|
|
Số 75 Ngày 25-03-2006
Lễ Truyền Tin - Đức cha Germain Làm Theo Ý Chúa - Đức cha Bùi Tuần Lòng Yêu Thương và Tha Thứ của Thiên Chúa – Lm Vũ Xuân Hạnh Làm Sao Tha Thứ? – Lm. John Monbourquette, O.M.I - Lm Trần Trung Liêm, O.P. tóm lược Ăn Chay và Cầu Nguyện Qua Các Bản Văn Tân Ước Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J. Danh Sách 15 Tân Hồng Y – Lm. Trần Đức Anh, O.P. Esau và Giacóp - Trần Duy Nhiên Bạn của Người Con – Sưu tầm Lời Cầu Trong Đêm – Phan-xi-cô Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa Quý độc giả,
Trong tuần lễ vừa qua, bản tin thế giới loan báo nhiều biến cố có tầm vóc rộng lớn có ảnh hưởng đến cả một quốc gia, thậm chí đến toàn thể thế giới. Tại Liên Hiệp Quốc, Tổng Thư Ký Kofi Annan trình ra một loạt cải cách nhằm tổ chức lại guồng máy các văn phòng, thay đổi các lề lối và cơ chế làm việc, để cho phù hợp với thực tại hôm nay. Tại Pháp, các cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn học sinh sinh viên yêu cầu chính phủ rút lại luật ‘Hợp đồng việc làm đầu tiên’ (CPE: Contrat de première embauche) đã bắt đầu đi vào bạo động. Xe cộ bị đốt, hơn 420 người biểu tình bị bắt, khoảng 60 người bị thương trong số đó có nhiều cảnh sát. Tại Thái Lan, làn sóng người biểu tình yêu cầu Thủ Tướng từ chức không ngớt gia tăng, mặc dù bị sự phản đối của những người biểu tình khác ủng hộ Thủ Tướng. Tại Việt Nam, thứ trưởng bộ Giao Thông Vận Tải được Ban Công An Điều Tra mời lên làm việc nhiều ngày để làm rõ những nghi vấn về tham ô của những người nắm vai trò rất quan trọng trong guồng máy Nhà Nước. Những tin này đều là những tin gây bất bình an, dù cho mục tiêu vẫn là nhắm phục vụ lợi ích của người dân. Bên lề những tin nhức nhối ấy, thì cũng có những tin đầy yên ủi. Tại Hàn Quốc, Tổng thống Roh Moo-hyun vừa bổ nhiệm bà Han Myung-sook làm thủ tướng thay cho thủ tướng Lee Hae-chan vừa từ chức hồi tuần trước. Bà có thể sẽ trở thành nữ thủ tướng đầu tiên của đất nước này nếu việc bổ nhiệm được Quốc Hội thông qua. Tại Vatican, Đức Thánh Cha Bênêditô XVI triệu tập Đại Hội Hồng Y đầu tiên kể từ ngày Đức Gioan Phaolô II qua đời, để bàn bạc về những cách thức đối diện với những đòi hỏi của thời đại. Cũng trong dịp này, ngày 24. 3. 2006, ngài cũng tấn phong cho 15 tân hồng y thuộc 11 quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, những tin tức vang dội thế giới này cũng không che khuất được một tin tức được loan báo cách đây hơn 2000 năm cho một thiếu nữ rất trẻ nơi một làng quê nhỏ bé tại Palestine. Thiếu nữ ấy tên là Maria, người báo tin là thiên thần Gabriel, và mẩu tin âm thầm nhưng có sức mạnh thay đối bộ mặt thế giới, ấy là Thiên Chúa mượn cung lòng người nữ ấy để đến chia sẻ nếp sống của loài người. Xét cho cùng, những tin sốt dẻo trong tuần qua không ảnh hưởng gì bao nhiêu đến cuộc sống của bạn và tôi… Có thay đổi chăng là đối với một số người làm việc tại trụ sở Liên Hiệp Quốc, với giới trẻ tại Pháp, với nhân dân ở Hàn Quốc. Và ngay cả vấn đề tham ô tại Việt Nam, nếu có bằng chứng là một hai thứ trưởng tham ô đi nữa, thì cũng chỉ thêm một viên thuốc đắng cho người Việt Nam vì nhận ra rằng có những người ở cấp lãnh đạo đất nước đã ‘bóc lột’ mình một cách tàn nhẫn. Có biết mình bị bóc lột hay không thì mọi sự cũng đã rồi, không ai có thêm được một cái gì cả! Ngay cả sự tấn phong 15 hồng y thì cũng là chuẩn bị cho một cuộc bầu giáo hoàng tương lai chứ không động chạm đến đời sống tâm linh của cá nhân của từng Kitô hữu. Tuy nhiên, biến cố Truyền Tin, dù đã 2000 năm qua rồi, thì vẫn còn mang tính thời sự và liên quan mật thiết đến đời sống Kitô hữu của mỗi một chúng ta. Thật vậy, ‘Đức Giêsu Kitô hôm qua, hôm nay vẫn là một, và cho mãi đến muôn đời.’ (Dt 13:8). Hôm xưa, Ngài đã nhập thể trong cung lòng của một Evà mới, và Con Người tiêu biểu cho nhân loại này đã biến lòng mình thành Đền Thờ cho Chúa Ngự. Ngày hôm nay, Chúa vẫn nhập thể trong cung lòng của mỗi người, để chúng ta trở nên đền thờ của Chúa Thánh Thần. Quả thật, trong Mùa Chay Thánh này, khi nhìn lại cõi lòng của mình, ít ai dám tự xưng mình đủ tư cách để làm một Đền Thờ như thế. Với biết bao điều dơ bẩn chồng chất theo thời gian, cõi lòng mình không còn giống như một Đền Thờ của Thiên Chúa, có giống chăng là giống một chuồng heo, chuồng bò. Mấy ai trong chúng ta được xứng đáng như Đức Mẹ, để dâng lên Thiên Chúa một cung lòng tinh tuyền vẹn sạch? Tuy nhiên, xưa kia Chúa cũng từng chọn ‘chuồng bò Bêlem’ để đến với con người, thì ngày nay, Ngài cũng vẫn sằn sàng biến ‘chuồng bò’ của mỗi tâm hồn của chúng ta thành nơi Ngài ngự, miễn là chúng ta biết học nơi Đức Mẹ để nói lên lời ‘Fiat’ trong tâm tình phó thác vào quyền năng và tình yêu của Ngài. Vì thế, Maranatha 75 sẽ suy niệm về thái độ của Đức Mẹ trong ngày Truyền Tin, từ đó tìm ra con đường đón Chúa qua tinh thần vâng phục, đồng thời biết đón nhận và tha thứ cho anh em theo gương của Thiên Chúa đối xử với mỗi một chúng ta. Chớ gì thông qua những bài học nơi Đức Mẹ, chúng ta can đảm cậy trông vào Tình Yêu vô biên của Thiên Chúa, để sống trọn vẹn và sốt sắng những ngày còn lại của Mùa Chay này, mà biến lòng mình thành ‘chuồng thờ’ của Ngài. Và bấy giờ, chúng ta sẽ sẵn sàng để khẩn cầu: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến! MARANATHA
Đức Cha Germain Chính tổng lãnh thiên thần Gabriel đã loan báo cho Đức Maria Mầu Nhiệm Nhập Thể. Khi các phụ nữ đến mộ của Chúa Kitô để tìm kiếm Ngài, thì cũng chính thiên thần Gabriel đã loan báo biến cố phục sinh và dặn dò: “Đừng tìm kiếm Ngài, Ngài không có ở đây, Ngài chờ đợi anh em ở Galilê.” Qua hai sự kiện này, ta thấy có một sự thống nhất lạ lùng trong mầu nhiệm. Tôi cầu mong sao cho Lễ Truyền Tin năm nay sinh lợi cho tất cả anh chị em. Muốn như thế, tôi mời gọi anh chị em nhìn ở mọi góc cạnh, vì nếu nhìn vào chính giữa thì Mầu Nhiệm sẽ vượt khỏi trí khôn chúng ta, nhưng nếu nhìn ở các đường viền chung quanh thì mình lại cảm nhận được mầu nhiệm ấy. Đức Maria là nhân vật duy nhất mà trong Phúc Âm Chúa Kitô đã gọi là “Người Nữ” (viết bằng chữ hoa). Ngài đã tặng Đức Maria hai lần danh hiệu này, Ngài không gọi Bà là Mẹ hay Maria, ngài gọi là Người Nữ. Chẳng hạn tại tiệc cưới Cana, Ngài nói: “Người Nữ ơi, Người muốn tôi làm gì?” và trên Thập Giá, Ngài đưa tay về hướng tông đồ Gioan mà nói với Bà: “Người Nữ ơi, đây là con của Người!” Chưa bao giờ người nói với một người nam mà bảo rằng “Người Nam ơi!” nhưng Ngài đã nói như thế với một Người Nữ, và chỉ với một người duy nhất, ấy là Đức Maria. Điều này cho thấy rằng danh hiệu Người Nữ đã được chu toàn, được hoàn tất trong Đức Maria. Điều gì đã được hoàn tất trong Đức Maria khiến Mẹ được viên mãn đến như thế? Chính Mẹ là người đã cưu mang trong lòng mình và sinh ra cho đời một vị Thiên Chúa, một điều chưa từng xảy ra trên vũ trụ này. Vai trò người nữ, hay đúng hơn vai trò duy nhất của người nữ, ấy là sinh hạ, là cho ra đời. Tất cả chúng ta đều thông qua cung lòng của một người mẹ. Đức Mẹ là tuyệt tác của toàn thể nhân loại trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Thiên Chúa đã chọn Mẹ, đã đoái nhìn đến Mẹ, không phải vì Mẹ có một công trạng gì đặc biệt, nhưng vì Mẹ hội tụ toàn bộ tinh thần của nhân loại cũng như tất cả mọi nỗ lực tác sinh một thọ tạo cao vời và độc nhất vô nhị. Ta hãy nhớ lại điều này: Sau khi tạo thiên lập địa, Thiên Chúa đến cạnh con người mà đề nghị: “Nếu ngươi muốn, Ta đề nghị ngươi yêu mến Ta. Và nếu ngươi yêu mến trong sự thật, chẳng hạn yêu mến thế giới dưới kia, toàn bộ thế giới với thú vật, cây cỏ, đất đai; nếu ngươi thực hiện điều đó, thì Ta sẽ yêu mến ngươi và ban cho người sự sống của chính Ta.” Như vậy, khi ta trở thành Kitô hữu, thì Thiên Chúa cũng đề nghị: “Nếu con muốn, Cha sẽ trở thành người bạn chí thiết của con, nghĩa là Cha sẽ sinh ra để đón nhận sự sống giống con. Cha là đấn dựng nên con, thế nhưng Cha sẽ trở nên một người giữa mọi con người.” Lời đề nghị của Đấng Tạo Dựng hầu như là một nghịch lý: Người không tông cửa mà vào. Đấy là điều mà ta gọi là Sự Công Bình của Thiên Chúa. Công bình chính là tôn trọng bằng mọi giá sự tự do của Hữu Thể, sự tự do của con người: Người đến để ‘xin phép’ và cánh cửa đã mở ra đến cho Thiên Chúa đến với loài người. Cánh cửa cuối cùng được mở ra, chính là Đức Maria, và Thiên Chúa đã đi vào cung lòng Mẹ. Đức Maria từng ở trong Đền Thờ, và Mẹ biết rất rõ về các thiên thần. Vì thế, điều làm Mẹ ngạc nhiên không phải là thiên thần Gabriel xuất hiện, nhưng mà là điều sứ thần nói, sau đó là lời đáp trả của Mẹ: “Xin vâng, vì tôi là tôi tá của Chúa.” Xin dừng lại đây một phút: tôi không hiểu là trong cuộc đời