|
|
Số 76Ngày 08-04-2006
Sứ Điệp Nhân Ngày Quốc Tế Giới Trẻ lần Thứ XXI – ĐTC Bênêdictô XVI Suy Niệm Lời Chúa Trong Tuần Thánh – Lm. Vũ Xuân Hạnh Thân Đã Sạch Vẫn Cần Phải Rửa Chân - Đỗ Trân Duy Làm Sao Tha Thứ? – Lm. John Monbourquette, O.M.I – Lm. Trần Trung Liêm, O.P. tóm lược Phía Sau Cây Thập Giá – Lm. Nguyễn Công Đoan, SJ. Đáp Ứng Đòi Hỏi Của Thập Giá - Lm. Vũ Xuân Hạnh Hãy Trả Lời Cho Chính Bạn…- Trần Duy Nhiên Cây Tre - Thái Văn Hiến sưu tầm và dịch Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả, Maranatha_76 đến với quý vị khi tín hữu chúng ta cùng với Giáo Hội chuẩn bị bước vào Tuần Thánh, và cũng vừa tròn một năm kể từ ngày Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được gọi về cõi đời đời. Thư tòa soạn số này xin trân trọng dành cho những chia sẻ của Đức Hồng Y Cormac Murphy-O’Connor, tổng giám mục giáo phận Westminster, London, Anh Quốc. Đây là bài giảng của ngài trong thánh lễ tưởng niệm Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ngày 4 tháng 4 vừa qua. Những lời của Đức Hồng Y Cormac vừa gợi lại hình ảnh người cha vĩ đại và mến yêu của chúng ta, vừa chỉ cho chúng ta một mẫu gương để sống trọn vẹn chiều kích Kitô hữu trong Tuần Lễ cao điểm của Năm Phụng Vụ này. Anh Chị Em thân mến trong Chúa Kitô, Hôm nay chúng ta đến đây để tưởng niệm cái chết và tôn vinh sự sống của một con người mà Thiên Chúa đã làm cho vĩ đại, và để xin ngài cầu bàu cho chúng ta từ trung tâm của thiên đàng. Vào thời điểm này năm ngoái, hằng triệu người quy tụ tại Rôma đã biết ngài sẽ về đâu, và họ đã hô to: “Santo Subito!” Thủ tục phong thánh cho ngài đang được tiến hành nhanh chóng, và chúng ta biết ơn về điều ấy; nhưng là con người, tiến trình của Giáo Hội đưa ngài lên bàn thờ hoàn vũ không cấm chúng ta, ngay bây giờ, tưởng tượng đến nơi ngài đang cư ngụ, nghĩa là trong cung lòng của Chúa Cha, với tư cách là một đầy tớ trung tín nhận được phần thưởng của mình. Thế nên chúng ta có thể hướng ngài với lời khấn nguyện cậy trông và xin ngài chúc phúc cho chúng ta; vì chúng ta vẫn còn nghe lời nhắn nhủ của ngài: "Trwajcie mocni w wierze" -- “Hãy kiên vững trong đức tin.” Tôi đặc biệt chào mừng những người dân Balan có mặt nơi đây hôm nay. Anh chị em đã đến thành phố này ngày càng đông, để làm việc và để xây dựng một cuộc sống mới; và cũng vì thế mà cộng đoàn này ngày càng đông hơn. Chúng tôi biết ơn anh chị em, vì anh chị em mang trong tâm hồn mình, cùng với những người dân Balan khác, một cái gì đó của trái tim Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Khi Karol Wojtyla được bầu làm Giáo Hoàng năm 1978, ngài đã nói rằng ngài đến từ một đất nước xa xôi, nhưng ngài đã biến đất nước ấy gần gũi với tất cả mọi người trong chúng ta. Ngài biết rằng những kinh nghiệm từ quê hương ngài, và chính những chứng tích hùng hồn của Giáo Hội Công Giáo nơi ấy, có nhiều điều để dạy cho thế giới, để dạy cho Giáo Hội. Cùng với đất nước Balan, Đức Gioan Phaolô II đã chứng kiến những điều dữ tệ hại nhất mà loài người có thể làm: sự đàn áp cực quyền, giết chóc, trần tục hóa quốc gia và tâm hồn. Mồ côi từ tuổi 20, cậu Wojtyla, từ trong gia đình mình, cũng đã từng nếm trải kinh nghiệm xé lòng của tử biệt sinh ly; và nhìn thấy các bạn hữu Do Thái của mình bị lôi vào lò sát sinh tập thể. Từ đó, ngài thiếu thốn những điều mà hầu hết trong chúng ta đây xem là đương nhiên phải có: sự an toàn, gia đình, niềm hy vọng và ý nghĩa - Đức Gioan Phaolô II, từ thời son trẻ, đã quay về với nền tảng duy nhất mà con người luôn có thể tựa vào: Biết chắc chắn rằng mình được Thiên Chúa dựng nên; biết được sự kiện không thể chối cãi là chúng ta được tạo dựng có phẩm giá và cho phẩm giá đó; và tin tưởng rằng Thiên Chúa là Đấng Chăn Chiên Lành, cùng sánh bước với chúng ta, hướng dẫn và chữa lành chúng ta, không ngừng kêu gọi chúng ta đến với Người. Lãnh thổ và quyền lực đến rồi đi, và có thời chúng tác động như là một sự dữ khủng khiếp, nhưng chúng cũng tàn đi với thời gian, trong khi đó nền văn hóa con người, và khả năng của chúng ta để yêu thương và phục vụ và xây dựng thì vẫn còn sống mãi như một ngọn nến mà ngay cả trận cuồng phong cũng không thể nào dập tắt được. Đấy là kinh nghiệm của ngài, và đó cũng là niềm tin của ngài. Suốt 26 năm, Đức Thánh Cha đã kiên trì làm chứng cho sức mạnh của niềm tin đó: Ngài đã thấy chủ nghĩa Cộng Sản sụp đổ, những nhà lãnh đạo Phương Tây đến rồi đi, và khi đến lúc ngài từ giã cõi trần, trong một cuộc chiến dằng dai với sức khoẻ ngày càng suy yếu, thì thế giới quy tụ quanh Ngài trong với tâm tình kính yêu, vì họ biết rằng nơi ngài có một sự vĩ đại chỉ có thể xuất phát từ một nguồn mạch duy nhất. Tất cả anh chị em, cũng như tôi, hẳn chìm ngập trong kỷ niệm của những ngày này năm ngoái. Thánh đường này từng là nơi canh thức đặc biệt, mà các hệ thống truyền hình nối kết với những đêm canh thức khác trong các thánh đường khắp nơi trên thế giới. Những ngày ấy mới diệu kỳ và quý báu biết bao! Và chúng ta vẫn còn thấy hoa quả những ngày ấy vẫn mãi tươi thắm thế nào! Anh Quốc không thế tục như người ta tưởng. Những ý thức hệ đã lụi tàn. Con người đã trở về với niềm tin tuổi thơ, hoặc đến với linh mục để giải bày những thắc mắc, hay đến với bí tích giao hoà để nhận ơn thứ tha và chữa lành mà Chúa không ngừng ban tặng cho chúng ta. Sau khi được bầu làm Giáo Hoàng, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã mời gọi chúng ta mở rộng cửa cho Chúa Kitô, mở cửa lòng trí mình. Chính vì thế mà người ta sẽ nhớ mãi đến ngài: vì ngài đã đập đổ được những bức tường ngăn cách, đã vượt qua lằn ranh, đã mở rộng những không gian mới để cho Thiên Chúa vào trò chuyện với chúng ta. Karol Wojtyla từng viết một trong những cuốn sách đầu tiên có tựa đề là “Người Nhập Vai” (The Acting Person: cũng có nghĩa là Người Hành Động). Ngài dùng từ ngữ sân khấu theo nghĩa sâu xa nhất: Với tư cách là giám mục Krakow và sau này là giám mục Rôma, ngài hiểu rõ ý nghĩa của biểu tượng; và ngài biết rằng hành động thì hùng biện hơn là lời nói. Khi thế giới bắt đầu khép mình tự vệ sau bức tường của sợ hãi và cuồng tín tôn giáo, thì ngài kêu gọi các nhà lãnh đạo tôn giáo trên thế giới cùng nhau cầu nguyện cho hòa bình; ngài đã cầu nguyện bên Bức Tường Than Khóc tại Giêrusalem và trong đền thờ Hồi Giáo ở Damas; ngài từng lên tiếng xin lỗi về những tội phạm trong quá trình lịch sử Giáo Hội. Nơi nào có sợ hãi và nghi nan, ngài tìm cách đem lại sức mạnh, tin tưởng vào sứ điệp Tình Yêu Thiên Chúa. Ngài mời gọi muôn dân lên núi thánh để thưởng thức cao lương rượu cổ mà tiên tri Isaia từng nói đến. Nơi nào phủ vành khăn tang trên nhân loại thì ngài tìm cách gỡ bỏ đi. Nơi nào nghèo khó nghiến răng vì bất công kinh tế, hay còn án tử hình, hoặc chiến tranh, hay giết bỏ sự sống vào lúc bắt đầu hay phút cuối cuộc đời, ngài không hề sợ hãi khi phải gióng lên tiếng nói thách thức những quan điểm mà người ta áp đặt; và chúng ta cũng phải không sợ sệt như ngài! Các bạn thân mến, Giáo Hội chúng ta là một cộng đoàn mỏng dòn, Giáo Hội thu hút muôn dân đến với mình qua ân sủng của cầu nguyện, chứ không phải khi Giáo Hội lo lắng giải quyết vấn đề nội bộ của mình. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II để lại một Giáo Hội mạnh mẽ hơn vì ngài đã tập trung vào điều cốt lõi: Ngài muốn giải phóng năng lực của chúng ta để xây dựng Nước Thiên Chúa và để thu hút nhân loại đến gặp gỡ Chúa Kitô. Nhưng ngài không bao giờ sợ phải lý luận, và một trong những di sản lớn của ngài là phục vụ Phúc Âm qua sức mạnh của luận lý. Từ trước đến giờ, chưa có một Giáo Hoàng nào để lại nhiều lương thực cho hành trình Giáo Hội như ngài, và cần phải nhiều thế hệ thì mới tiêu hóa hết số lương thực ấy. Chúa Giêsu nói với vị thủ lãnh đầu tiên Giáo Hội là Phêrô rằng ông sẽ bị người ta thắt lưng và đưa đến nơi ông không muốn đến. Từ ngày đầu tiên, Đức Gioan Phaolô II đã hân hoan đón nhận thắt lưng đó. Như Đức Giáo Hoàng Bênêđitô vừa nói hôm qua ở Rôma, đời của Đức Gioan Phaolô II có thể được tóm gọn trong hai từ: “trung tín” và “dấn thân.” Ngài không chần chừ khi được cử làm giám mục trẻ của Krakow, và ngài cũng chẳng do dự khi Hội Đồng Hồng Y bầu ngài làm Giáo hoàng năm 1978. Điều gì Chúa yêu cầu, thì ngài đón nhận, và ngài dùng những tài năng của mình để làm tròn từng sứ vụ mới ấy. Khi còn là một thanh niên lực lưỡng, ngài làm việc không mệt mỏi để phục vụ tha nhân, và khi trở thành một Giáo Hoàng già nua đau yếu, thì ngài dùng nỗi đau của mình để ủi an những ai đau yếu, và nói lên tiếng nói thay cho họ. Trong tông thư “Salvifici Doloris," ngài đã viết như sau: “Đau khổ hiện diện trên trần gian để cho tình yêu bộc lộ, để làm nảy sinh hành động yêu thương đối với người lân cận, để biến đổi toàn bộ nền văn minh thành một nền văn minh tình yêu.” Đấy là nhiệm vụ ngài trong những tháng ngày cuối đời. Cho đến hơi thở yếu ớt cuối cùng, ngài biết rằng Thiên Chúa dành một sứ vụ cho ngài, và Người nói qua ngài khi ngài đau yếu cũng nhiều như khi ngài khỏe mạnh. Qua đấy, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trở thành con người tự do nhất trong nhân loại, vì ý của ngài và ý của Chúa kết hiệp mật thiết với nhau. Có rất nhiều điều mà hôm nay ta có thể học được từ vị Giáo Hoàng vĩ đại ấy. Lòng dũng cảm để đón nhận những gì Chúa dành cho mình. Tính kiên trì khi rao giảng Phúc Âm, khi thuận tiện cũng như khi không thuận tiện, bất cứ nơi nào chúng ta hiện diện. Khả năng giữ trong tâm trí mình điều gì là cốt yếu. Và trên hết, chúng ta có thể học nơi Đức Gioan Phaolô lòng cậy trông vào lời cầu nguyện. Ngài là một nhà chiêm niệm cũng tầm cỡ như là một nhà hoạt động; ngài biết khi nào cần rút lui, giữ im lặng, phó dâng mọi sự cho Chúa Kitô. Ngài biết rằng sức mạnh của ngài xuất phát từ sức mạnh duy nhất có thực và trường kỳ trên thế gian này, ấy là tình yêu liên lỉ của Thiên Chúa. Ngài sống tình yêu ấy từ trong cốt lõi của con người mình và tận hiến toàn thân cho tình yêu đó. Và bây giờ, sau khi chia tay với chúng ta một năm qua, thì chính tình yêu đó vẫn đang tiếp tục sống. Vì thế, chúng ta hướng lòng lên Thiên Chúa, trong tâm tình tạ ơn vì Người đã ban cho chúng ta một ngôn sứ, một người rao giảng Phúc Âm và một nhà lãnh đạo cho thời đại chúng ta. Như ngài thường nói: Chúa Kitô không lấy đi của chúng ta bất cứ điều gì, và ban cho chúng ta mọi sự. Thế thì vì sao ta lại sợ hãi? ‘Chúa Kitô không lấy điều gì, nhưng ban cho mọi sự,’ đó cũng là tâm tình mà Maranatha gợi lên trong số này qua các bài viết về Tuần Thánh và tưởng niệm Đức cố Giáo Hoàng kính yêu, trong tâm tình noi gương vị cha chung, người đã biến trọn cuộc đời của mình thành lời kinh nguyện chân thành: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến. MARANATHA
SỨ điỆp ĐỨc Thánh Cha BiỂn ĐỨc XVINhân Ngày QuỐc TẾ GiỚi TrẺ lẦn thỨ XXIChúa Nhật Lễ Lá ngày 9.4.2006Lm. Trần Đức Anh O.P. dịch (Radio Vatican)
“Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 118 [119],105). Các bạn trẻ thân mến, Khi vui mừng ngỏ lời với các con, những người đang chuẩn bị Ngày Quốc Tế giới trẻ lần thứ 21, cha nhớ lại những kinh nghiệm phong phú hồi tháng 8 năm ngoái tại Đức. Ngày Quốc Tế Giới Trẻ năm nay sẽ được cử hành tại các Giáo Hội địa phương và sẽ là cơ hội thuận tiện để khơi lại ngọn lửa nồng cháy đã được thắp lên tại Koeln mà nhiều người trong các con đã mang về gia đình, xứ đạo, hội đoàn và phong trào của mình. Đồng thời đó cũng là thời điểm rất thích hợp để lôi kéo nhiều bạn hữu của các con vào cuộc lữ hành thiêng liêng của các thế hệ trẻ tiến về Chúa Kitô. Đề tài Cha đề nghị cho các con suy niệm là một câu trích từ Thánh Vịnh 118 [119): “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi.” (v.105). Đức Gioan Phaolô 2 quí mến đã chú giải những lời này của Thánh Vịnh như sau: “Người cầu nguyện ngây ngất ca tụng Luật Chúa, và nhận Luật ấy như ngọn đèn soi cho bước chân của mình trên con đường nhiều khi tăm tối của cuộc sống.” (Insegnamenti di Giovanni Paolo II, XXIV/2, 2001, p.715). Thiên Chúa tỏ mình ra trong lịch sử, nói với con người và lời Ngài có sức sáng tạo. Thực vậy, từ ngữ Do thái “dabar”, thường được dịch là “lời”, vừa có nghĩa là lời nói, vừa có nghĩa là hành động. Thiên Chúa nói điều Ngài làm và làm điều Ngài nói. Trong Cựu Ước, Chúa loan báo cho con cái Israel sự giáng lâm của Đấng Thiên Sai và việc thiết lập một giao ước ”mới”; trong Ngôi Lời nhập thể, Thiên Chúa chu toàn lời Ngài hứa. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo cũng nêu rõ: “Đức Kitô, Con Thiên Chúa làm người, là Lời duy nhất, hoàn hảo và chung kết của Chúa Cha, trong Người, Thiên Chúa nói tất cả, và sẽ không có Lời nào khác ngoài Lời ấy” (n.65). Chúa Thánh Linh, Đấng hướng dẫn dân tuyển bằng cách soi sáng cho các tác giả Kinh Thánh, mở rộng tâm hồn các tín hữu, để họ hiểu những gì chứa đựng trong Kinh Thánh. Chính Thánh Linh hiện diện tích cực trong sự cử hành Thánh Lễ, khi vị linh mục, “trong cương vị Chúa Kitô”, đọc lời truyền phép, biến bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô, để trở nên lương thực thiêng liêng cho các tín hữu. Để tiến bước trong cuộc lữ hành trần thế tiến về Quê Trời, tất cả chúng ta đều cần được nuôi dưỡng bằng Lời và bánh Sự Sống đời đời, hai yếu tố ấy không thể tách rời nhau! Các Tông Đồ đã đón nhận lời cứu độ và đã thông truyền lại cho những người kế nhiệm như một kho báu được bảo tồn chắc chắn trong hòm đựng là Giáo Hội: nếu không có Giáo Hội, thì bảo ngọc ấy có nguy cơ bị mất mát hoặc bị tan vỡ. Các bạn trẻ thân mến, các con hãy yêu mến Lời Chúa và yêu mến Giáo Hội là người giúp các con tiến tới kho tàng quí giá dường ấy, khi dạy các con quí chuộng sự phong phú của kho tàng đó. Hãy yêu mến và bước theo Giáo Hội là người đã đón nhận từ Đấng Sáng Lập sứ mạng chỉ cho loài người con đường hạnh phúc chân thực. Thật không dễ nhận ra và gặp được hạnh phúc đích thực trong thế giới chúng ta đang sống, trong đó con người thường trở thành con tin của những trào lưu tư tưởng dẫn đưa họ tới chỗ hư mất trong lầm lạc hoặc trong những ảo tưởng của những ý thức hệ sai lầm, tuy rằng họ vẫn tưởng là mình ”tự do.” Cần cấp thiết “giải thoát tự do” (cf Thông Điệp “Veritaris Splendor”, 86), soi sáng bóng đêm trong đó nhân loại đang mò mẫm bước đi. Chúa Giêsu đã chỉ dẫn cách thức làm cho điều ấy diễn ra: “Nếu các con trung thành với lời Thầy, các con sẽ thực sự là môn đệ của Thầy; các con sẽ biết sự thật và sự thật sẽ giải thoát các con.” (Jn 8,31-32). Ngôi Lời nhập thể, Lời Chân Lý, làm cho chúng ta được tự do và hướng dẫn tự do của chúng ta hướng về sự thiện. Các bạn trẻ thân mến, các con hãy thường xuyên suy niệm lời Chúa, hãy để cho Chúa Thánh Linh dạy dỗ các con. Như thế, các con sẽ khám phá thấy rằng tư tưởng của Thiên Chúa không phải là tư tưởng của người phàm, các con sẽ được hướng dẫn chiêm ngắm Thiên Chúa chân thực và đọc những biến cố lịch sử với đôi mắt của Chúa; các con sẽ nếm hưởng trọn vẹn niềm vui nảy sinh từ sự thật. Trên đường đời, không dễ dàng và đầy cạm bẫy, các con có thể gặp những khó khăn và đau khổ, và nhiều khi các con bị cám dỗ thốt lên như tác giả Thánh Vịnh: “Tôi mệt mỏi và quá sầu khổ” (Tv 118 [119], v.107). Các con đừng quên nói tiếp cùng với tác giả Thánh Vịnh: “Lạy Chúa, xin ban cho con được sống theo lời Ngài… Mạng sống con luôn lâm vòng nguy hiểm, nhưng con không quên luật Chúa” (ibid., vv.107.109). Sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa, qua lời Ngài, là ngọn đèn phá tan bóng đêm của sợ hãi và chiếu sáng đường đi, cả trong những lúc khó khăn nhất. Tác giả thư gửi tín hữu Do thái viết: “Lời Chúa sinh động, hiệu năng và sắc bén hơn mọi gươm hai lưỡi; Lời Chúa thấu nhập tận nơi phân chia linh hồn và tinh thần, tận các khớp xương tủy và thấu triệt những tâm tình và tư tưởng của tâm trí.” (4,12). Cần nghiêm túc coi trọng lời nhắn nhủ hãy coi lời Chúa như một ”khí giới” không thể thiếu được trong cuộc chiến đấu thiêng liêng; Lời Chúa tác động hữu hiệu và mang lại thành quả nếu chúng ta học cách lắng nghe Lời Chúa, rồi tuân phục Lời Chúa. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo giải thích: ”Tuân phục (ob-audire) trong đức tin là tự nguyện tùng phục Lời đã nghe, vì chính Thiên Chúa bảo đảm sự chân thật của Lời ấy, Chúa chính là Chân Lý” (n.144). Nếu Tổ phụ Abraham là mẫu gương về sự lắng nghe đồng thời cũng là sự tuân phục, thì Vua Salomon tỏ ra là người say mê tìm kiếm sự khôn ngoan chứa đựng trong Lời Chúa. Khi Thiên Chúa đề nghị: “Ngươi hãy xin Ta điều ngươi muốn và Ta sẽ ban cho ngươi,” vị vua khôn ngoan đáp: “Xin cho tôi tớ Chúa được một tâm hồn ngoan ngoãn.” (1 Vua 3.5.9). Bí quyết để có một ”tâm hồn ngoan ngoãn” là tập luyện để mình có một con tim biết ”lắng nghe.” Chúng ta đạt được điều ấy khi không ngừng suy niệm Lời Chúa và ăn rễ sâu trong Lời Chúa, nhờ quyết tâm hiểu biết Lời Chúa ngày càng thâm sâu hơn. Các bạn trẻ thân mến, Cha khuyên các con hãy làm quen với Kinh Thánh, giữ Kinh Thánh trong tầm tay, để Kinh Thánh trở nên như địa bàn chỉ đường cần đi theo. Khi đọc Kinh Thánh, các con sẽ học biết Chúa Kitô. Về điểm này, thánh Giêrônimô đã nhận xét: “Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô.” (PL 24,17; cf Dei Verbum, 25). Một phương thức tốt đẹp để đào sâu và nếm hưởng Lời Chúa là lectio divina, đọc và suy niệm Kinh Thánh, đây thực là một hành trình thiêng liêng qua nhiều giai đoạn. Lectio ở đây là đọc đi đọc lại một đoạn Kinh Thánh, nắm bắt những yếu tố chính, rồi tiến qua giai đoạn meditatio, suy niệm, giống như một trạm dừng trong nội tâm, trong đó linh hồn hướng về Thiên Chúa, tìm hiểu xem Lời Chúa nói gì cho đời sống cụ thể. Rồi đến giai đoạn oratio, làm cho chúng ta chuyện vãn với Thiên Chúa trong cuộc đối thoại trực tiếp, và sau cùng là giai đoạn contemplatio, giúp chúng ta duy trì con tim chú ý tới sự hiện diện của Chúa Kitô, và lời Ngài là “ngọn đèn chiếu sáng trong nơi tăm tối, cho đến khi ngày ló rạng và sao mai mọc lên trong tâm hồn chúng ta” (2 Pt 1,19). Sau đó, việc đọc, học hỏi và suy niệm Lời Chúa phải dẫn tới một đời sống gắn bó phù hợp với Chúa Kitô và các giáo huấn của Ngài. Thánh Giacôbê cảnh giác: “Anh em hãy mang Lời Chúa ra thực hành chứ đứng nghe suông mà lừa dối chính mình. Vì người chỉ nghe xuống mà không mang Lời Chúa ra thực hành, thì giống như một người soi gương rồi bỏ đi và quên ngay. Trái lại, ai chú tâm đến luật trọn hảo, luật tự do và trung thành với luật ấy, không như người nghe rồi quên, nhưng như người mang ra thực hành, thì họ sẽ tìm được hạnh phúc trong việc thực hành luật Chúa.” (1,22-25). Ai nghe lời Chúa và luôn tham chiếu lời ấy, thì đặt cuộc sống của mình trên nền tảng vững chắc. Chúa Giêsu đã nói: “Ai nghe lời Thầy và mang ra thực hành, thì giống như người khôn ngoan xây nhà mình trên đá.” (Mt 7,24): nhà sẽ không xiêu đổ trong bão tố. Xây dựng cuộc sống trên Chúa Kitô, bằng cách vui mừng đón nhận Lời Chúa và mang ra thực hành các giáo huấn của Ngài: hỡi những người trẻ của Ngàn Năm Thứ Ba, đó phải là chương trình của các con! Cần cấp thiết làm nảy sinh một thế hệ mới các tông đồ được bám rễ sâu trong lời Chúa Kitô, có khả năng đáp ứng những thách đố của thời đại chúng ta và sẵn sàng gieo vãi Tin Mừng khắp nơi. Đó là điều Chúa yêu cầu các con, Giáo Hội mời gọi các con thi hành điều ấy, và thế giới này cũng đang mong đợi điều ấy nơi các con, mặc dù họ không biết! Và nếu Chúa Giêsu gọi các con, các con đừng sợ quãng đại đáp lại Ngài, nhất là khi Chúa đề nghị các con theo Ngài trong đời thánh hiến hay trong đời linh mục. Các con đừng sợ; hãy tín thác nơi Chúa và các con sẽ không thất vọng. Các bạn thân mến, với Ngày Quốc Tế Giới Trẻ lần thứ 21 cử hành vào ngày 9-4 tới đây, Chúa nhật Lễ Lá, chúng ta sẽ khởi hành một cuộc hành trình thiêng liêng tiến về cuộc gặp gỡ các bạn trẻ thế giới sẽ diễn ra tại thành phố Sydney vào tháng 7 năm 2008. Chúng ta chuẩn bị cho biến cố lớn lao ấy, bằng cách cùng nhau suy niệm về đề tài “Chúa Thánh Linh và công cuộc truyền giáo,” qua các giai đoạn kế tiếp nhau. Năm nay, chúng ta chú tâm vào Chúa Thánh Linh, Thánh Thần Chân Lý, Đấng mạc khải cho chúng