|
|
Số 77 Ngày 22-04-2006
Lý Trí và Đức Giêsu Phục Sinh – Lm. Mark Link, SJ. Đức Gioan Phaolô II - Vị Tông Đồ của Lòng Thương Xót - Gm. Ornellas Vài Nét Chấm Phá về Năm Đẩu Tiên của Triều Đại GH Bênêđictô XVI Mùa Phục Sinh – Maranatha sưu tầm Chỉ Tin Mới Gặp – Trích Phúc Âm thứ 5 Danh Vị Của Đức Kitô - Maranatha sưu tầm Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J. Thánh Lễ Vọng Phục Sinh ở Trung Tâm Mai Hoà - Trần Duy Nhiên Xin Giữ Cho Nhau Ngọn Lửa Phục Sinh - Trầm Tĩnh Nguyện Món Quà Phục Sinh 2006 - Người Bạn Trẻ VB Quả Trứng Rỗng – Maranatha sưu tầm và dịch Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả, Chúng ta bước vào Chúa nhật đầu tiên sau Lễ Phục Sinh. Cách đây đúng một năm vào ngày này, mọi phương tiện truyền thông trên thế giới đều hướng về một biến cố gây chấn động: Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II qua đời vào đêm cuối tuần Phục Sinh đầu tiên. Chúa Kitô Phục Sinh chiếu một ánh sáng đặc biệt vào cái chết của một vĩ nhân thời đại. Năm nay, Phục Sinh lại về trong khi tại miền viễn đông nước Nga vừa xảy ra một trận động đất với cường độ 7.7 độ Richter. Hiện chưa có báo cáo về thiệt hại hay thương vong, và hy vọng không có nhiều thiệt hại vì miền này ít cư dân. Thế nhưng người ta nhớ lại năm 1906, một trận động đất với cường độ như thế xảy ra tại San Francisco phá hủy hơn 1/2 các tòa nhà của thành phố và khiến hơn 4,000 người thiệt mạng. Cũng trong những ngày này, tại Việt Nam, đại hội X của Đảng Cộng Sản, nhức nhối vì nạn tham nhũng nơi cách nhân vật cao cấp, đang tranh luận căng thẳng về tính chất dân chủ trong Đảng và cho người dân; thì tại Hoa Kỳ, hơn 1,200 người nhập cư bất hợp pháp bị bắt trên 9 tiểu bang trong một cuộc vây bắt lớn nhất từ trước đến giờ, khiến cho nhiều người biểu tình phản đối với khẩu hiệu: Chúng ta là một quốc gia của người di dân. (We are a nation of immigrants). Tất cả những biến cố xảy ra đều kêu gọi đến ‘lòng thương xót’ bằng cách này hay cách khác. Và thật đúng lúc khi Chúa Nhật này được mừng với tên gọi Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa. Năm 2000, Đức Gioan Phaolô II thiết lập lễ này, đáp lại ý muốn của Chúa được gửi gắm qua thánh Faustina: “Ta muốn ngày lễ kính Lòng Thương Xót là một trợ giúp và nơi trú ẩn cho mọi linh hồn, và nhất là cho những người tội lỗi đáng thương. Trong ngày ấy, Lòng Thương Xót của Ta sẽ rộng mở; Ta sẽ tuôn đổ một đại dương hồng ân xuống các tâm hồn đến gần nguồn mạch Lòng Thương Xót của Ta.” (Tiểu Nhật Ký, đoạn 699). Phúc Âm ngày Chúa Nhật của Lòng Thương Xót kể lại biến cố Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra cho các thánh tông đồ và thánh Tôma: “Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em!” Rồi Ngài cho họ xem bàn tay và cạnh sườn Ngài. Các môn đệ hớn hở vui mừng vì gặp lại Chúa. Thế là Ngài nói một điều rất mới: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” (Ga 20, 19-20). Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra cho các tông đồ. Ngài đã giữ nguyên các vết thương của cuộc Thương Khó, từ đấy tuôn ra Lòng Thương Xót. Các tông đồ vừa được mời gọi để ngắm nhìn các vết thương, vừa nhận lãnh bình an và niềm vui xuất phát từ Lòng Thương Xót, rồi được Chúa Giêsu phái đi làm chứng cho lòng thương xót ấy. Theo gương các ngài, chúng ta cũng được mời gọi để sống Lòng Thương Xót không chỉ cho bản thân mình mà còn trở thành biểu hiện của lòng Thương Xót trên thế giới này để hầu đem thế giới đến với lòng Thương Xót, theo lời kêu mời của Chúa Kitô. Cũng vì thế mà Maranatha 77 sẽ đăng những bài liên quan đến mầu nhiệm Phục Sinh, nhưng không quên nêu lên một gương chứng nhân cho Lòng Thương Xót đó, và người ấy không ai khác hơn là “Đức Gioan Phaolô II - vị tông đồ của Lòng Thương Xót”, mặc dù chúng ta cũng không quên nhìn lại lòng thương xót Chúa thể hiện qua một năm nhiệm chức của Đức Bênêđitô XVI, vị kế nhiệm ngài. Nhưng trước khi đọc về ngài, chúng ta hãy gẫm suy lại những lời cuối cùng mà ngài dự định công bố vào giờ Kinh Regina Coeli đúng vào ngày mà ngài đã ra đi: đúng vào Chúa Nhật của Lòng Thương Xót năm 2005. Đây không chỉ là bài suy niệm hay là một giáo huấn có giá trị, mà còn là chứng từ của cả một kinh nghiệm tâm linh của người Cha yêu dấu của chúng ta. “Anh chị em rất thân mến, Hôm nay vẫn còn âm vang tiếng Allêluia vui tươi của ngày Phục Sinh. Bài Phúc Âm thánh Gioan hôm nay nhấn mạnh rằng Đấng Phục Sinh, chiều hôm ấy, hiện ra với các tông đồ và cho họ xem “đôi