nhủ họ giữ vững đức tin. Hai ông nói: "Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa."23 Trong mỗi Hội Thánh, hai ông chỉ định cho họ những kỳ mục, và sau khi ăn chay cầu nguyện, hai ông phó thác những người đó cho Chúa, Đấng họ đã tin.

Công vụ 27:9-12
9 Chúng tôi đã mất khá nhiều thời gian, và việc đi biển từ nay thật nguy hiểm, vì ngày ăn chay đã qua rồi. Ông Phao-lô khuyên họ:10 "Thưa các bạn, tôi thấy rằng chuyến đi biển này sẽ gây nhiều thiệt hại và mất mát, chẳng những cho hàng hoá và con tàu, mà còn cho tính mạng chúng ta nữa."11 Nhưng viên đại đội trưởng tin tài công và chủ tàu hơn tin lời ông Phao-lô.12 Vì cảng không thích hợp cho tàu ở lại qua mùa đông, nên đa số có ý kiến lại ra khơi, để nếu có thể thì cập bến và qua mùa đông ở Phê-ních, một cảng khác trên đảo Cơ-rê-ta quay về hướng tây nam và tây bắc

   Trở về mục lục >>

 

š¶›

CHAY TỊNH…

Hoài Hương

Mùa Chay thường nhắc nhở chúng ta những điều căn bản sống tinh thần Mùa Chay: cầu nguyện - ăn chay – kiêng thịt. Giáo Luật dạy chúng ta thì có lẽ chẳng ai để ý nhiều, nhưng người Công giáo chúng ta thường lớn lên với giáo lý bất thành văn được truyền từ thời ông bà cha mẹ: ăn chay một năm hai lần, thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh; còn kiêng thịt là không ăn thịt vào các ngày thứ sáu trong Mùa Chay, đơn giản thế thôi. Ăn chay là ăn một bữa no, hai bữa còn lại ăn đói một chút, hoặc chỉ một bữa đói thôi, trong ngày không ăn vặt. Khi tiếp xúc với người ngoài Công giáo, như anh chị em bên Phật giáo hay Hồi giáo, người Công giáo mới thấy luật ăn chay kiêng thịt của đạo mình sao mà dễ dàng quá; thậm chí nếu phải kể ra luật ăn chay kiêng thịt của mình cũng cảm thấy hơi mắc cở vì quá đơn giản. Chính vì thế mà dần dần ngay chính người Công giáo cũng không ý thức được ý nghĩa của việc ăn chay kiêng thịt của mình, và do đó dễ có tâm lý coi thường hoặc dễ dàng quên mà không thấy áy náy. Hơn nữa, chắc ai cũng có tâm trạng vào mỗi ngày thứ tư Lễ Tro và thứ sáu Tuần Thánh, chúng ta lại dễ bị “cám dỗ” thèm miếng thịt, mở gói kẹo…ngày thứ sáu kiêng thịt thì lại tìm “hải sản” thay vào.

Hồi còn nhỏ, khi bắt đầu có trí khôn, được cha mẹ dạy bảo luật ăn chay kiêng thịt trước khi đến nhà thờ học giáo lý, tôi nhớ bố tôi thường hay kể lại câu chuyện ngày xưa cụ sống với các cha truyền giáo Tây Ban Nha. Những cha mang đầu óc thực dân ở đâu không biết, nhưng ông cụ thường kể chuyện biết được một linh mục có tên Việt nam là Llobera Yên, rất thương người Việt vì thấy họ vất vả quá. Cha đã nhiều lần tâm sự với ông thân sinh như sau: “Nếu cha mà là Đức Giáo Hoàng, thì cha sẽ không bắt người Việt nam phải ăn chay kiêng thịt, vì người Việt nam đã ăn chay kiêng thịt quanh năm rồi!” Câu chuyện xảy ra đã lâu, vị linh mục khả kính và cụ thân sinh đã quá vãng, thời cuộc cũng thay đổi nhiều, nhưng thực ra người đau khổ nghèo đói thì đời nào cũng có, và việc ăn chay kiêng thịt không chỉ mang ý nghĩa đơn sơ là ăn đói một bữa, và không ăn thịt ngày cấm đâu? Giáo Hội phải có lý do gì nhắc nhở chúng ta hơn trong mùa Chay chứ? Nhớ lại chuyện một năm gần đây, khi đi dự Đại Hội Giáo Lý hàng năm tổ chức tại Anaheim, California, Đức Hồng Y Roger Mahony, tổng giám mục của Tổng Giáo Phận Los Angeles trong bài giảng có kể câu chuyện về chính ngài. Đại Hội Giáo Lý thường tổ chức vào một cuối tuần trong Mùa Chay. Chuyện xảy ra vào buổi sáng khai mạc ngày thứ sáu, khi ĐHY đang dùng điểm tâm, thì có một tham dự viên dẫn một em bé vào ngồi gần đó. Ngài thấy khó chịu, vì Đại Hội Giáo Lý là dành cho người lớn, cho các giáo lý viên, các cha các thầy, các Sơ; có con nít vào đây chỉ gây thêm phiền hà lộn xộn. Đang khó chịu, thì đứa bé lại chỉ tay vào ngài, và hỏi mẹ: “Mẹ ơi, ông kia có phải là ông cha không?” Bà mẹ trả lời, “Đúng rồi, con.” Cậu bé tiếp lời, “Thế sao ông ấy không kiêng thịt hả mẹ, hôm nay thứ sáu mà…” “Give me a break!” “Để yên cho tôi, được không nào!” Đức Hồng Y phải thốt lên, nghẹn đi và không ăn nổi tiếp bữa ăn sáng, vì chính ngài cũng bận rộn với qua nhiều việc trong Đại Hội và quên mình đang ăn thịt vào ngày thứ sáu mùa Chay!