của chính anh chị em, có bao giờ anh chị em cảm thấy rằng con người của mình, cuộc sống của mình là một ngục tù không. Chúng ta bị trói chặt vì hoàn cảnh, nghề nghiệp, một loại biến cố, thậm chí vì linh hồn mình. Chưa thời đại nào mà lại có nhiều người bị khủng hoảng âu lo, bị suy nhược thần kinh như thời đại chúng ta. Vì sao như vậy? Bởi vì người ta đã xua đuổi Thiên Chúa ra khỏi nền văn minh của mình từ bốn thế kỷ qua. Vì thế, khi chúng ta đang ở trong ngục tù đó mà có thể thốt lên từ cõi lòng mình: “Lạy Chúa, Xin Hãy Đến!” thì Người sẽ đến! Và lúc ấy, giống như Đức Mẹ, chúng ta làm câm miệng cách suy nghĩ, những ưu tư lo lắng của mình mà tìm hiểu cách thức mà Vị Thiên Chúa ấy suy nghĩ và hành động. Đấy là điều mà Đức Maria đã làm để mở cánh cửa cuối cùng. Thiên thần Gabriel bảo rằng: “Cô sẽ thọ thai,” nhưng làm thế nào một trinh nữ có thể thọ thai mà không cần đến người nam? Đức Maria đã nêu lên lời chất vấn duy nhất để xác nhận rằng điều bất khả ấy sẽ trở thành hiện thực. “Tôi sẽ sinh con, nhưng tôi không liên hệ gì với người nam!” Tất cả chúng ta đều có thể làm như thế đối với Thiên Chúa theo cách thức mà Người thể hiện đối với chúng ta, nghĩa là Người sẽ mặc khải cho chúng ta một hình thức bất khả, và cái bất khả xuất hiện trước mắt chúng ta và thường đi trước những thắc mắc của chúng ta. Những thắc mắc ấy rồi sẽ được giải quyết, bởi vì nếu ta tự do hiến dâng cho Chúa thì Người sẽ tự do đem đến giải pháp. Đấy là điều cao cả nơi Đức Mẹ. Đấy là một dạng tự do trọn vẹn của một người biết ngắm nhìn và lắng nghe chính tác giả của tự do và hai hữu thể gặp nhau để đem lại hoa trái tự sự gặp gỡ đó. Đức Mẹ là Đấng tổng hợp trời và đất, và những tương quan giữa trời và đất. Chính vì thế mà Mẹ trở thành một nhân vật có sự quyền năng phi thường. Tất cả chúng ta hãy trở thành những con người tự do, và qua đó làm vinh danh Thiên Chúa cho đến thiên thu vạn đại. Amen ¶
Ðức Cha J.B. Bùi Tuần Sắp đến lễ Truyền Tin. Khi cử hành lễ trọng này, các chủ tế thường giảng về lời Đức Mẹ "xin vâng", cộng đoàn cũng hay đồng ca lời "xin vâng" của Đức Mẹ. Đến nay, lời "xin vâng" của Đức Mẹ trong biến cố truyền tin đã trở thành một gương mẫu "Sống Lời Chúa" cho nhiều tín hữu tại Việt Nam ta. Nhận xét này báo cho chúng ta một tin vui. Để góp phần nhỏ vào tin vui này, tôi xin phép được chia sẻ kinh nghiệm về cách sống "xin vâng". Tất nhiên chia sẻ này sẽ rất giới hạn. Nó được diễn tả như một hành trình. Hành trình này có những chặng như sau: 1/ Nhận thức về bổn phận "phải làm theo ý Chúa""Xin vâng" không phải là nói theo công thức đạo đức, mà là một lời hứa sẽ làm theo ý Chúa. Chúa Giêsu phán: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: 'Lạy Chúa, lạy Chúa' là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi" (Mt 7,21). "Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví như người ngu dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành" (Mt 7,24-27. Lời Chúa trên đây dạy ta phải chú trọng đến thực hành. Đừng xin vâng như một lễ nghi. Nghe rồi, nói rồi, hứa rồi, là kể như xong. Xin vâng kiểu đó chỉ là một cách giữ đạo hình thức. Kết quả sẽ rất tai hại. Phải đặt trong lời xin vâng một quyết tâm làm theo ý Chúa. Làm thực sự, làm đến nơi đến chốn. 2/ Nhận thức mình yếu đuối, tội lỗi, tối tămQuyết tâm làm theo ý Chúa là điều khởi đầu không được thiếu. Nhưng liền sau quyết tâm đó sẽ không phải là động lực tự phụ, tự đắc. Nhưng là một nhận thức khiêm nhường về bản thân mình. Nhận thức khiêm nhường đó có thể diễn tả như lời tự thú của thánh Phaolô xưa: "Điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại làm... Bởi đó, tôi khám phá ra luật này: Khi tôi muốn làm sự thiện, thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay. Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Chúa. Nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: Luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí và giam hãm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể của tôi. Tôi thực là người khốn nạn. Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (Rm 7,15-26). Lời tự thú trên đây của thánh Phaolô là một sự thực sống động. Mỗi người trong chúng ta đều đã và đang cảm nghiệm sự thực đó nơi bản thân mình. Cảm nghiệm này cần được ta nói lên với Chúa một cách khiêm nhường. Riêng tôi, hằng giờ và từng phút, tôi vẫn nhìn lên Chúa, với tấm lòng của trẻ thơ yếu đuối, rất xác tín lời Chúa phán xưa: "Không có Cha, chúng con không thể làm gì được" (Ga 15,5). Tôi không thể làm được điều gì tốt, nhưng lại rất có thể làm được nhiều điều không tốt trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót. Nhất là những thiếu sót thì vô số kể. Nhận thức mình yếu đuối, hèn hạ, tối tăm sẽ không là một cái nhìn bi quan bệnh hoạn, nhưng sẽ là một cái nhìn đúng sự thực, lành mạnh, đưa tới một nhìn nhận mang tính cách cứu độ. 3/ Nhìn nhận mình cần đón nhận Chúa và ở trong Chúa cứu độChúa Giêsu phán: "Thầy là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào Thầy, thì không ở lại trong bóng tối" (Ga 12,48). Tôi tin lời Chúa trên đây. Từ niềm tin ấy, tôi khao khát cầu xin Chúa đến với tôi. Đời tôi trở thành một thao thức đợi chờ. Đợi chờ một Thiên Chúa đang đến. Khi Người đến, gặp thấy lòng con người thao thức về sự cứu độ, Người sẽ thương đốt lên trong lòng họ lửa tin mến nồng nàn. Họ sẽ được Người chia sẻ cho dần dần kế hoạch làm theo ý Chúa. Họ sẽ làm. Chúa cũng sẽ làm với họ. Họ cảm nghiệm được một sự an ổn thiêng liêng. Cho dù nhiều lúc, họ không tránh được đau khổ. Nhất là khi họ thấy một lời Chúa phán xưa sẽ phải được thực hiện nơi họ: "Thật, Thầy bảo thật các con, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không thối đi, thì nó vẫn trơ trơ một mình. Còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác" (Ga 12,24). Cùng đi sâu vào con đường cứu độ, mà Chúa Giêsu đã đi, kẻ muốn làm theo ý Chúa càng cảm thấy cần phải gắn bó với Người. Gắn bó chặt chẽ và sống động như cành cây với thân cây. Như Chúa Giêsu đã quả quyết: "Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái" (Ga 15,5). Từ kinh nghiệm ấy, sự luôn ở lại trong tình thương của Chúa trở thành một vấn đề bức xúc. Nó sẽ có liên hệ mật thiết với sự bình an, mà Chúa hứa ban riêng cho những ai làm theo ý Chúa. Như Chúa Giêsu đã hứa: "Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban cho các con sự bình an của Thầy. Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng" (Ga 14,27). Ai đã được nếm sự bình an này, sẽ rất chân thành nhìn nhận: Khi mình làm theo ý Chúa, thì có sự bình an. Sự bình an mà mình được, hoàn toàn không do công phúc của mình, nhưng do Chúa ban cho mà thôi. Chia sẻ trên đây chẳng có gì lạ. Tuy nhiên, hy vọng nó cũng được coi là một nhắn gởi của một người lớn tuổi, đã trải qua nhiều chặng đường lịch sử rất phức tạp. Nhìn lại đời mình, tôi thấy: Chỉ có sự thao thức làm theo ý Chúa mới đáp lại được ơn gọi Chúa đã dành cho mình. Tôi nhìn lại với tâm tình cảm tạ và vô vàn thống hối ăn năn. Hiện nay, chủ nghĩa cá nhân và thực dụng đang rất mạnh. Nó dụ dỗ những người tin Chúa hãy sống theo ý riêng mình, hãy đua đòi làm theo ý thế gian. Tình hình này rất nguy hiểm cho tương lai đạo đức Phúc Âm. Vì thế, lời "xin vâng" của Đức Mẹ nên được coi là một nhắn gởi tha thiết. Rất mong các môn đệ Chúa hãy đón nhận, để suốt đời mình sẽ là một dòng thiện chí tuyệt đối phó thác làm theo ý Chúa, mặc dù ý Chúa thường rất khác ý thế gian và ý riêng ta
¶
MÙA CHAY
LÒNG YÊU THƯƠNG THA THỨ CỦA THIÊN CHÚA Lm. Vũ Xuân Hạnh Tại một nhà thờ bên Tây Ban Nha có một tượng thánh giá rất đặc biệt: Chúa Giêsu chịu đóng đinh có một tay trái và hai chân, tay phải rời khỏi lỗ đinh và đưa ra phía trước trong tư thế như đang ban phép lành. Chuyện kể rằng, một lần, tại nhà thờ này có một tội nhân đến xưng tội. Đối với một tội nhân có quá nhiều tội nặng như anh ta, vị linh mục rất nghiêm khắc và ngăm đe nhiều điều. Nhưng chứng nào vẫn tật đó. Ra khỏi tòa giải tội ít lâu, hối nhân lại tiếp tục sa ngã. Rất nhiều lần như thế. Cuối cùng, vị linh mục đành răn đe: “Tôi không muốn anh vấp lại những tội như thế nữa. Đây là lần cuối cùng, tôi tha tội này cho anh.” Hối nhân ra khỏi tòa giải tội mà lòng trĩu nặng và đau khổ. Được vài tháng sau, anh ta lại đến xưng tội, và xưng cũng cùng những tội nặng y như những lần trước. Vị linh mục dứt khoát: “Anh đừng có đùa với Chúa. tôi không tha!” Thật lạ lùng. Ngay lập tức, vị linh mục cùng hối nhân đều nghe có tiếng thì thầm phía bên trên đầu mình. từ cây thánh giá, bàn tay phải của Chúa Giêsu được rút ra khỏi lỗ đinh và ban phép lành cho hối nhân. Vị linh mục