tay và cạnh sườn,” nghĩa là những dấu vết đớn đau của ngày thương khó, mà từ nay sẽ mãi mãi không phai mờ trên hình hài Ngài, ngay cả sau ngày Phục Sinh. Những vết thương vinh quang ấy, mà Chúa đã cho thánh Tôma đa nghi kia chạm đến, biểu lộ lòng nhân từ của Thiên Chúa, Đấng “yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một Người.” Mầu Nhiệm Tình Yêu này là trung tâm của phụng vụ hôm nay, ngày Chúa Nhật ‘in albis’ (áo trắng), được dâng lên để chúc tụng Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Với nhân loại, đôi khi có vẻ lạc hướng và bị đè bẹp bởi quyền năng sự dữ, tính ích kỷ và nỗi sợ hãi. Chúa Kitô Phục Sinh ban tặng Tình Yêu của Ngài, một Tình Yêu thứ tha, hòa giải và mở lòng để đón nhận niềm hy vọng. Chính Tình Yêu sẽ hoán cải con tim và đem lại bình an. Thế gian rất cần thông hiểu và đón nhận Lòng Thương Xót của Thiên Chúa! Lạy Chúa Kitô, Đấng đã dùng cái chết và sự sống lại để biểu lộ tình yêu của Chúa Cha, chúng con tin tưởng nơi Chúa, và với lòng cậy trông, chúng con xin lặp lại hôm nay: Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Chúa, xin ban cho chúng con và cho thế giới lòng Thương Xót của Chúa. Phụng Vụ trọng thể của lễ Truyền Tin, mà chúng ta mừng ngày mai đây, thôi thúc chúng ta chiêm ngắm, với cặp mắt của Mẹ Maria, Mầu Nhiệm vĩ đại của Tình Yêu đầy xót thương xuất phát từ trái tim Chúa Kitô. Với sự trợ lực của Ngài, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa đích thực của niềm vui Phục Sinh, một niềm vui đặt nền tảng trên niềm xác tín này: Đấng mà Đức Mẹ đã cưu mang trong lòng, đã chịu đau khổ và chết vì chúng ta, Đấng ấy đã sống lại thật. Allêluia!” Chớ gì lời tung hô Allêluia này nhắc nhở cho chúng ta rằng Thiên Chúa Phục Sinh sẽ đến một cách vinh quang trong ngày cánh chung và chính giờ đây, trong thế giới lắm nhiễu nhương này, và từ đó, chúng ta lại càng xác tín cầu xin: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến! MARANATHA
Lm. Mark Link, S.J. Giả như chúng tôi mời một anh chị em lên toà giảng và bịt mắt anh chị em đó lại, rồi chúng tôi đặt một xô nước trước mắt anh chị em đó, và hỏi anh chị em đó đoán xem nó chứa nước hay không. Có ba cách trả lời câu hỏi đó mà không cần phải cởi khăn bịt mắt ra. Ba cách đó thế nào? Cách thứ nhất là đến thẳng xô nước và thò tay vào xem có nước trong đó không. Nói cách khác, anh chị em có thể kinh nghiệm trực tiếp xem xô ấy đầy hay rỗng. Cách này được gọi là kinh nghiệm. Đây là tri thức mà chúng ta có được bằng kinh nghiệm trực tiếp. Đó là tri thức do giác quan. Cách thứ hai để biết cái xô ấy có chứa nước hay không là thả vào đó một vật, chẳng hạn một đồng xu. Nếu vật ấy chạm vào đáy xô tạo nên một âm thanh vang và to, anh chị em sẽ biết ngay cái xô ấy rỗng. Nhưng nếu đồng xu ấy va chạm tạo nên âm thanh không rõ hoặc có những hạt nước bắn toé ra, anh chị em biết ngay cái xô ấy có nước. Tri thức này có được là nhờ lý luận. Cách thứ ba để biết xem cái xô ấy có nước hay không là hỏi thăm người nào mà anh chị em tin cậy. Người ấy có thể nhìn vào cái xô và nói cho anh chị em biết trong ấy có nước hay không. Cách biết này là tin vào người khác mà biết. Đó chính là tri thức có được do niềm tin. Kinh nghiệm, lý luận, và tin tưởng đó chính là ba cách thức để biết ở đời này. Bây giờ chúng ta hãy xét đến một câu hỏi khác, câu hỏi thứ hai. Trong ba cách để biết ấy, có cách nào giúp chúng ta biết được nhiều hơn cả? Chúng ta biết được điều này điều kia phần nhiều là do kinh nghiệm bằng giác quan, hay do đầu óc suy luận hay do tin tưởng vào người khác? Nếu anh chị em trả lời là do niềm tin, do sự tin tưởng nơi người khác, thì anh chị em đúng hoàn toàn. Hầu hết chúng ta biết được điều này điều kia là do chúng ta tin vào những gì người khác nói với chúng ta, có một nhà chuyên môn ước lượng rằng 80% những kiến thức của chúng ta là do tin tưởng vào người khác mà có. Chẳng hạn, trong chúng ta ít có ai được may mắn du hành quanh thế giới. Cách duy nhất để chúng ta biết về phần lớn các quốc gia trên thế giới là do người khác nói cho chúng ta biết. Nói cách khác, chúng ta tin vào những người đã từng đến những nơi ấy. Nếu họ kể cho chúng ta rằng có một xứ sở nọ tên là Trung Hoa, và dân chúng ở đó thế này thế kia, chúng ta sẽ tin họ. Phương cách để chúng ta có được những tri thức thông thường còn chân thực như thế, thì cách thức để chúng ta có được những tri thức tôn giáo càng chân thực hơn nữa. Phần lớn các tri thức tôn giáo mà chúng ta có là do chúng