ta Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, bằng cách mở rộng con tim mỗi người đón nhận Lời cứu độ, Lời dẫn đưa tới Chân lý toàn vẹn. Năm tới, 2007, chúng ta sẽ suy niệm về một câu trong Tin Mừng theo thánh Gioan: “Như Thầy đã yêu thương các con, các con cũng hãy yêu thương nhau như vậy.” (13,34), và chúng ta sẽ khám phá sâu xa hơn Chúa Thánh Linh là Thánh Thần Tình Yêu, Đấng đổ tràn trong chúng ta đức bác ái của Chúa và làm cho chúng ta nhạy cảm đối với những nhu cầu vật chất và tinh thần của các anh chị em. Sau cùng, chúng ta sẽ tiến cuộc gặp gỡ vào năm 2008, với chủ đề ”Các con sẽ được sức mạnh từ Thánh Linh, Đấng sẽ ngự xuống trên các con và các con sẽ là chứng nhân của Thầy.” (TĐCV 1,8). Ngay từ bây giờ, trong bầu không khí trường kỳ lắng nghe Lời Chúa, các bạn trẻ thân mến, các con hãy cầu khẩn Chúa Thánh Linh, Thánh thần sức mạnh và chứng tá, để Ngài làm cho chúng con có khả năng công bố Tin Mừng không chút sợ sệt, cho đến tận bờ cõi trái đất. Xin Mẹ Maria, Đấng hiện diện trong Nhà Tiệc Ly với các Tông Đồ trong khi chờ đợi Chúa Thánh Thần hiện xuống, trở thành Mẹ và là Người dẫn dắt các con. Xin Mẹ dạy các con đón nhận Lời Chúa, cẩn giữ và suy niệm trong tâm hồn các con (cf Lc 2,19) như Mẹ đã làm trong suốt cuộc đời của Mẹ. Xin Mẹ khích lệ các con thưa “xin vâng” đối với Chúa, sống “sự tuân phục đức tin.” Xin Mẹ giúp các con kiên vững trong đức tin, bền chí trong đức cậy, và kiên trì trong đức mến, luôn ngoan ngoãn đối với Lời Chúa. Cha tháp tùng các con trong kinh nguyện và thành tâm ban phép lành cho tất cả các con Vatican ngày 22-2-06, Lễ kính Tòa Thánh Phêrô. Giáo Hoàng Biển Đức XVI ¶
SUY NIỆM LỜI CHÚA TRONG TUẦN THÁNH Lm. Vũ Xuân Hạnh Ngày 9.4.2006 - Chúa nhật Lễ Lá Ngày 13.2.2005, thế giới Công giáo ngậm ngùi tiễn đưa nữ tu Lucia tại đan viện Coimbra- Bồ Đào Nha, về Nhà Cha ở tuổi 97. Chị là chứng nhân cuối cùng của sự kiện Fatima năm 1917. Với thế giới, đây là tin buồn. Nhưng trong đức tin, ai cũng có thể quả quyết, đây là niềm vui lớn. Bởi cô bé Lucia ngày nào chỉ nhìn thấy Đức Mẹ bằng đôi mắt phàm trần. Sự nhìn thấy ấy chỉ là ánh nhìn thoáng qua. Sau đó cô bé vẫn tiếp tục đời thường của mình như bao nhiêu người. Ngày vĩnh biệt cõi đời, cô bé Lucia của 88 năm về trước, sẽ diện kiến Thiên Chúa, sẽ sống bên Mẹ của mình trong hạnh phúc miên trường, một hạnh phúc không bao giờ bị ai lấy mất. Hiểu và tin như thế, chắc chắn nữ tu Lucia đã sống những chuỗi ngày làm người của mình trong sự khắc khoải trông chờ cái giây phút cuối đời thiêng liêng ấy. Vì khi nhắm mắt vĩnh biệt cõi đời, chị đã thực sự sinh ra trong sự sống mới, một sự sống không tàn, không phai. Hôm nay, với nghi thức rước Lá, tưởng niệm việc Chúa Giêsu vào Giêrusalem vinh quang, Hội Thánh chính thức khai mạc tuần Thánh. Suy niệm bài Thương Khó tường thuật biến cố tử nạn đầy ảm đạm của Chúa, tôi thấy tiếng nói của thánh giá là một đòi hỏi nghiêm chỉnh đến mức khắt nghiệt, ê chề, đau đớn. Đòi hỏi đó, ngày xưa đã từng được ngỏ với các môn đệ của Chúa Giêsu, khiến các ông hoang mang đến nỗi khó chấp nhận, thậm chí bỏ cuộc khi chứng kiến cuộc thương khó của Thầy. Chẳng khác các môn đệ xưa, lời thánh giá vẫn vang trong lòng các môn đệ thời nay. Nó tiếp tục đòi hỏi cả một tâm hồn quả cảm đón nhận để theo Chúa suốt đời. Chẳng hạn, nữ tu Lucia và hai trẻ ngày xưa có cả một hạnh phúc lớn vì được nhìn thấy tận mắt Mẹ Thiên Chúa viếng thăm thế giới. Nhưng những biến cố lẫy lừng của năm 1917 rồi cũng qua mau. Giaxinta và Phanxicô vội vã rời thế giới. Còn Chị Lucia, Chúa muốn Chị ở lại làm chứng cho sự kiện Fatima. Nhưng mọi sự phải đâu trơn tru, dễ dàng. Khi dấu lạ Fatima được loan báo, hầu như mọi người đều chống đối. Sự chống đối có lúc căng thẳng dữ dội. Giữa một bên đối diện với thực tế cứng lòng tin của nhân loại, bên kia là mạc khải từ trời cao phải được loan báo, chắc chắn Lucia đã phải đau khổ nhiều. Cũng là môn đệ của Thầy Giêsu, đòi hỏi của thánh giá đã và sẽ tiếp tục không khước từ chúng ta. Theo Chúa giữa lúc Chúa được tung hô, chẳng khó gì. Nhưng tiếp tục theo Chúa, ở lại với Chúa giữa lúc Chúa bị loại trừ, bị bách hại là một thách thức lớn. Càng dấn bước theo Chúa bao nhiêu, đòi hỏi của thánh giá càng dữ dội bấy nhiêu. Ta hãy nhìn lên Đức Maria, nhìn mẫu gương của tông đồ Gioan, ngay cả của Chị Lucia mà hiến dâng tình yêu, hiến dâng lòng trung thành của mình. Nếu đã có lần nào ta va vấp trong cuộc đời, thì hãy nhìn mẫu gương của mười tông đồ còn lại, là những người đã từng khiếp đảm trốn chạy, nhưng cũng đã lấy lại niềm tin để tiếp tục sống trung thành. Những tấm gương ấy sẽ tạo thêm nghị lực để ta đủ sức đứng lên làm lại những gì đã mất. Mẫu gương trung thành của Đức Mẹ, của các thánh tông đồ, của nhiều chứng nhân khác trong Hội Thánh, giống như nữ tu Lucia, phải là bài học thường xuyên liên tục suốt đời Kitô hữu của bạn và của tôi. Nguyện xin Đức Mẹ, xin các thánh Tông đồ cầu bàu cho chúng ta, để chúng ta hoàn thành những đòi hỏi của thập giá suốt cuộc đời mình cách trọn vẹn. Ngày 10.4.2006 - Thứ Hai Tuần Thánh Người ta kể, đêm nọ, nhà khoa học chuyên nghiên cứu về nọc độc của rắn, làm việc một mình trong phòng thí nghiệm và bị rắn độc cắn. Sau khi bị cắn, ông nhận ra rằng, đây là một loài rắn lạ và rất độc, chưa ai biết đến, vì thế cũng không có thuốc giải độc. Không thể kêu cứu ai, ông trở lại bàn làm việc và ghi lại tất cả những diễn tiến của nọc độc mà ông đang trải qua. Hôm sau, khi nhân viên làm việc đến, nhà khoa học đã chết gục trên bàn. Nhưng những điều ông viết lại là cả một gia sản quý giá cho những người tiếp tục công việc của ông. Nhờ ông, người ta đã có thể tìm được nhiều loại thuốc mới, chữa được nhiều thứ bệnh hiểm nghèo từ loài rắn do ông phát hiện. Sự hy sinh của nhà khoa học gợi lại lời của thánh Phaolô về Chúa Kitô: “Nọc độc của sự chết là tội lỗi, sức mạnh của tội là lề luật. Nhưng tạ ơn Chúa, vì Chúa đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” (1Cr 15, 56). Chúa Kitô, như một nhà khoa học lừng danh, trong sự chết của mình, đã khám phá liều thuốc mới là chính ơn tha thứ để chữa trị tâm hồn thế giới, đưa thế giới tiến về sự sống bất diệt. Sự sống bất diệt đó, Chúa đã trao cho Maria (chị của Lazarô, người đã từng ngụp lặn trong tội), khi tha thứ cho cả một quá khứ tội lỗi của cô. Kẻ được tha nhiều, cũng sẽ là kẻ yêu mến nhiều. Ý thức lòng yêu thuơng của Chúa khi tha tội cho mình, Maria đã cố gắng diễn tả bắng tất cả những gì có thể được để đáp lại tình yêu của Chúa: Đã một lần, cô ngồi bên chân Chúa (chứ không phải ngồi ngang hàng) lắng nghe Lời Chúa. Hôm nay, trong những ngày Chúa chuẩn bị tiến vào cuộc Vượt qua khải thắng của Chúa, cô lại lấy dầu thơm hảo hạng xức chân Chúa, sau