nghe được tiếng thì thầm ấy nói với chính mình: “Ta là người đổ máu ra cho người này chứ không phải con.” Kể từ đó, bàn tay phải của tượng Chúa Giêsu chịu nạn không gắn vào thánh giá nữa, nhưng vẫn giữ tư thế đang ban phép lành, như không ngừng mời gọi: “Hãy trở về với Ta, các ngươi sẽ được tha thứ.” Lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa trong cuộc đời là điều có thật, không phải chỉ vì Hội Thánh và giáo lý của Hội Thánh dạy như thế, nhưng là vì sự cảm nghiệm của con tim bao nhiêu người, nhất là nơi các vị thánh trên suốt dòng lịch sử Hội Thánh. Lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa lớn lắm, mạnh lắm, làm cho người trong cuộc, một khi thấy mình tội lỗi ê chề bao nhiêu, thì càng yêu mến chân thành bấy nhiêu. Lòng tha thứ đó, có lẽ, dù có đem trời cao, biển rộng mà so sánh, thì sự so sánh ấy vẫn khập khiễng như thường. Bởi lòng tha thứ của Thiên Chúa lớn cho đến mức, tội lỗi dù có quá sức chịu đựng của lòng người, Thiên Chúa vẫn một lòng tha thứ. Người tha thứ đến cùng. Dẫu cho mọi người rất kinh nghiệm về nỗi yếu đuối của mình, nhưng vẫn khó tha thứ cho anh chị em, thì Thiên Chúa không mảy may vướng một lỗi lầm nào, lại rất dễ dàng tha thứ. Đọc Tin Mừng Chúa nhật thứ IV mùa Chay, ngay câu đầu tiên, câu nói của Chúa Giêsu: “Như Môisen giương cao con rắn ở sa mạc thế nào, Con Người cũng sẽ giương cao như vậy,” tôi bỗng nhớ tới câu chuyện cảm động trên, để càng cảm nhận rất nhiều lần rằng: Thiên Chúa là Chúa của tình yêu. Tha thứ là khuôn mặt chói ngời của tình yêu Thiên Chúa. bởi tôi nhận ra trong câu nói của Chúa Giêsu bộc lộ cả một nỗi lòng khoan dung tha thứ của Thiên Chúa. Vậy câu nói của Chúa Giêsu: “Như Môisen đã giương cao con rắn ở sa mạc thế nào, Con Người cũng sẽ giương cao như vậy,” có liên quan thế nào với tình yêu tha thứ của Thiên Chúa? Quay về câu chuyện con rắn đồng trong sa mạc, sẽ cho ta câu trả lời. Sau khi xuất Aicập, bốn mươi năm ròng rã trong hoang địa, dân Israel gặp mọi thử thách. Họ oán trách Chúa đã để họ lầm than. Một lần cơn thịnh nộ của Chúa đã để cho rắn độc cắn chết nhiều người. dân Chúa quá sức khiếp sợ. Họ nhìn nhận tội lỗi của mình, và Chúa đã đoái thương nỗi thống khổ của họ. Người dạy ông Môisen hãy làm một con rắn bằng đồng, treo lên cây, để bất cứ ai bị rắn cắn, nếu nhìn lên con rắn đồng, sẽ được cứu. Như vậy, khi con rắn đồng được giương lên, thì ngay chính lúc đó, lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa lại tỏa sáng và trao ban. Từ nay, Thiên Chúa sẽ cứu sống dân, những kẻ đã từng oán trách, thậm chí chống đối Người. Hình ảnh con rắn đồng là biểu trưng của Đấng Cứu Chuộc. Cũng như con rắn đồng được giương cao, Chúa Kitô sẽ giương cao như vậy. Nếu con rắn đồng nói lên lòng tha thứ, thì Chúa Kitô được giương cao, chính là lòng tha thứ của Thiên Chúa đạt đến tuyệt đối, chiếu sáng ngời ngời và lan tỏa đến bất cứ người nào đã từng được sinh làm người trong cuộc đời. Chúa Kitô giương cao, nghĩa là lòng tha thứ của Thiên Chúa giương cao cho cả nhân loại nhìn vào mà học lấy, mà tha thứ cho nhau. Lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa mạnh lắm, mạnh đến nỗi, Thiên Chúa như ném chính Người Con duy nhất và yêu quý nhất của mình cho trần gian để thực hiện lòng tha thứ đối với chính trần gian vô vàn lần xúc phạm Thiên Chúa. Trong mạch văn của bài Tin Mừng, thánh Gioan còn ghi thêm chính lời Chúa Kitô: “Thiên Chúa yêu trần gian đến nỗi đã ban chính Con Một… Thiên Chúa không sai Con của Người đến luận phạt trần gian, nhưng để trần gian nhờ Con của Người mà được cứu độ.” Thiên Chúa luôn ở về phía chúng ta để ra tay cứu chứ không phải phạt. Mùa Chay là mùa của lòng yêu thương tha thứ. Bởi thế, việc ăn chay trong mùa Chay, trước hết phải là xóa bỏ hận thù và tha thứ. Nhưng để có tha thứ, cần đến sự hòa giải. Anh chị em mất lòng nhau, anh chị em có hố sâu ngăn cách bởi hận thù. Tinh thần chay tịnh đòi anh chị em phải lấy lại lòng nhau, phải lấp đầy những ngăn cách, để những gì thuộc về thù hận bị chôn xuống, những gì là trao ban, là yêu thương sẽ bùng lên, vươn mạnh. Anh chị em và tôi hãy nhớ kỹ, nhớ rõ hai điều quan trọng: Làm sao có thể tha thứ, nếu không bao giờ muốn hòa giải; làm sao có thể nhận được ơn tha thứ, nếu không biêt tha thứ. Chẳng biết câu chuyện về cánh tay Chúa Giêsu