ta tin vào những gì Kinh Thánh kể lại cho chúng ta. Nói cách khác, phần lớn tri thức tôn giáo của chúng ta là do niềm tin. Bây giờ chúng ta xét đến câu hỏi thứ ba. Chúng ta có thể hiểu biết những thực tại tôn giáo bằng ba cách mà chúng ta thường dùng để hiểu biết những thực tại thông thường không? Chẳng hạn, chúng ta có thể biết Đức Giêsu sống lại từ cõi chết không phải chỉ nhờ tin những gì Kinh Thánh nói, mà còn nhờ vào suy luận nữa không? Có nhiều người nghĩ rằng được. Họ giải thích rất hấp dẫn. Họ lập luận rằng sau khi Đức Giêsu chết, các môn đệ bị khủng hoảng tinh thần tột độ. Họ chỉ còn là một nhóm người đại bại, một nhóm người thất chí, một nhóm người nhát sợ. Thế rồi, vào Chúa nhật Phục Sinh, có một biến cố nào đó đã biến đổi họ một cách không thể tưởng tượng được. Có một biến cố nào đó đã thay đổi con người họ một cách thật lạ lùng. Bỗng nhiên lòng họ bừng lên niềm vui, niềm hạnh phúc thực sự. Họ không thể cầm lòng được. Họ vội chạy đi loan báo cho mọi người họ gặp rằng Đức Giêsu đã sống lại và hiện đang sống. Họ tin điều ấy một cách chắc chắn đến độ họ thà sẵn sàng chịu bắt bớ bách hại đủ kiểu đủ cách, dầu là phải chết, còn hơn phải chối bỏ Đức Giêsu đã phục sinh của họ. Đời sống và lời giảng của nhóm người này đã thay đổi cục diện lịch sử nhân loại. Không một giả thuyết nào có thể giải thích được tại sao đời sống của họ lại có thể biến đổi như thế, ngoại trừ cách giải thích của chính họ: họ đã thấy Đức Giêsu hiện còn sống. Giả như nhóm người thất học này đã phịa chuyện về Đức Giêsu và sự phục sinh của Ngài thì chắc chắn ta phải chấp nhận rằng sớm hay muộn, ít nhất phải có một người trong bọn sẽ phải nói ra sự thật, vì không chịu nổi sự bách hại và giết chóc. Nhưng không một ai trong nhóm ấy đã làm thế. Lời chứng của họ về Đức Giêsu sống lại không bị lay chuyển chút nào, không bị giảm cường độ chút nào. Ngược lại, lời chứng ấy càng ngày càng mạnh mẽ và ảnh hưởng tới mọi người hơn. Họ đã cảm nghiệm được một năng lực mới lạ và diệu kỳ đã khiến họ thực hiện được nhiều phép lạ. Chính sự biến đổi không thể nào giải thích được nơi các môn đệ Đức Giêsu khiến cho nhiều người nói rằng chính lý trí cũng minh chứng rằng Chúa Giêsu đã phục sinh. Nói cách khác, lý trí thuần lý cũng xác quyết rằng một biến cố nào đó rất ngoạn mục đã xảy ra làm biến đổi các môn đệ Đức Giêsu lý trí thuần lý xác nhận rằng sự phục sinh của Đức Giêsu thực sự xẩy ra. Anh chị em cũng như tôi đều không được đặt tay vào cạnh sườn Chúa Giêsu như thánh Tôma, để trực tiếp cảm nghiệm được Đức Giêsu phục sinh từ cõi chết. Tuy nhiên, chúng ta có thể tin tưởng vào chứng cứ của Thánh Kinh, chúng ta cũng có thể làm hơn thế nữa. Chúng ta có thể sử dụng tặng phẩm Chúa ban là lý trí để xác quyết thêm điều Kinh Thánh đã truyền dạy chúng ta. Và rồi, chúng ta cũng có thể quì gối xuống như thánh Tôma đã làm và thưa với Chúa Giêsu: "Lạy Chúa Con, lạy Thiên Chúa của con." Đáp lại, Chúa Giêsu sẽ nói với chúng ta: "Hạnh phúc biết bao cho kẻ chẳng thấy mà tin." Để kết thúc, chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện:
Kính lạy
Chúa, bất cứ khi nào đức tin chúng con bị chao đảo, giống
như trường hợp của thánh Tôma, thì xin Ngài nhắc chúng con
nhớ lại những lời Kinh Thánh thuật lại về những biến cố đã
xảy ra vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Cũng xin Chúa nhắc
chúng con nhớ biến cố này không chỉ gây ảnh hưởng trên các
môn đệ Chúa Giêsu mà còn trên toàn dòng lịch sử. Và nhất là,
xin nhắc chúng con biết tham dự vào Tin Mừng Phục Sinh của
Ngài với tha nhân quanh chúng con, giống như các môn đệ đã
chia sẻ niềm vui ấy với mọi người quanh họ. Chúng con nguyện
xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen ¶
"Chúc tụng Thiên Chúa và là Cha của Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô, Đấng đã thể theo lòng hải hà mà tái sinh chúng ta cho hy vọng hằng sống, nhờ sự Phục Sinh từ cõi chết của Đức Giêsu Kitô." (1Pr 1:3).
Trích Đường Hy Vọng – ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận
ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II - VỊ TÔNG ĐỒ CỦA LÒNG THƯƠNG XÓTĐức Cha Ornellas - Maranatha dịchNgày 02-4-2005, Đức Gioan Phaolô II vĩnh biệt chúng ta. Ngày hôm ấy thế giới tưởng niệm nhà hành hương không mỏi mệt từng đi gieo rắc hòa bình. Ta xem đi xem lại những hình ảnh vui tươi hay đau đớn của triều đại Giáo Hoàng thật dài của ngài. Và qua những hình ảnh cuối đời, điều nổi bật lên hơn cả là tiếng nói ‘lặng thinh’ của ngài.