đó còn lấy chính mái tóc của mình mà lau chân Chúa. Tất cả những hành động diễn tả lòng yêu mến của cô, đều được Chúa chấp nhận: Mới ngày nào Chúa khen thái độ lắng nghe Lời Chúa của cô là cô “đã chọn phần tốt nhất”, thì bây giờ, Chúa lại bảo: “Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy.” Bạn thân mến, biết mình bệnh tật, không lo chữa trị, bệnh tật có thể gây nguy hiểm cho sự sống của bản thân. Cũng vậy, tội là bệnh tật của linh hồn, càng cần chữa trị. Tội là điều đáng ghê sợ. Nhưng đó chưa là điều đáng sợ nhất. Điều đáng sợ nhất là ở lỳ trong tội, là không tìm phương dược chữa trị, không dám quyết tâm từ bỏ nó. Liều thuốc tha thứ của Chúa Giêsu, chỉ có thể đến được với ta, khi ta đón nhận Người bằng tất cả lòng yêu mến, tin tưởng và phó thác. Cô Maria, trong khi đáp trả tình yêu của Chúa qua các việc làm của cô, đã cho ta bài học về lòng yêu mến Chúa và thái độ dứt khoát từ bỏ với tội lỗi. Hãy đứng lên như Maria, để mỗi người trong chúng ta trở về với Chúa, xa tránh mọi cám dỗ thấp hèn, mọi thói hư tật xấu trong cuộc đời ta. Lạy Chúa Giêsu, cuộc chiến giữa sự thánh thiện và tội lỗi vẫn tiếp diễn trong lòng con. Một mặt con muốn trở về với Chúa, mặt khác, con lại thích buông mình trong tội. Tuần Thánh giúp con nhận ra tình yêu của Chúa. Xin cho con, sau khi nhận ra tình yêu ấy, biết đứng lên, về với Chúa, để được Chúa chữa trị cả hồn và xác. Ngày 11.4.2006 - Thứ Ba Tuần Thánh Trong quyển Tin Mừng thứ IV của mình, thánh Gioan luôn tự hào mình là “Người môn đệ Chúa yêu.” Thánh nhân không một lần gọi tên thật của mình trong Tin Mừng, thay vào đó, cách gọi “Người môn đệ Chúa yêu” được tác giả nhắc đi nhắc trong khắp quyển Tin Mừng thứ IV. Đúng hơn, đối với thánh Gioan tông đồ, “Người môn đệ Chúa yêu” chính là tên riêng của ông. Ông đã sử dụng tên riêng này cách hết sức hãnh diện, trìu mến, và trân trọng. Nhưng thánh Gioan hãnh diện, quý trọng tên gọi đầy âu yếm ấy, không chỉ vì ông được Chúa yêu thương, mà chính bản thân thánh nhân đã cảm nhận sâu xa, và chân thành đón nhận tình thương cao cả Chúa Kitô dành cho mình. Đúng hơn, thánh Gioan đã yêu mến Chúa nhiều, vì thế, ông nhận ra tình yêu trìu mến mà Chúa dành cho mình lớn lao không thể tả. Trong bài Tin Mừng hôm nay, có một chi tiết đáng để chúng ta chú ý, học lấy và bắt chước. Chi tiết đó là: Người môn đệ Chúa yêu “tựa đầu vào lòng Chúa Giêsu”, ông “nghiêng mình vào ngực Chúa Giêsu”, trong khi Chúa cùng tông đồ đoàn đang dự bữa tiệc ly. Bởi thánh Gioan “tựa đầu vào lòng Chúa” và “nghiêng mình vào ngực Chúa”, ông trở thành người đầu tiên không chỉ biết được tên tuổi, mà còn biết lòng dạ của Giuđa, kẻ đang rắp tâm hãm hại Thầy mình. “Người môn đệ Chúa yêu” diễm phúc được lắng nghe tiếng nói của trái tim Chúa Giêsu. Một tiếng nói đầy thổn thức, nhưng vẫn không oán giận, không trách móc, ngược lại còn như thương tiếc, như muốn níu kéo lại tâm hồn phản trắc của Giuđa. Cũng vậy, chúng ta hãy sống như thánh Gioan, luôn luôn nương tựa vào Chúa. Thánh giá của đời người dù nặng bao nhiêu, thì sức nặng ấy sẽ được nâng đỡ bấy nhiêu nhờ ta biết bám vào Chúa, tín thác, ký gởi trọn đời mình cho Chúa. Chúng ta hãy nghiêng mình vào lòng Chúa, hãy tựa đầu vào trái tim nhân hậu của Chúa, hãy ngã nhào vào chiếc nôi tình thương của Chúa, để cùng được nâng đỡ, dìu dắt, nhờ đó ta vượt qua những thánh giá hằng ngày mà theo Chúa, để cùng hãnh diện như thánh Gioan vì sung sướng được làm “người môn đệ Chúa yêu.” Lạy Chúa Giêsu, ném mình vào lòng thương xót của Chúa, chúng con cảm thấy yên hàn. Chúng con càng được nâng đỡ khi khám phá ra khuôn mặt thánh giá của chúng con hôm nay, làm cho chúng con trở nên giống Chúa vô cùng nhờ khuôn mặt thánh giá cứu độ của Chúa dành cho chúng con. Ngày 12.4.2006 - Thứ Tư Tuần Thánh Cách đây một năm, vào những ngày mùa Chay và tuần Thánh của năm 2005, Hội Thánh đón nhận một tin buồn lớn: Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đau nặng. Gọi là tin buồn, nhưng trong đức tin, vẫn toát lên tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Vì thế, cũng chẳng phải nỗi buồn mà tất cả đều mang niềm vui ơn cứu độ. Xét trọn cuộc đời làm giáo hoàng của Đức Thánh Cha, mọi người đều biết Đức Thánh Cha là nhà lãnh đạo khoan dung, là mục tử nhân hiền. Nhưng biết là một chuyện, thừa nhận lại là chuyện khác. Vì thế, trong số đông biết về Đức Thánh Cha, vẫn có kẻ không thừa nhận ngài. Đại diện những người vì thù hận, không nhìn thấy lòng hào hiệp của Đức Thánh Cha là Mehmet Ali Agca, kẻ đã rắp tâm giết chết Đức Thánh Cha. Nhưng Chúa gìn giữ vị Giáo Hoàng của Giáo Hội. Sau cuộc ám sát, Đức Thánh Cha được coi như từ cõi chết trở về cõi sống nhờ phép lạ lớn mà Chúa đã thực hiện. Cũng vậy, trong nhóm mười hai tông đồ tưởng rất mực trung thành theo Chúa, nào ngờ vẫn lộ ra khuôn mặt bội phản đầy đen đúa của Giuđa. Thánh Mathêô ghi nhận thái độ xấu xa của Giuđa trong Tin Mừng hôm nay: “Một người trong nhóm Mười Hai tên là Giuđa Itcariôt, đi gặp các thượng tế mà nói: 'Tôi nộp ông Giêsu cho quý vị, quý vị sẽ cho tôi bao nhiêu?' họ quyết định cho hắn 30 đồng bạc. Từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Chúa Giêsu.” Tuy nhiên, chúng ta đừng vội nhìn vào Giuđa hay Agca mà kết án họ. Đúng hơn, hãy nhìn họ để nhận ra chính chúng ta. Bởi ai trong chúng ta không một lần phạm lỗi, không một lần làm cho lòng mình ra đen tối vì phản lại lòng thương xót của Chúa, phản lại những ân huệ mà mình đã nhận từ Giáo Hội, từ các chủ chăn trong Giáo Hội, khi chúng ta ghét bỏ, chưởi bới, nói xấu, nuôi lòng thù hận với Giáo Hội, với các chủ chăn... Biết bao nhiêu lần ta bội phản đối với cha mẹ, anh chị em, lối xóm, bạn bè, tất cả mọi người mà ta gặp gỡ. Mỗi một lần như thế, là mỗi một lần ta đóng thêm một cây đinh vào thánh giá Chúa Kitô. Đó cũng chính là lúc Chúa Kitô tiếp tục lên thánh giá chết cho tội của ta. Vậy, sống tuần Thánh, nhìn vào sự phản bội của loài người đối với Thiên Chúa, chúng ta rút kinh nghiệm và học lấy bài học của lòng trung thành, từ đó, ta dám đứng lên, làm lại những gì đã mất do tội lỗi và từ nay sống trung thành hơn, bớt đi những nghịch phản hơn. Lạy Chúa Giêsu, sống những ngày Tuần Thánh này, chúng con đau đớn vì nhận ra sự phản bội quá nhiều lần trong suốt cuộc đời của mỗi chúng con. Hết thế hệ này, đến thế hệ khác, loài người chúng con cứ mãi vô tâm, cứ mãi bội phản. Xin cho chúng con biết loại trừ khuôn mặt của Giuđa nơi lòng mình, để từ nay trung thành hơn, mến yêu hơn, nhờ đó, chúng con xứng đáng với lòng yêu thương và tha thứ của Chúa hơn. Ngày 13.4.2006 - Thứ Năm Tuần Thánh Sau khi ngã đau nặng khoảng hai tháng, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã về bên Chúa lúc 9 giờ 37 phút