trên thánh giá ban phép lành để tuôn đổ ơn tha thứ cho tội nhân thực hư thế nào, nhưng lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa ngàn đời vẫn thế: bền vững và cao ngất. Câu chuyện có thể không có thật, nhưng lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa mãi mãi vẫn thật. Vì thế, dẫu cho không có thật, câu chuyện vẫn đáng quý, vì nó phản ánh một sự thật rất thật: LÒNG THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG THA THỨ. Câu chuyện càng đáng quý, khi nó giúp ta ghi lòng tạc dạ để học lấy lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa mà tha thứ cho anh chị em. Thiên Chúa đã không dạy bài học tha thứ suông, nhưng đã dạy bài học tha thứ bằng chính mạng sống của Chúa Kitô. Nếu ngày xưa, con rắn đồng trong sa mạc được giương lên, thì hôm nay, chính Chúa Kitô được giương lên. Mãi mãi chúng ta biết ơn Chúa Kitô và khắc sâu lời của Người: “Như Môisen đã giương cao con rắn ở sa mạc thế nào, Con Người cũng sẽ giương cao như vậy.” ¶ THỰC HÀNH THA THỨ QUA 12 GIAI ĐOẠN Lm. John Monbourquette O.M.I.- Tóm lược: Lm. Trần Trung Liêm, O.P.
Tầm quan trọng của tha thứ: Một thế giới không có tha thứ sẽ rơi vào một trong bốn tình trạng sau: 1. Trường tồn hóa nỗi đau 2. Sống với sự oán hận triền miên 3. Sống chôn vùi trong quá khứ 4. Tìm cách trả thù “Muốn hạnh phúc trong một giây lát? Hãy trả thù. Muốn hạnh phúc dài lâu? Hãy tha thứ.” (Henry Lacordaire, O.P.)
Quyển sách “Làm Sao Tha Thứ?” là kết quả của một nghiên cứu và suy tư lâu dài được nuôi dưỡng bởi những kinh nghiệm điều trị và những kiến thức chuyên môn của tác giả; mục đích là để cung cấp một hướng dẫn thực tiễn giúp người đọc tha thứ qua các giai đoạn cụ thể. Sau đây là những lý do chính làm cho cuốn sách này được ra đời.
Hơn ba năm trời, tác giả đã cố gắng để vượt qua một vết thương lòng. Tác giả tưởng đã tìm được giải đáp bằng một hành vi tha thứ thuần túy bằng ý chí, nhưng tác giả đã lầm vì vẫn không tài nào được bình an nội tâm; mà ngược lại, tức giận, cay cú, lo lắng vẫn tồn tại trong lòng. Nhận thức này là một trong những yếu tố chính thúc đẩy tác giả tìm hiểu, nghiên cứu và hệ thống hoá những kinh nghiệm bản thân hoặc qua những lần giúp trị liệu cho các bệnh nhân. Nhưng trên hết, yếu tố quyết định chính là việc tác giả chứng kiến sự tha thứ có khả năng chữa lành căn bệnh thể lý. Sau đây lời thuật lại của tác giả.
“Tôi đã dùng tâm lý trị liệu cho một trung niên 55 tuổi, là một giáo sư đại học và là người đạo đức. Niềm say mê công việc và những vấn đề gia đình của ông đã làm cho ông suy sụp trong sự trầm uất, dẫn đến bệnh loét bao tử. Sau 10 lần trị liệu, bệnh nhân đã học được cách giải tỏa nỗi đau bằng cách diễn tả cụ thể sự thất vọng và tức giận đối với người vợ nghiện rượu, đứa con trai nghiện ma túy và đứa con gái say mê điên khùng một chàng trai mà ông ghét cay ghét đắng. Một lần tôi dùng đến kỹ thuật các chiếc ghế trống, mà mỗi chiếc ghế thay thế cho một thành phần trong gia đình của ông, và tôi gợi ý ông nói chuyện và tha thứ cho mỗi người trong bọn họ. Lần đó là một lần trị liệu rất cảm động. Nhiều lần, ông đã khóc nức nở khi nói lên lời tha thứ; và rồi ông cũng đã xin mỗi người trong bọn họ tha thứ cho ông về sự vắng mặt quá nhiều và sự thiếu quan tâm của ông với việc nhà. Hai tuần sau buổi trị liệu ấy, ông báo cho tôi hay rằng các vết loét dạ dày của ông đã liền sẹo. Tôi thật quá ngạc nhiên, làm sao sự tha thứ lại có hiệu lực chữa lành cả những căn bệnh thể lý! Nhận thấy quyển sách này rất thực dụng giúp các Kitô hữu có thể sống trọn vẹn và hạnh phúc hơn, chúng tôi xin tóm tắt và cô đọng những tư tưởng chính của tác giả. Hy vọng có thể làm một chút quà cho độc giả trong Mùa Chay 2006. Sách “Làm Sao Tha Thứ” có 2 phần chính: phần đầu trình bày bản chất của sự tha thứ và phần hai trình bày 12 giai đoạn để thực hành tha thứ. Chúng tôi chỉ xin tóm tắt chương III “Những Quan Niệm Sai Lầm Về Tha Thứ” của phần một, sau đó sẽ tóm tắt phần thực hành qua 12 giai đoạn của tác giả. NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ THA THỨ 1. Tha thứ không phải là quên đi (not forgetting):
i. Quên điều sỉ nhục sẽ cản trở việc tha thứ vì mình sẽ không còn biết phải tha thứ gì. ii. Nếu tha đồng nghĩa với quên thì điều gì sẽ xẩy ra cho những người có trí nhớ tự nhiên tuyệt vời.
2. Tha thứ không có nghĩa là phủ nhận (not denial):
3. Tha thứ đòi hỏi nhiều hơn hành vi ý chí (more than willpower): Hãy xét hai trường hợp sau:
4. Tha thứ không thể bị bắt buộc (Cannot be given on command):
5. Tha thứ không đem ta trở lại tình trạng như trước khi bị xúc phạm (not take us back to before offence's situation):
6. Tha thứ không đòi phải từ chối quyền lợi của mình (not giving up our rights):
7. Tha thứ không có nghĩa là biện giải cho đối phương (not to excuse the offender):
8. Tha thứ không phải là tỏ ra mình trội hơn về mặt luân lý (not demonstrate moral superiority):
9. Tha thứ không là phó mặc cho Thiên Chúa (not leaving it up to God):
Tác giả: Lm. John Monbourquette O.M.I, Giáo sư tại Saint Paul University, Ottawa, Canada. Nguyên bản Pháp Ngữ: COMMENT PARDONNER? xuất bản năm 1992. Bản dịch Anh ngữ do: Kathy Poor & Bernadette Gasslein, Nxb. Novalis tái bản năm 2002. Tóm lược: Fr. Jos. Trần Trung Liêm, O.P, Calgary, Canada, 2006 ¶
Ăn Chay và CẦu nguyỆn Qua các bẢn văn Tân ƯỚc
Mátthêu 4:1-7
Máthêu 6:16-18
Máthêu 9:14-17
Mátthêu 17:14-21
Luca 2:36-38
Luca 18:9-14
Công vụ 13:2-5
Công vụ 14:19-23
Công vụ 27:9-12
¶ Hoài Hương Mùa Chay thường nhắc nhở chúng ta những điều căn bản sống tinh thần Mùa Chay: cầu nguyện - ăn chay – kiêng thịt. Giáo Luật dạy chúng ta thì có lẽ chẳng ai để ý nhiều, nhưng người Công giáo chúng ta thường lớn lên với giáo lý bất thành văn được truyền từ thời ông bà cha mẹ: ăn chay một năm hai lần, thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh; còn kiêng thịt là không ăn thịt vào các ngày thứ sáu trong Mùa Chay, đơn giản thế thôi. Ăn chay là ăn một bữa no, hai bữa còn lại ăn đói một chút, hoặc chỉ một bữa đói thôi, trong ngày không ăn vặt. Khi tiếp xúc với người ngoài Công giáo, như anh chị em bên Phật giáo hay Hồi giáo, người Công giáo mới thấy luật ăn chay kiêng thịt của đạo mình sao mà dễ dàng quá; thậm chí nếu phải kể ra luật ăn chay kiêng thịt của mình cũng cảm thấy hơi mắc cở vì quá đơn giản. Chính vì thế mà dần dần ngay chính người Công giáo cũng không ý thức được ý nghĩa của việc ăn chay kiêng thịt của mình, và do đó dễ có tâm lý coi thường hoặc dễ dàng quên mà không thấy áy náy. Hơn nữa, chắc ai cũng có tâm trạng vào mỗi ngày thứ tư Lễ Tro và thứ sáu Tuần Thánh, chúng ta lại dễ bị “cám dỗ” thèm miếng thịt, mở gói kẹo…ngày thứ sáu kiêng thịt thì lại tìm “hải sản” thay vào. Hồi còn nhỏ, khi bắt đầu có trí khôn, được cha mẹ dạy bảo luật ăn chay kiêng thịt trước khi đến nhà thờ học giáo lý, tôi nhớ bố tôi thường hay kể lại câu chuyện ngày xưa cụ sống với các cha truyền giáo Tây Ban Nha. Những cha mang đầu óc thực dân ở đâu không biết, nhưng ông cụ thường kể chuyện biết được một linh mục có tên Việt nam là Llobera Yên, rất thương người Việt vì thấy họ vất vả quá. Cha đã nhiều lần tâm sự với ông thân sinh như sau: “Nếu cha mà là Đức Giáo Hoàng, thì cha sẽ không bắt người Việt nam phải ăn chay kiêng thịt, vì người Việt nam đã ăn chay kiêng thịt quanh năm rồi!” Câu chuyện xảy ra đã lâu, vị linh mục khả kính và cụ thân sinh đã quá vãng, thời cuộc cũng thay đổi nhiều, nhưng thực ra người đau khổ nghèo đói thì đời nào cũng có, và việc ăn chay kiêng thịt không chỉ mang ý nghĩa đơn sơ là ăn đói một bữa, và không ăn thịt ngày cấm đâu? Giáo Hội phải có lý do gì nhắc nhở chúng ta hơn trong mùa Chay chứ? Nhớ lại chuyện một năm gần đây, khi đi dự Đại Hội Giáo Lý hàng năm tổ chức tại Anaheim, California, Đức Hồng Y Roger Mahony, tổng giám mục của Tổng Giáo Phận Los Angeles trong bài giảng có kể câu chuyện về chính ngài. Đại Hội Giáo Lý thường tổ chức vào một cuối tuần trong Mùa