Tuy nhiên, đấy không phải là lời nói sau cùng mà ngài ngỏ lời với Giáo Hội và với thế giới. Lời cuối cùng ấy được thốt lên đêm 02-4-2005 ‘non loquendo sed moriendo’ (không phải bằng cách nói ra mà bằng cách chết đi), như được ghi trong kinh phụng vụ lễ các thánh Anh Hài. Kitô hữu hẳn đã lưu ý rằng Đức Giáo Hoàng qua đời vào đêm hôm trước ngày lễ mà ngài đã thiết lập dành tôn kính Lòng Thương Xót Chúa. Tuy nhiên, nếu thế giới biết nhiều về ngày 02-4-2005, thì ít người hiểu rằng ngày hôm ấy một lời nói đã được thốt lên để loan báo Tình Thương Xót. Thế nhưng, lời tối hậu này chẳng phải là lời của người kế vị thánh Phaolô để ‘củng cố’ đức tin cho anh em mình sao? (x. Lc 22, 32) Vị Giáo Hoàng từng ban hành thông điệp về Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót lại ra đi vào ngày mà ngài đã dâng hiến cho Lòng Thương Xót Thiên Chúa. ‘Lời’ về lòng thương xót ấy có ý nghĩa gì? Đức Gioan Phaolô II ý thức mãnh liệt về sứ vụ hoàn vũ của ngài với tư cách là người kế vị Thánh Phêrô. Ngài từng thổ lộ rằng hai thông điệp đầu tiên của ngài (Đấng Cứu Chuộc Loài Người - Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót: Redemptor hominis - Dives in Misericordia) xuất phát từ kinh nghiệm mục vụ tại Ba Lan. Thế kinh nghiệm từ Ba Lan là kinh nghiệm gì? Đầu tiên là Thế Chiến thứ II. Ngài thường nói về thế chiến thứ II như một kinh nghiệm cá nhân. Đầu năm 2000, ngài ngỏ lời với các đại sự cạnh Toà Thánh như sau: “Người đang nói với quí vị đây từng là bạn đồng hành với nhiều thế hệ trong thế kỷ vừa mới trôi qua. Người ấy từng chia sẻ những thử thách cam go của dân tộc mình cũng như những giờ phút đen tối nhất mà Âu Châu đã sống qua.” Có cần phải nhắc lại ngày tháng không? Ngày 01-9-1939, lúc quân đội Đức Quốc Xã xâm chiếm Ba Lan, Karol Wojtyla ở vào tuổi 19. Làm sao ký ức ngài không giữ lại hình ảnh của cái thảm kịch khốc liệt từng giáng xuống con người vào thế kỷ hai mươi? Khi trở thành người kế vị Thánh Phêrô, ngài không thể nào quên được rằng ngài đến từ đất nước Ba Lan đó. Hơn thế nữa, kinh nghiệm của người con đất nước Ba Lan cũng theo ngài để trở thành một gia sản cho Giáo Hội hoàn vũ. Đức Gioan Phaolô II đã suy nghĩ chín muồi tại Ba Lan, nơi mà sự dữ đã tuôn trào một cách vô cùng khốc liệt: làm sao ngăn chặn sự dữ? Ai sẽ đương đầu với sự dữ? Câu trả lời đã rõ: Lòng Thương Xót. Lòng Thương Xót ấy được gửi đến cho ngài qua một nữ tu âm thầm ở Ba Lan. Từng là cựu chủng sinh, linh mục và giám mục Krakow, ngài rất hâm mộ Xơ Faustina. Vào lúc xế chiều cuộc đời, ngài chia sẻ sự gần gũi thiêng liêng với nữ tu này: “Lạy Chúa Giêsu, con cậy trông nơi Chúa!” Đấy là lời cầu nguyện đơn sơ mà dì Faustina đã dạy con, và mọi giây phút trong cuộc đời, chúng con có thể thốt lên lời nguyện ấy. Biết bao nhiêu lần, với tư cách là người thợ và sinh viên, rồi với tư cách là linh mục và giám mục, trong những giai đoạn khó khăn của lịch sử Ba Lan, chính con cũng đã lặp lại lời cầu xin đơn sơ này, và cảm nhận được hiệu quả và sức mạnh của lời cầu ấy!” Hélène Kowalska, sau này trở thành xơ Maria-Faustina Thánh Thể, qua đời năm 33 tuổi, vào ngày 5-10-1938. Lúc bấy giờ Karol Wojtyla được 18 tuổi. Trong nhật ký của mình, Xơ thổ lộ một mong muốn của Chúa Giêsu: “Lễ kính Lòng Thương Xót xuất phát từ lòng Thầy, Thầy muốn lễ ấy được mừng trọng thể ngày Chúa nhật đầu tiên sau Phục Sinh.” Sau này Đức Gioan Phaolô II phong chân phước rồi phong thánh cho vị nữ tu này vào ngày 18-4-1993 và 30-4-2000, nghĩa là những ngày Chúa Nhật đầu tiên sau Chúa Nhật Phục Sinh. Năm 1997, ngài viếng mộ chân phước Faustina tại Ba Lan: “Đây chính là nơi xuất phát sứ điệp về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa mà chính Chúa Kitô đã muốn thông truyền cho thế hệ chúng ta qua chân phước Faustina. ... Sứ điệp này đối với tôi là một niềm nâng đỡ lớn. Sứ điệp về Lòng Thương Xót mãi mãi gần gũi và quen thuộc đối với tôi. Cứ như là lịch sử đã ghi khắc trong kinh nghiệm bi thương của Thế Chiến thứ II. Trong những năm khó khăn đó, sứ điệp này từng là một nâng đỡ đặc biệt và một nguồn hy vọng bất tận, chẳng những cho cư dân Krakow, mà còn cho toàn thể dân tộc. Đấy cũng là kinh nghiệm cá nhân của tôi, mà tôi đem theo đến Tòa của thánh Phêrô, và một cách nào đó, kinh nghiệm đó đã là lằn chỉ xuyên suốt cho triều đại giáo hoàng này.” Trong bài giảng thánh lễ phong thánh cho chân phước Faustina, Đức Gioan Phaolô II bộc lộ ý nguyện của mình: “Chúa Giêsu cúi mình xuống trước mọi hình thức nghèo khổ của nhân loại, nghèo vật chất cũng như tinh thần. Sứ điệp về Lòng Thương Xót tiếp tục chạm đến chúng ta qua cử chỉ Ngài đưa tay hướng về người đau khổ...Tôi chuyển đến mọi người Lòng Thương Xót đó, để cho họ tìm hiểu ngày càng rõ ràng hơn về gương mặt đích thực của Thiên Chúa và gương mặt của anh em mình.” Sau đó, Đức Thánh Cha còn nhấn mạnh rằng ‘chúng ta cần phải đón nhận trọn vẹn sứ điệp xuất phát từ Lời Chúa trong Chúa nhật thứ hai mùa Phục Sinh, và kể từ nay, chúa nhật này được gọi là ‘Chúa Nhật của Lòng Thương Xót Chúa.’ Lời Chúa hôm nay nói lên điều gì? Các bài đọc sẽ cho chúng ta một ánh sáng về Lòng Thương Xót. Sách Xuất Hành trong Cựu Ước kể lại cuộc khám phá sau đây của Môsê: Thiên Chúa là Đấng ‘đầy lòng thương xót’ (Chương 34). Dân Israel đã cầu nguyện Thiên Chúa của mình dưới danh hiệu đó (TV 51, 86, 102, 103, 111, 145). Chúa Giêsu giải thích rõ hơn ai cả về Lòng Thương Xót qua dụ ngôn người con hoang đàng. Nhưng nhất là qua việc làm của Ngài mà Ngài làm chứng cho Lòng Thương Xót đó. Thập Giá của Ngài đã mặc khải Lòng Thương Xót một cách ‘trọn vẹn.’ Đức Gioan Phaolôb II yêu cầu chúng ta đọc lại Kinh Thánh để khám phá ý nghĩa chân chính của lòng thương xót: lòng thương xót làm cho từng người ‘có giá trị hơn’ và ‘thăng tiến hơn.’ Lòng thương xót đưa con người từ cõi chết về với sự sống. Ơn tha thứ của Thiên Chúa không hạ thấp con người mà nâng cao họ lên nhờ tình yêu. Thiên Chúa không bao giờ quên rằng mỗi con người là con chí ái của Người! Từ đó, Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta cũng biết thương xót lẫn nhau. Thay vì hạ nhục hay xúc phạm người thấp yếu, thái độ thương xót thì làm cho người kia cũng biết xót thương. Nó tạo ra những tương quan đúng đắn mà mỗi người được nâng cao giá trị và được ... hạnh phúc ¶ NĂM ĐẦU TIÊN CỦA TRIỀU ĐẠI GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI Vài nét chấm phá
Cách đây tròn một năm, khi Giáo Hội hoàn vũ còn đang đau buồn và thương tiếc vì sự ra đi của vị cha chung, Đức Gioan Phaolô II, thì đức Hồng Y Joseph Ratzinger được bầu lên kế vị ngài. Đức Bênêđitô XVI khởi sự triều đại của mình ngày 20-4-2005. Sau một năm nhìn lại, chúng ta thấy được gì nơi ngài? Quả là không thể nào tóm kết trong vài trang về 365 ngày hoạt động của một vị Giáo Hoàng. Vì thế, chúng ta sẽ cùng nhau điểm qua một số khái niệm và trả lời ngắn gọn để có một cái nhìn chớp nhoáng về những gì liên quan đến Đức Bênêđitô XVI, để qua đó, chúng ta có một vài hình ảnh cụ thể về ngài. Những từ ngữ và ý tưởng sau đây, Maranatha lấy ý của Anita Bourdin, được đăng trên Zenit vào Chúa nhật Phục Sinh năm nay.
Một chữ “Caritas.” Tình Yêu. Đức Bênêđitô XVI đã dùng từ này làm tựa để cho thông điệp đầu tiên của ngài “Deus Caritas Est.” Ngài không ngừng mong mỏi tình yêu này tuôn trào vào Giáo Hội, vào các cơ chế Giáo Hội, vào các giáo xứ và gia đình. Ngài ước ao tình yêu này luân chuyển giữa các Kitô hữu, giữa các dân tộc với nhau. Thuật ngữ này gắn liền với một thuật ngữ khác: ‘chân lý,’ và đây là hòn đá thử vàng để biết tình yêu ấy có chân chính hay không. Vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, trong bài giảng của mình, Đức Thánh Cha nói rằng: Giu-đa đã ‘đi nước đôi’, ông đắm mình vào trong dối trá. Thánh Gioan bảo rằng chân lý giải phóng chúng ta. Phương châm của Đức Giáo Hoàng - và cũng là của Đức Hồng Y Ratzinger - là ‘cộng tác viên cho chân lý’, như lời thánh Phaolô, thì phải hiểu rằng ngài là cộng tác viên trong tình yêu. Ngài từng nói rằng ‘rao giảng phúc âm là làm cho tình yêu của Chúa Kitô thâm nhập vào mọi môi trường.’ Một câu Đó là câu mà được Giáo Hoàng Bênêđitô XVI nói trong thánh lễ đầu tiên của ngài, ngày 20 tháng 4 năm 2005 tại thánh đường Sixtine: ‘Muốn hiệp nhất Kitô hữu, ‘thiện chí suông thì chưa đủ’(good intentions do not suffice), mà còn cần những ‘hành động cụ thể.’ (concrete gestures). Toàn bộ giáo huấn năm vừa qua về hiệp nhất Kitô hữu, mà ĐTC đặt lên hàng ưu tiên trong triều đại ngài, đều phải đi theo đường hướng đó. Và vì thế mà ngài nhanh chóng quyết định đến Phanar, Thổ Nhĩ Kỳ, trụ sở đại kết của Giáo Hội Constantinople. Chuyến đi này đã không thể thực hiện vào ngày lễ bổn mạng của Giáo Hội Constantinople, lễ thánh Anrê, ngày 30 tháng 11 năm 2005, vì thế sẽ được thực hiện vào 30 tháng 11 năm nay (2006). Cũng theo chiều hướng này, ngài đã trao đổi với các hồng y về một cuộc đối thoại với đệ tử của Đức Cha Marcel Lefèbvre.