thứ bảy trong tuần Bát nhật Phục Sinh 2.4.2005, áp Chúa nhật kính lòng thương xót của Chúa. 28 năm trước khi tàn hơi, đức Gioan Phaolô II lên ngôi giáo hoàng, chắc chắn đó là hạnh phúc tuyệt vời của cả Hội Thánh. Nhưng tất cả rồi cứ trôi, trả Gioan Phaolô II lại với đời thường, với trách nhiệm phải mang, phải gánh, với cả niềm vui lẫn sự lo âu, với sự thương, sự ghét, cả đến những lần ám sát mà người đời dành cho trong chuỗi ngày làm giáo hoàng của mình. Niềm vui đâu đó quanh đời chỉ là những ánh chớp, còn đòi hỏi của thập giá trong trách nhiệm, trong đau khổ không bao giờ vắng bóng. Chúa Kitô, Chúa chúng ta, cả một đời, chỉ làm phúc cho loài người: giảng dạy lời hay lẽ phải, chữa mọi bệnh tật, nâng đỡ người nghèo, người góa bụa, cho kẻ chết sống lại, đến giây phút gần cuối đời, Chúa còn làm một phép lạ lớn không thể tả: biến chính Thịt Máu mình làm của nuôi trần gian, tặng ban cho trần gian không những chính mình, mà còn tặng ban cả một sự hiện diện bền vững đến muôn đời, để từ nay, ai tin tưởng, mở lòng đón nhận ơn tha thứ và Mình Máu Chúa, Chúa sẽ cho họ sống đời đời với mình nơi lòng Chúa Cha vĩnh cửu. Đó chính là hành động mà thánh Phaolô nhắc lại trong bài đọc hai của thánh lễ Tiệc Ly chiều hôm nay, thứ năm tuần Thánh: “Trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: Đây là Mình Thầy, hiến dâng vì anh em; anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”. Lẽ ra, với tất cả những việc làm vô giá ấy, Chúa phải được người ta biết ơn, vui mừng đón nhận Chúa. Không hề như thế, nhưng hoàn toàn ngược lại, bởi người ta đã trả lại cho Chúa tất cả sự thù ghét đến tận cùng của lòng họ. Họ phải giết Chúa cho bằng được thì mới hả dạ. Bởi vậy, Đức Thánh Cha, hay mỗi người chúng ta, dù có gặp phải những khốn khó, những bội ơn của người đời dành cho mình, có lẽ đó cũng là chuyện bình thường. Chỉ mong rằng chính lòng chúng ta đừng bao giờ vong ân bội nghĩa, trước là đối với Thiên Chúa, sau là đối với tất cả mọi anh chị em quanh mình. Sống Tuần Thánh, suy niệm về cái chết của Chúa, về biết bao nhiêu sự phản bội của con người dành cho Chúa của mình, chúng ta hãy để lòng mình nhói đau và ân hận mãnh liệt, vì lỗi lầm của chính chúng ta. Từ đó, mỗi một người hãy làm một quyết tâm thật, thật bền, một quyết tâm bằng tất cả con tim yêu thương của mình, để từ nay không bao giờ dễ giải chấp thuận nghiêng chiều về sự tội, chấp thuận để cám dỗ ham thích tội lôi kéo mình, càng không bao giờ chấp thuận tội lỗi và ngã theo nó. Lạy Chúa Giêsu, tận thâm tâm, chúng con yêu mến Chúa và không bao giờ muốn phản lại tình thương của Chúa. nhưng sức người của chúng con bé nhỏ quá, vì thế, nhiều lần chúng con đã ngã gục cách thảm hại. Xin cho chúng con biết găn bó với Chúa trong bí tích Mình Máu Thánh, để chúng con mạnh mẽ hơn, sáng suốt hơn, nhằm đủ sức chống lại tội lỗi vây bủa chúng con. Ngày 14.4.2006 - Thứ Sáu Tuần Thánh Các lời trăn trối cuối cùng của Chúa Giêsu trên đồi Tử Nạn, khiến tôi nhớ lại tám lời dạy đầu tiên trên núi Bát Phúc. Bởi những lời trăn trối cuối cùng, dường như có sự tương đồng cách lạ thường với Tám mối Phúc thật. 1. Nghèo khó = “Lạy Cha, con phó linh hồn trong tay Cha.” (Lc 23, 46). Sống cho mọi người, Chúa Giêsu hoàn toàn hạ mình, để không còn gì cho riêng mình. Người nói: “Con chim có tổ, con chồn có hang, nhưng Con Người không chốn gối đầu”. Suốt cuộc đời trần thế, Chúa Giêsu phó thác chính mình hoàn toàn trong tay Chúa Cha, để biến mình thành của lễ cứu chuộc trần gian. Giờ đây, trên đồi Tử Nạn, Người tiếp tục bị loài người tước đoạt đến không còn gì, ngay cả chiếc áo cuối cùng, nhân phẩm, mạng sống, cả đến giọt máu sau hết, loài người cũng trút sạch. Phút cuối, tấm linh hồn Chúa cũng trao về Chúa Cha. Người gục đầu tắt thở trong sự cô đơn tận cùng. 2. Hiền lành = “Hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với Ta.” (Lc 23, 34). Chúa Giêsu hiền lành, sẵn sàng tha thứ và đón nhận tất cả những ai có lòng thành thật, biết nhận ra lỗi lầm, trở về đường ngay. Người tha cho Maria Mađalêna, một cô gái bị xã hội đào thải, bởi đã từng ngụp lặn trong tội. Chúa hiền lành quá đỗi, ngược hẳn thái độ háo thắng, dồn dập của những người đang hồ hỡi kết án chị phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang. Bằng cái nhìn độ lượng, không như những kẻ muốn ăn tươi nuốt sống chị, Người tuyên bố “Ta không kết án chị”. Giờ đây, trên thánh giá, cái nhìn dịu hiền ấy, Chúa dành cho người trộm lành. Người hứa chắc chắn với anh: “Hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với Ta.” 3. Đau buồn = “Lạy Chúa, Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con.” (Mt 27, 46). Nỗi đau buồn của Chúa Giêsu là nỗi đau cực độ. Người đã từng khóc thương thành Giêsusalem cứng đầu. Người đau lòng bởi những kẻ nhân danh đạo đức, lạm quyền, chất gánh nặng lề luật trên đôi vai dân chúng. Người đau lòng bởi những người thấp cổ bé miệng bị gạt ra bên lề xã hội. Người thương dân chúng bơ vơ tức tưởi bởi những kẻ lãnh đạo không đáng là mục tử của họ. Cuối cùng, trước khi nhắm mắt lìa đời, Chúa Giêsu đau khổ đến tột cùng, bởi cảm nhận sự cô đơn đến nỗi đã thốt lên những lời thống thiết: “Lạy Chúa, Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con”. 4. Đói khát sự công chính = “Ta khát!” (Ga 19, 28). Đã có lần Chúa khát và đến xin nước uống bên bờ giếng Giacob. Lần đó, Chúa đưa chị phụ nữ Samaria có đến sáu đời chồng, từ cơn khát tội lỗi đến khao khát “nước Trường Sinh”. Giờ đây, trên thánh giá, một lần nữa… Chúa khát. Lần khao khát này, không chỉ một người, nhưng là toàn nhân loại được Chúa đưa đến mạch Nước Trường Sinh là chính Chúa, để ai đến với Chúa, sẽ được tha thứ và được ban sự sống đời đời. 5. Thương xót = “Hỡi Bà, này là con Bà.” (Ga 19, 26). Chúa Giêsu, Đấng đầy lòng yêu thương. Cả một đời trần thế, Chúa tỏ bày lòng yêu thương với các môn đệ, với dân chúng, với những kẻ thù ghét Chúa, với hết mọi người. Chúa yêu mến và vâng phục Đức Maria. Chúa yêu thánh Gioan đến nỗi thánh Gioan rất tự hào với danh hiệu “Người môn đệ Chúa yêu”. Giờ đây, trên thánh giá, người đáng thương lẽ ra là chính Chúa, thì Chúa lại thực hiện nghĩa cử yêu thương cho Đức Mẹ, cho thánh Gioan, khi trối thánh Gioan làm con Đức Mẹ. Chúa sẽ tiếp tục tỏ lộ lòng thương xót ấy, khi cầu xin ơn tha thứ cho chúng ta: “Lạy Cha, xin tha cho chúng”. 