Kể lại những chuyện trên đây, chỉ muốn chia sẻ những kinh nghiệm đã qua, chúng tôi không muốn hàm ý và khuyến khích quý độc giả thân thương cứ việc ăn thịt vào ngày Giáo Hội buộc kiêng thịt, hoặc cứ ăn no và ăn vặt vào những ngày chay. Rõ ràng chúng ta không phạm lỗi nặng khi quên ăn chay kiêng thịt, nhưng để sống ý nghĩa đích thực của việc chay kiêng của mình, đặc biệt trong những ngày còn lại trong mùa Chay, chúng ta phải có những hiểu biết và sống khác hơn về việc chay kiêng: chứ không phải kiêng thịt là đi ăn đồ biển hoặc làm những món không phải là thịt nhưng làm những món (có khi còn tốn tiền hơn nhiều) và ăn chay là giữ trọn ngặt ngày hôm đó (còn hôm truớc và hôm sau thì bù lại ăn thả dàn, no say đầy bụng!)

Nhìn vào đời sống của Chúa Giêsu, chúng ta thấy ngài bắt đầu sứ vụ bằng việc vào sa mạc ăn chay bốn mươi ngày (Mt 4:2). Nhưng sau đó, ngài đói và trong cuộc đời sứ vụ, ngài đã nhiều lần bị phê phán là người mê ăn uống, chơi với phường tội lỗi (Lc 7:34). Rồi khi các môn đệ của thánh Gioan hỏi tại sao các môn đệ Chúa không ăn chay, ngài đã trả lời, “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay.” (Mt 9: 15). Chúng ta có thể rút ra một kết luận là việc ăn chay mang tâm tình, hình ảnh của việc đợi chờ ngày Chúa lại đến. Ăn chay là sống trong tâm tình chờ đợi chàng rể Giêsu đến lần thứ hai. Cuộc hôn nhân nhiệm màu của chú rể Giêsu và dân Thiên Chúa đã xảy ra, nhưng lại chưa trọn vẹn (here, but not yet) và thế là dân này tiếp tục chờ đợi chàng rể đến lần thứ hai, nghĩa là tiếp tục ăn chay. Ý nghĩa của chay tịnh do đó nói lên sự kết hợp huyền nhiệm và chờ đợi chàng rể, một mong ước ngày cánh chung trọn vẹn.

Việc chay tịnh kiêng cữ cũng giúp chúng ta được tự do không bị ràng buộc. Các thiền sư xưa nay đều cho rằng con người bị ràng buộc vào thân xác, do những đam mê sắc dục, tham sân si, cụ thể nhất là do miếng ăn thức uống đem lại. Ăn chay kiêng thịt không phải là điều Thiên Chúa cần hay đòi hỏi để ngài tha thứ, yêu thương. Nhưng ăn chay chính là để cho chúng ta vượt được những cám dỗ của đời sống mình để thanh thoát hơn trong đời sống mà tiến lên gần với đòi hỏi của tình yêu. Không phải chúng ta ăn chay để Chúa thương chúng ta, mà chính vì tình thương của Ngài đã giúp chúng ta chay tịnh, tức là thay đổi những đam mê xác thịt hay tinh thần của kiếp con người. Chúa đòi hỏi chúng ta từ bỏ con người của mình để theo Chúa cách đích thực hơn, “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” (Mt. 16:24). Khi con người không bị ràng buộc vào những cám dỗ đòi hỏi vật chất, con người dễ theo những tiếng gọi cho những ước vọng cao hơn. Gương sáng của Mẹ Têrêxa đã từ bỏ tất cả, kể cả nhà dòng cũ để ra đi phục vụ người cùng khổ, ban đầu với hai bàn tay trắng, chỉ tín thác vào Chúa cho chúng ta một gương gần gũì nhất. Thánh Phaolô cũng nhắc nhở chúng ta, “Anh chị em được kêu gọi