Một diễn văn Đấy là diễn văn mà Đức Bênêđitô phát biểu với giáo triều, ngày 22-12-2005. Ngài trình bày rõ ràng về di sản của Công Đồng Vatican II mà giờ đây cần phải giải thích đúng đắn và đưa vào áp dụng. ĐTC đã trình bày về quan điểm của ngài về tình trạng Giáo Hội qua biến cố Đức Gioan Phaolô II qua đời, với cuộc đời đầy đau khổ của ngài, qua ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Cologne, qua năm Thánh Thể và qua Đại Hội Đồng mà đức Gioan Phaolô II đã triệu tập, qua kỷ niệm 40 năm bế mạc Công Đồng Vatican II. Đối với Đức BênêđitôXVI, việc giải thích đúng đắn các văn kiện Công Đồng sẽ là một ‘sức mạnh đổi mới’ cho Giáo Hội. Một đối tượng Gia Đình. Hiện nay, Giáo Hội ở Tây Ban Nha đang chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha và các gia đình trên đất nước này. Một lời kêu gọi Kêu gọi xây dựng hòa bình và công lý, và đặc biệt là hòa bình ở Bờ Biển Ngài, ở vùng các Hồ Lớn Phi Châu, ở Darfour. Vị giáo sĩ trẻ cầm sách ban phúc lành để ĐTC ban phúc lành trong thánh lễ Phục sinh vừa qua là một người gốc Phi. Dĩ nhiên, ngài cũng kêu gọi cho hòa bình ở Irak, ở miền Đất Thánh. Một ngôn ngữ Tiếng Balan. Đức Bênêđitô đang dành thì giờ để nâng cao tiếng Balan, vì ngài luôn ưu tư là không nên quên đi những đồng bào của Đức Gioan Phaolô II. Ngài sẽ đến Balan vào tháng Năm này, và nói với họ bằng tiếng Balan. Từ ngày đầu tiên, trong một lần tiếp kiến, mỗi giờ kinh Truyền Tin, ngài luôn nhớ ngỏ lời với người Balan. Một tấm ảnh Tấm ảnh chụp ngài ngược dòng sông Rhin, với giới trẻ khắp thế giới đang ở trên thuyền hay bên bờ sông lội hẳn xuống nước, để chào đón ngài. Trước kia, sông Rhin là biểu hiện cho sự chia rẽ ở Âu Châu, giờ đây trở thành con sông của hòa bình, chuyên chở một nhà hành hương hòa bình. Vị giáo hoàng gốc Đức trở về quê hương để đưa giới trẻ bước theo con đường các đạo sĩ mà ‘thờ lạy’ Chúa Kitô. Tiếp xúc với giới trẻ, ngài không cầm một văn bản nào viết trước, và nói với họ trong tin tưởng, thân mật, chân tình. Ngài đã chiếm được cõi lòng của họ. Một tiếng nhạc Tiếng shofar, một nhạc cụ trong đền thờ Do Thái tại Cologne. Ngài lắng nghe tiếng shofar thổn thức nhắc lại những ngày lễ đầu mùa và ngày Toàn Xá Kippour. Ngài thật sự xúc động. Nhưng ngài cũng thực sự vui mừng vì nhận thấy rằng tương quan với Do Thái giáo đã tiếp tục triển nở trong đối thoại, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau. Một nhân vật Nhân vật từng có ảnh hưởng lớn đối với ngài là Đức Gioan Phaolô II. Từ bài giảng trong thánh lễ an táng ngày 8-4-2005, vị đương kim Giáo Hoàng, ‘người thợ khiêm nhường trong vườn nho của Chúa’ đã khuyên chúng ta hướng về đức Gioan Phaolô II, người đang ở ‘cửa sổ của Nhà Cha’ để ‘nhìn xuống’ và ‘chúc phúc’ cho chúng ta. Ngài đã cho phép đẩy nhanh quá trình phong thánh cho vị tiền nhiệm, và hồ sơ đã được xem xét vào ngày 28-6 ở cấp bậc giáo phận. Ngài thường xuyên trích dẫn Đức Gioan Phaolô II. Cứ như là sự cộng tác khởi sự cách đây hơn 25 năm vẫn được tiếp tục dưới một hình thức khác giữa ngài và ‘đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vĩ đại và kính yêu.’ Một vị thánh Thánh Giuse! Vì tên của ngài là Giuse: Joseph Ratzinger! Dĩ nhiên còn phải kể thêm thánh Biển Đức. Ngày thứ sáu 01-4-2005, vào những ngày cuối cùng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đức hồng y Joseph Ratzinger nhận giải Thánh Biển Đức tại Subiaco, về công trình thăng tiến sự sống và gia đình tại Âu Châu, và ngày 19-4, ngài đã kế vị giáo hoàng với danh xưng là Biển Đức XVI. Ngài đặt triều đại mình dưới sự che chở của thánh Biển Đức, tổ phụ của phong trào đan tu ở phương tây và là thánh quan thầy của Châu Âu. Một lục địa Châu Âu. Và ta có thể thấy ngay mối quan tâm của ĐTC đối với lục địa này qua câu hỏi mà ngài mượn của Đức Gioan Phaolô II để đặt ra cho nước Pháp: “Ngươi đã làm gì với Phép Rửa của mình!” Một quốc gia Trung Quốc từng trĩu nặng trong lòng của ĐTC Gioan Phaolô II. Và Trung