6. Lòng trong sạch = “Hỡi Gioan, này là mẹ con.” (Ga 19, 27). Người có lòng trong sạch là người không vướng mắc tội đời. Chúa Giêsu có lòng trong sạch tuyệt đối. Người đã từng thách thức những kẻ thù ghét Người: “Ai trong các ngươi bắt được lỗi của Ta?” Chúa Giêsu luôn rao giảng trong sự chân thành. Suốt đời, Người là Đấng “Có thì nói có, không thì nói không.” Giờ đây, khi trao gởi thánh Gioan cho Đức Mẹ, Chúa muốn Đức Mẹ đón nhận thánh Gioan như đón nhận chính Chúa, Người Con suốt đời thánh thiện của Mẹ. Qua thánh Gioan, Chúa cũng nối kết chúng ta với Chúa để đón nhận ơn tha thứ, trở nên thanh sạch như thánh Gioan, để từng người chúng ta cũng được xứng đáng làm con của Đức Mẹ. 7. Hòa bình = “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm.” (Lc 23, 34). Điều kiện để có hòa bình là phải biết tha thứ. Chúa Giêsu tha thứ cho tất cả những ai thù ghét Chúa, bởi Chúa chính là nguồn bình an vô tận của cả loài người. Chúa không chỉ tha thứ khi loài người treo Chúa lên thánh giá, nhưng Người tha thứ ngay trong đời sống thường ngày, khi bị người đời chống đối, ghét bỏ. Rất tiếc, loài người vì hẹp hòi, ích kỷ, nên đã thù ghét Chúa. Họ đã không thể nhận được ơn bình an. Cùng với sự tha thứ vô bờ của Chúa, Chúa cũng dạy chúng ta: “Hãy yêu kẻ thù, và cầu nguyện cho những kẻ bách hại anh em”. Chúng ta hãy nhìn lên tấm gương tha thứ của Chúa, lắng nghe lời Chúa dạy mà sẵn sàng tha thứ cho nhau, để khắp nơi có hòa bình, và tâm hồn chúng ta thực sự bình an. 8. Bị bách hại vì lẽ công chính = “Mọi sự đã hoàn tất.” (Ga 19, 30). Những lời trên núi Bát Phúc để chúc phúc cho Hội Thánh: “Phúc cho ai bị bách hại”, thì giờ đây, trên đồi Tử Nạn, Chúa Giêsu trở thành người bị bách hại nặng nề. Dường như lời giảng khai mạc trên núi Bát Phúc, chỉ có thể được kết thúc trên đồi Tử Nạn. Ở giữa của một khoảng dài khai mạc và kết thúc ấy, là một cuộc bách hại liên tục: Chúa bị bách hại trong đám dân nghèo lắng nghe Tin Mừng, trong không biết bao nhiêu anh chị em bị quỷ ám, bị bệnh tật, bị xã hội loại bỏ. Chính bản thân Chúa Giêsu đã nhiều lần trong lời rao giảng, bị người ta cho là chói tai, nhiều lần họ muốn ném đá Chúa. “Mọi sự đã hoàn tất.” Giờ đây, một cuộc đời bị bách hại của Chúa đã kết thúc cùng với cái chết của Người trên thánh giá. Chúa chúng ta đã chết, nhưng cái chết của Chúa là phúc lớn cho chúng ta. Còn hơn cả Tám mối Phúc thật, Phúc mà Chúa ban cho ta là ơn cứu độ đời đời, cho ta sống đời đời trong Nước Chúa. Lạy Chúa Giêsu, Chúa chết vì chúng con. Hôm nay, ngày thứ sáu tuần Thánh, tưởng nhớ việc Chúa chấp nhận cái chết thương đau trên thánh giá, chúng con vừa mừng, vừa âu sầu. Mừng vì chúng con có một Thiên Chúa quá yêu chúng con. Chính tình yêu đó cho chúng con hy vọng rằng, dù chúng con có thế nào, thì tình yêu của Chúa mãi mãi vẫn là tình yêu cứu độ, luôn luôn đợi chờ chúng con. Nhưng buồn vì chúng con biết mình phạm tội nhiều. Xin tha thứ cho chúng con. Ngày 15.4.2006 - Thứ Bảy Tuần Thánh Hôm nay, thứ Bảy tuần Thánh, Hội Thánh tưởng niệm việc chôn táng Chúa Giêsu trong mồ. Lặng ngắm trước mồ Chúa để suy nghĩ thật sâu lắng, thật nghiêm túc về những gì đang diễn ra đối với Người, Hội Thánh nhận ra tội lỗi của mình nặng nề ghê gớm. Tội lỗi là một thứ vũ khí giết người đến kinh hoàng. Vì thế, Hội Thánh thống hối sâu xa và diễn tả nỗi đau thống hối ấy thật đậm nét trong phụng vụ: Bàn thờ trần trụi, không khăn trải; không bông hoa, chỉ có thánh giá treo thân xác bất động của Chúa và những ngọn nến chầu leo lét; không cử hành một nghi thức đặc biệt nào, kể cả thánh lễ. Đúng hơn, ngày hôm nay, thứ Bảy tuần Thánh, Hội Thánh canh thức bên cạnh mồ Chúa và ăn chay cầu nguyện để trông đợi Chúa phục sinh. Niềm vui phục sinh làm cho Hội Thánh sống lại, cùng với sự sống lại khải hoàn của Chúa. Diễn tả nỗi đau đớn do tội của mình trong sự chết của Chúa lớn bao nhiêu, thì Hội Thánh cũng sẽ tưng bừng cử hành mầu nhiệm phục sinh lớn bấy nhiêu. Thời gian u uất đã qua, Hội Thánh tưng bừng mời gọi: “Hãy vui lên, hỡi ca đoàn thiên sứ; hãy vui lên hỡi những mầu nhiệm thánh. Tiếng loa cứu độ, hãy vang khúc mừng Vua Cả khải hoàn. Vui lên, hỡi trái đất rực rỡ trong ánh sáng huy hoàng: và trong ánh huy hoàng của Vua muôn thuở, hãy vui mừng, vì được thoát vòng tối tăm của vũ trụ. Vui lên Mẹ Hội Thánh trong muôn ánh sáng lung linh, và thánh đường, hãy vang lên tiếng ca hát của toàn dân” (bài ca Tin Mừng Phục sinh - Exsultet). Công bố Tin Mừng Phục Sinh trong đêm thứ bảy tuần Thánh, đêm cực thánh, đêm mẹ của các đêm, đêm tưng bừng, đêm Hội Thánh không ngớt tung hô dậy trời: Allêluia, Chúa đã phục sinh. Alleluia, alleluia, Chúa đã phục sinh. Hội Thánh vui mừng sống lại biến cố trọng đại chưa từng có, và cũng sẽ không bao giờ có lần nào nữa trong suốt chiều dài lịch sử của mình. Biến cố mà các phụ nữ dù trong lòng đã nhảy cẫng lên, nhưng vẫn khiếp đảm đến run rẩy vì không chỉ bàng hoàng mà còn là niềm sung sướng đến kinh hồn bạt vía: “Hết ngày Sabbat, bà Maria Mađalêna, bà Maria, mẹ ông Giacôbê và bà Salômê, mua thuốc thơm để đi xức xác Chúa Giêsu. Và từ sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, khi mặt trời hé mọc, các bà đến mồ, họ bảo nhau: 'Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mồ cho chúng ta.' Khi đưa mắt nhìn, các bà thấy tảng đá đã được lăn ra bên cạnh. Mà tảng đá đó rất lớn. Các bà đi vào trong mồ, thấy một thanh niên ngồi bên phải, mặc áo dài trắng nên các bà khiếp sợ. Nhưng người đó bảo các bà rằng: 'Các bà đừng sợ: Các bà đi tìm Chúa Giêsu Nagiarét chịu đóng đinh: nhưng NGƯỜI ĐÃ SỐNG LẠI, không còn ở đây nữa. Đây là chỗ người ta đã đặt Người. các bà hãy nói với các môn đệ Người, nhất là với Phêrô rằng: Người đến xứ Galilê trước các ông. Ở đó các ông sẽ thấy Người như Người đã từng nói trước'. Nhưng các bà chạy ra khỏi mồ trốn đi, run rẩy kinh hồn chẳng dám nói gì với ai vì sợ hãi.” (Mc 19, 1-8). Lạy Thiên Chúa Cha toàn năng, xin ngợi khen Chúa, vì sự chiến thắng oai hùng của Con Chúa, Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng con khải hoàn muôn thuở. Lạy Đức Trinh Nữ, Mẹ Thiên Chúa, xin Mẹ cùng chúng con chiêm ngắm vẻ đẹp rạng rỡ của ngày phục sinh Con dấu ái của Mẹ. Hỡi triều thần thánh, hãy vui lên. Hãy ca vang. Ca vang nữa khúc ca thiên đàng, hợp cùng chúng tôi nơi trần thế, mừng ngày cứu độ toàn thể chúng ta trong ánh sáng huy hoàng có một không hai. Hỡi các vong linh đang thanh luyện, hãy vui lên, vì giờ cứu thoát chúng ta đã đến. Chúa Cứu Độ chúng ta đã yêu thương chúng ta vô tận, yêu thương đến cùng. Người là Chúa chiến thắng. Chúng ta dự phần chiến thắng của Người. Hỡi vụ trụ hữu hình và vô hình, hãy vui lên. Toàn vũ trụ hãy nhảy múa vì dấu ấn của tội xưa đã được xóa sạch. Chúa Cứu Độ chúng ta đã cất chiếc khăn tang bao trùm toàn dân. Người đã làm tiêu tan chiếc khăn liệm trải trên muôn nước. Người tiêu diệt sự chết mà tội ác gây nên. Đến muôn đời dấu ấn của tội xưa sẽ thất bại. Nó không còn thống trị chúng ta, bởi nó đã bị tiêu diệt đến muôn đời. Từ nay, Chúa Cứu Thoát lau khô nước mắt trên mọi khuôn mặt. Người cất khỏi mặt đất sự tủi hổ của chúng ta. Người thiết đãi chúng ta bữa tiệc hoan lạc, bữa tiệc toàn ánh sáng, bữa tiệc trường cửu trên núi thánh của Người. Bởi vậy, vũ trụ hãy vui lên, vui lên nữa. Nơi Đấng Cứu Thoát tuyệt đối thánh thiện, chúng ta đặt trọn niềm tin tưởng. Chúng ta hân hoan, chúng ta vui mừng trong ơn Người cứu độ. (x.Is 23, 6a. 7-9). Anh chị em loài người và muôn vật trên trời, trong rừng sâu, dưới lòng biển, hãy vui lên, nhảy cẫng lên như trẻ thơ vô tư. Hãy hát khúc hát vui mừng bằng mọi âm thanh mà mình có thể diễn tả. Hãy nhảy điệu nhảy của muôn loài. Hãy tấu lên khúc hòa tấu chung trên toàn thế giới. Hãy trỗi lên mọi thanh âm, cho bừng lên nét rạng ngời, để không chốn nào còn khóc lóc, sầu đau. Hãy làm rạng lên ánh sáng của ngày cứu độ. Hãy chiếu soi huy hoàng vào mọi góc tối của trần thế. Hãy làm mọi cách có thể để nổi bật niềm vui thánh thiện: CHÚA CHÚNG TA PHỤC SINH!!!● ¶