Chay. Chuyện xảy ra vào buổi sáng khai mạc ngày thứ sáu, khi ĐHY đang dùng điểm tâm, thì có một tham dự viên dẫn một em bé vào ngồi gần đó. Ngài thấy khó chịu, vì Đại Hội Giáo Lý là dành cho người lớn, cho các giáo lý viên, các cha các thầy, các Sơ; có con nít vào đây chỉ gây thêm phiền hà lộn xộn. Đang khó chịu, thì đứa bé lại chỉ tay vào ngài, và hỏi mẹ: “Mẹ ơi, ông kia có phải là ông cha không?” Bà mẹ trả lời, “Đúng rồi, con.” Cậu bé tiếp lời, “Thế sao ông ấy không kiêng thịt hả mẹ, hôm nay thứ sáu mà…” “Give me a break!” “Để yên cho tôi, được không nào!” Đức Hồng Y phải thốt lên, nghẹn đi và không ăn nổi tiếp bữa ăn sáng, vì chính ngài cũng bận rộn với qua nhiều việc trong Đại Hội và quên mình đang ăn thịt vào ngày thứ sáu mùa Chay! Kể lại những chuyện trên đây, chỉ muốn chia sẻ những kinh nghiệm đã qua, chúng tôi không muốn hàm ý và khuyến khích quý độc giả thân thương cứ việc ăn thịt vào ngày Giáo Hội buộc kiêng thịt, hoặc cứ ăn no và ăn vặt vào những ngày chay. Rõ ràng chúng ta không phạm lỗi nặng khi quên ăn chay kiêng thịt, nhưng để sống ý nghĩa đích thực của việc chay kiêng của mình, đặc biệt trong những ngày còn lại trong mùa Chay, chúng ta phải có những hiểu biết và sống khác hơn về việc chay kiêng: chứ không phải kiêng thịt là đi ăn đồ biển hoặc làm những món không phải là thịt nhưng làm những món (có khi còn tốn tiền hơn nhiều) và ăn chay là giữ trọn ngặt ngày hôm đó (còn hôm truớc và hôm sau thì bù lại ăn thả dàn, no say đầy bụng!) Nhìn vào đời sống của Chúa Giêsu, chúng ta thấy ngài bắt đầu sứ vụ bằng việc vào sa mạc ăn chay bốn mươi ngày (Mt 4:2). Nhưng sau đó, ngài đói và trong cuộc đời sứ vụ, ngài đã nhiều lần bị phê phán là người mê ăn uống, chơi với phường tội lỗi (Lc 7:34). Rồi khi các môn đệ của thánh Gioan hỏi tại sao các môn đệ Chúa không ăn chay, ngài đã trả lời, “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay.” (Mt 9: 15). Chúng ta có thể rút ra một kết luận là việc ăn chay mang tâm tình, hình ảnh của việc đợi chờ ngày Chúa lại đến. Ăn chay là sống trong tâm tình chờ đợi chàng rể Giêsu đến lần thứ hai. Cuộc hôn nhân nhiệm màu của chú rể Giêsu và dân Thiên Chúa đã xảy ra, nhưng lại chưa trọn vẹn (here, but not yet) và thế là dân này tiếp tục chờ đợi chàng rể đến lần thứ hai, nghĩa là tiếp tục ăn chay. Ý nghĩa của chay tịnh do đó nói lên sự kết hợp huyền nhiệm và chờ đợi chàng rể, một mong ước ngày cánh chung trọn vẹn. Việc chay tịnh kiêng cữ cũng giúp chúng ta được tự do không bị ràng buộc. Các thiền sư xưa nay đều cho rằng con người bị ràng buộc vào thân xác, do những đam mê sắc dục, tham sân si, cụ thể nhất là do miếng ăn thức uống đem lại. Ăn chay kiêng thịt không phải là điều Thiên Chúa cần hay đòi hỏi để ngài tha thứ, yêu thương. Nhưng ăn chay chính là để cho chúng ta vượt được những cám dỗ của đời sống mình để thanh thoát hơn trong đời sống mà tiến lên gần với đòi hỏi của tình yêu. Không phải chúng ta ăn chay để Chúa thương chúng ta, mà chính vì tình thương của Ngài đã giúp chúng ta chay tịnh, tức là thay đổi những đam mê xác thịt hay tinh thần của kiếp con người. Chúa đòi hỏi chúng ta từ bỏ con người của mình để theo Chúa cách đích thực hơn, “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” (Mt. 16:24). Khi con người không bị ràng buộc vào những cám dỗ đòi hỏi vật chất, con người dễ theo những tiếng gọi cho những ước vọng cao hơn. Gương sáng của Mẹ Têrêxa đã từ bỏ tất cả, kể cả nhà dòng cũ để ra đi phục vụ người cùng khổ, ban đầu với hai bàn tay trắng, chỉ tín thác vào Chúa cho chúng ta một gương gần gũì nhất. Thánh Phaolô cũng nhắc nhở chúng ta, “Anh chị em được kêu gọi |