MÙA CHAY
THÂN ĐÃ SẠCH VẪN CẦN PHẢI RỬA CHÂN Đỗ Trân Duy Người Do Thái định cư trên vùng đất sỏi đá khô cằn miền sa mạc. Không gian nắng cháy và nguồn nước ngọt hiếm hoi. Mỗi làng hầu như chỉ có một cái giếng, mọi người phải cùng nhau chia sẻ, vì mạch nước khó tìm. Giếng thường nằm biệt lập cách làng khá xa. Tuy tiện cho việc nuôi thú vật ngoài đồng, nhưng lấy nước về nhà là việc vất vả tốn thì giờ. Nước dự trữ trong nhà được sử dụng một cách hạn chế. Nếu có dịp, người ta đến nguồn nước nào đó để tắm thay vì tắm ở nhà. Tuy nhiên dù có tắm ở sông, ở hồ… thân có sạch, nhưng lúc đi bộ về nhà chân vẫn lấm bụi đất. Cũng thế, dù tắm ở nhà nhưng từ ngoài vườn vào nhà, chân cũng dính bụi. Vì vậy, trước khi ngồi lên thảm họp mặt hay ăn cơm, người ta vẫn cần phải rửa chân. Đối với những vị khách quí đến viếng thăm, chủ nhà sai đầy tớ bưng thau chờ sẵn ở cửa lễ phép rửa chân cho khách. Rửa Chân Còn Là Dấu Chỉ Rửa Sạch Tội Trong bữa tiệc ly, Đức Giêsu cởi áo choàng, quấn khăn ngang lưng, bưng thau nước, quì gối rửa chân cho các môn đồ. Vì đó là việc làm của hạng tôi tớ nên ông Simôn Phêrô hốt hoảng rút chân lại la lên, “Thưa Thầy, không đời nào Thầy rửa chân cho tôi.” Đức Giêsu đáp, “Nếu Ta không rửa chân ngươi, ngươi sẽ không có chung phần với Ta.” Phêrô chất phác vội thưa, “Nếu vậy xin Thầy không những rửa chân, mà còn rửa tay và đầu tôi nữa.” Đức Giêsu đáp, “Kẻ đã tắm rồi, toàn thân đã sạch, không cần phải rửa lại.” (Ga 13:4-10). Đức Giêsu hạ mình rửa chân cho thuộc hạ để dậy họ bài học khiêm nhường trong sứ mạng phục vụ tha nhân. Đạo lý này Người đã nói nhiều lần qua khái niệm vô kỉ vô công, hay tự chết cái tôi của mình. Tuy nhiên nghi thức này còn hướng tới một chiều hướng khác. Khi Người nói, “Phải! các ngươi đã sạch, nhưng không phải tất cả đều sạch hết đâu” (Gio 13:11), Người đã hướng chủ đề sạch sẽ thân xác qua chủ đề thanh sạch tâm hồn. Nhân đó Người hàm ý cảnh tỉnh Giuđa là kẻ đang có manh tâm phản bội Thầy. Lời cảnh tỉnh xa xôi nhưng đủ mạnh cho một tâm hồn thánh thiện. Đáng tiếc, lời ấy đã không được Giuđa lãnh hội. Đức Giêsu đau lòng nhìn Giuđa đứng lên bỏ bàn tiệc, lao mình vào đêm đen. Hắn đi tìm một cuộc đổi chác mà bản chất là sự lừa dối vị kỉ. Ngay lúc có ý định ấy, hắn đã bán linh hồn mình với giá 30 đồng. Sau khi Giuđa lìa phòng tiệc, Đức Giêsu nói với những đệ tử còn lại, “Nay các ngươi đã được sạch, nhờ lời Ta giảng dậy các ngươi” (Ga 15:3). Đây là lời kết chan chứa tình cảm trong giờ chia ly. Hiển nhiên và công khai, Đức Giêsu hài lòng xác nhận tâm hồn của mười một môn đệ đã sạch, vì họ đã có đời sống kết hợp với đạo lý do Người truyền dậy. Đến đây chúng ta có thể hiểu khi chúng ta noi gương Đức Giêsu “rửa chân” cho nhau, chúng ta biểu lộ lòng khiêm nhường trong nghĩa cử phục vụ anh em. Nhưng nếu việc rửa chân do chính Đức Giêsu cử hành, nó là biểu tượng của tẩy uế tội lỗi. Đức Giêsu nói quyết liệt với Simôn Phêrô: nếu không chịu rửa chân sẽ không có kết hợp với Người. Giáo Hoàng Bênêđíc XVI luận rằng cảnh rửa chân cô đọng cuộc đời và cuộc khổ nạn của Đức Giêsu. Thiên Chúa bỏ qua một bên tấm áo choàng vinh quang, tự mặc tấm áo nô lệ, đứng bên cửa chờ đợi để hầu hạ. Thiên Chúa, với tình yêu thương vô điều kiện, cúi xuống rửa sạch những vết ô uế của con người, để con người có thể ngồi chung bàn tiệc với Thiên Chúa. Suy niệm về điểm đặc thù này, thần học nhận ra rằng biến cố rửa chân xảy ra trước khi Đức Giêsu thành lập nhiệm tích Thánh Thể. Như vậy rửa chân là dấu chỉ cho biết con người phải rửa sạch tội trước khi nhận lãnh Mình và Máu Chúa. Những Ai Có Thân Sạch Mới Cần Phải Rửa Chân Tuy nhiên suy ngẫm về chủ đề thanh sạch tâm hồn, người ta không khỏi vướng mắc trong vài sự kiện khúc mắc nghịch lý. Ngay từ đầu bữa tiệc ly, Đức Giêsu đã chẳng xác nhận các môn đệ của Người đều đã sạch tội cả rồi hay sao? (Thân đã sạch không cần phải rửa lại). Nếu thế Người cần gì phải tẩy rửa tội (rửa chân) cho họ? Sau này tông đồ Gioan cũng trình bày một ý tưởng phản lý tương tự. Thánh nói, “Nếu chúng ta sống trong sự sáng, như Thiên Chúa ở trong sự sáng, chúng ta [sẽ] kết hợp với nhau, [rồi] máu Đức Giêsu Kitô con Thiên Chúa sẽ rửa sạch mọi tội lỗi chúng ta” (1 Ga1:7). Tại sao đã kết hợp với Thiên Chúa và đi trong ánh sáng của Người, mà chúng ta vẫn còn phải tẩy rửa tội lỗi. Có lẽ nào đã sống trong ánh sáng Thiên Chúa, mà chúng ta vẫn không nhìn ra chân lý hay sao? Nếu vậy đâu có thể gọi là kết hợp với Thiên Chúa. Nếu nhìn sâu vào chi tiết hơn chút nữa, chúng ta thấy thánh Gioan xác nhận ở phần đầu câu nói là: chúng ta đã sống trong ánh sáng, đã có kết hợp với Thiên Chúa, đã nhìn ra chân lý. Nhưng nếu vậy tại sao chúng ta còn phải tẩy rửa tội. Chẳng lẽ chúng ta vẫn ô uế khi đạt tới cảnh giới sống trong ánh sáng của Thiên Chúa? Hãy để tâm hồn đối diện với khúc mắc của biểu tượng rửa chân và lời dậy của thánh Gioan. Tâm thức chúng ta sẽ bừng mở về mầu nhiệm của phép giải tội. Trước hết “Kẻ đã tắm rồi, toàn thân đã sạch, không cần phải rửa [thân] lại.” Bởi vì khi đã chịu phép rửa, nguyên tội được sạch, linh hồn được tái sinh trong Thần Khí. Đã chấp nhận Phúc Âm rồi, đời sống tâm linh được rửa sạch, chúng ta không cần rửa thêm một lần nào nữa. Tuy nhiên chúng ta vẫn còn mang trong người bản chất thiên về sa đọa do tổ phụ Ađam truyền lại. Chúng ta vẫn còn tiềm năng phạm tội. Chúng ta không bao giờ có thể tự hoàn hảo thánh thiện. Đó là điều chúng ta xót xa nhận rõ cái bản chất phàm trần bất toàn của mình. Con người luôn luôn có những bước chân lầm lỡ, dính những hạt giống tội lỗi, chờ dịp thuận tiện là nảy mầm. Thân có sạch nhưng chân vẫn dơ. Vì vậy con người vẫn cần phải rửa chân. Tuy nhiên chỉ những ai giữ được thân thể sạch sẽ mới quan tâm đến vết nhơ, dù nhỏ, dính ở ngón chân. Chỉ những a |