Quốc tiếp tục là một mối ưu tư của vị đương kim Giáo Hoàng. Ngay bài diễn văn đầu tiên nói với các phái đoàn ngoại giao cạnh Tòa Thánh, ngài nói lên mong ước nối lại ban giao với những người đang ở xa, và ngài phong một Hồng Y Trung Hoa để tỏ lòng trân trọng đối với đất nước và Kitô hữu ở nơi xa xôi ấy. Ta vẫn còn nhớ rằng Đức Bênêđitô XV, mà ngài lấy tên, từng là vị Giáo Hoàng đả mở cửa đối với Trung Quốc. Một địa điểm Thánh đường “Tình Yêu Thiên Chúa” (santuario del Divino Amor), ở ngoại ô Rôma. Đức Thánh Cha quyết định đến thánh đường này, một thánh đường dâng cho Đức Mẹ, vào ngày 01 tháng 5 tới đây. Thánh đường mới này là do lời khấn của cư dân Rôma trong Thế Chiến thứ II : đấy có thể xem là thánh đường Nữ Vương Hòa Bình. Một màu sắc Màu xanh và trắng trên các ô vuông của lá cờ Bavière, từng được giương lên khắp nơi trên cánh đồng Marienfeld, ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Cologne. Một con thú Con gấu của thánh Cobiniô, trên huy hiệu của đức giáo hoàng. Một quyết định Ngài từng tham khảo các Hồng Y trước khi phong những Hồng Y mới. Ngài thao thức có được sự hiệp thông ngày càng cao giữa hàng giáo phẩm. Dù không quên đi vai trò kế vị thánh Phêrô, ngài thực thi chức vụ mình trong khiêm nhường: ngài đã quyết định bỏ đi chức vị “Giáo Chủ Phương Tây” (Patriarche d’Occident), một cụm từ xưa cũ và gây hiểu lầm, vì chữ Phương Tây (Occident) hiện nay không còn cùng một nghĩa như xưa. Ngài chứng to mình là một con người của đối thoại: ngài có nghệ thuật đối thoại song song với nghệ thuật sư phạm. Ngài khuyến khích đối thoại với cộng đồng khó đối thoại nhất, vì những lý do thần học, văn hóa, chính trị, đó là cộng đồng Hồi Giáo. Tuy nhiên, ngài không bao giờ quên đi chân tình Kitô giáo: Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ, và là Đấng Cứu Độ cho mọi người! Một cuốn sách Kinh Thánh! Ngài mời gọi giới trẻ luôn có một cuốn Kinh Thánh bên mình, và trở thành những người ‘quen thuộc với Kinh Thánh.” Ngài khuyên họ suy niệm Lời Chúa, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước: chủ đề của ngày Giới Trẻ Thế Giới 2006, lần đầu tiên, sẽ rút ra từ Cựu Ước: Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi (Tv 118). Ngài mời gọi giáo sĩ cũng như giáo dân hãy thực thi lectio divina. Dĩ nhiên rồi, vì ngài là con của thánh Biển Đức, đấng là đưa cao khẩu hiệu: Ora et labora! Hãy cầu nguyện và lao động! Một biến cố Phục Sinh! Chúa Kitô đã Phục Sinh! Đó biến cố mà ĐTC công bố ngày Chúa Nhật vừa qua, và bảo rằng biến cố đó liên hệ đến tất cả chúng ta: Biến cố này đã thay đổi ‘đời sống chúng ta’ và thay đổi cả ‘lịch sử nhân loại’
¶ MÙA PHỤC SINHMaranatha dịchCác sử liệu cho biết rằng, ngoài việc mừng Chúa Nhật Phục Sinh, thì người Ki-tô hữu vẫn tiếp tục mừng Mùa Phục Sinh từ ngay đầu thế kỷ thứ ba. Mùa này trở thành mùa dài nhất trong Giáo Hội và kéo dài 50 ngày, từ Chúa Nhật Phục Sinh cho đến Chúa Nhật Hiện Xuống. Ðây không phải là mùa để làm việc đền tội. Không được phép ăn chay và quỳ gối. Mùa này là để vui mừng vì những điều tốt lành của Chúa. Vì sao mùa Phục Sinh lại dài đến như vậy? Vì người Ki-tô hữu tin rằng biến cố Phục Sinh thì quá lớn lao vào quá trọng đại nên không thể mừng trong một ngày duy nhất, thậm chí trong vòng một tuần lễ mà thôi. Vì sao lại 50 ngày, chứ không phải 10 hoặc 20? Vì trong truyền thống Do-thái đã có sẵn một ngày lễ gọi là Ngũ Tuần (lễ mừng Mùa Gặt) được cử hành 50 ngày sau lễ Vượt Qua. Khi lễ Ngũ Tuần trở thành một ngày lễ mà Ki-tô giáo mừng Chúa Thánh Thần hiện xuống, thi các Ki-tô hữu đã biến giai đoạn giữa lễ Vượt Qua và lễ Ngũ Tuần thành Mùa Phục Sinh. Các thượng tế và Pha-ri-sêu nói với Phi-la-tô: "Xin ngài truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm hắn đi, rồi phao với dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước.” ( Mt 27, 67 ) Ðâu là chuyện bịp đầu tiên, nghĩa là sự gian dối đầu tiên? Những nhà lãnh đạo Do-thái, ngay từ đầu, đã nghĩ rằng Ðức Giê-su là một tiên tri giả. Do đó, sự nổi danh của kẻ lừa đảo này là sự gian dối đầu tiên. Trong phần trước của Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, các ký lục và Pha-ri-sêu yêu cầu Ðức Giê-su đưa ra một dấu chỉ. Ngài trả lời rằng họ chẳng được nhìn thấy dấu chỉ nào ngoài dấu chỉ của Giô-na: Cũng như Giô-na ở trong lòng cá voi ba ngày ba đêm, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm. Khi chiến đấu với Ðức Tin, chúng ta đứng trước ngã ba đường: Một là cố gắng tìm ra bằng chứng. Ðiều khó khăn là dường như không bao giờ ta có đủ bằng chứng bởi vì rốt cục Thiên Chúa quá vĩ đại nên không thể vừa tầm với trí óc chúng ta. Hai là chọn con đường đã được mở ra cho ta đón nhận món quà tình yêu. Ðức Tin là một điều có thực, một điều mà ta có thể cảm nghiệm, và Thiên Chúa ban cho mỗi người như một quà tặng. Chúng ta không thể chứng minh được tình yêu của một ai khác dành cho mình. Nhưng chúng ta có thể trả lời: "Khi một ai đó yêu thương tôi, thì tôi có thể nhìn thấy dấu chỉ của tình yêu của họ." Thế thì dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời của tôi là gì? Xin hãy dành một chốc lát thinh lặng với Chúa và suy nghĩ xem...Theo 6 minutes ¶
(chia sẻ qua hình thức đối thoại)
Kitô hữu: Tôi ao ước làm chứng cho Chúa Kitô và sự phục sinh của Ngài. Nhưng trong thế giới khoa học ngày hôm nay, liệu những chứng cớ trong Phúc Âm có đủ thuyết phục những ai không tin vào sự phục sinh của Ngài không? Tôma: Anh Kitô hữu à! Lòng tin là một cái gì lạ lùng. Viên bách quản không tin Do Thái giáo, thế mà ông tin vào Chúa Giêsu đến độ không đòi hỏi Ngài phải hiện diện tại nhà ông để chữa người hầu. Trái lại, người Do Thái chứng kiến Ngài làm cho Lazarô sống lại thì tìm cách giết Ngài... Đấy anh xem, những chứng cớ không bao giờ thuyết phục được lòng tin. Nhưng dù sao thì tôi cũng xin thêm cho anh một chứng tích... Tôi đã xin được xỏ tay vào chân tay Ngài và Ngài đã cho phép. Kitô hữu: Nếu tôi không lầm, anh chính là Tôma, vị tông đồ đa nghi? Tôma: Vâng, tôi là Tôma, nhưng tôi không đa nghi như người ta thường nghĩ đâu. Kitô hữu: Thì ít nhiều anh cũng không tin là Chúa sống lại. Tôma: Tôi đã không tin, đúng như vậy! Nhưng bất cứ một người nào ở vị thế của tôi cũng phản ứng như tôi. Nếu một thân nhân của anh đã chết, rồi vài ngày sau anh em của anh đến báo rằng người chết đã sống lại, đến dùng bữa với họ, anh có tin không? Kitô hữu: Nhưng anh biết rằng các tông đồ là những người không bao giờ nói láo mà! Tôma: Tôi biết chứ. Nhưng anh phải hiểu tình trạng tinh thần của tôi lúc đó. Từ đêm Thầy bị bắt, tôi run sợ trốn chui trốn nhủi... Không cần phải dấu: tôi là một trong những tông đồ bỏ chạy đầu tiên. Sau này, tôi biết có vài người theo Ngài xa xa, còn tôi, tôi về nhà đóng cửa ở một mình. Vừa sợ hãi, vừa hối hận và xấu hổ, tôi không còn muốn gặp ai nữa. Kitô hữu: Vì sao lại phải hối hận và xấu hổ? Tôma: Ngày Ngài quyết định về Giuđê thì chính tôi đã kêu gọi các bạn: “Cả chúng ta nữa, hãy qua Giuđê để cùng chết với Thầy”. Thế mà Ngài vừa bị bắt là tôi ù té chạy... Bảo không xấu hổ làm sao được? Vì thế, khi các bạn đến báo tin mừng, tôi cho đó là một cách nói khéo để yên ủi tôi và lôi kéo tôi về với cộng đoàn anh em. Kitô hữu: Vì thế mà anh đã tỏ thái độ hoài nghi bằng cách nói: “Nếu tôi không tra tay tôi vào lỗ đinh cùng tra bàn tay tôi vào cạnh sườn Ngài, tôi sẽ không tin”? Tôma: Chính lúc đó là lúc tôi bắt đầu tin. Các bạn tôi có vẻ xác quyết quá. Nếu tôi chưa bắt đầu tin thì tôi đã im lặng hoặc cười vào mặt họ. Câu nói đó thể hiện lòng ao ước của tôi được có bằng cớ để xác tín. Kitô hữu: Tôi hiểu... Và có lẽ nhờ lòng ao ước đó mà Ngài đã cho anh gặp? Tôma: Vâng, Thầy đã đến một tuần sau và đã cho phép tôi thực hiện điều tôi đòi hỏi. Kitô hữu: Xét cho cùng, tôi tin, nhưng đồng thời cũng ao ước được sờ đến tận tay như anh... Liệu tôi có được Ngài ban cho cái diễm phúc như anh không? Tôma: Tôi đã được một diễm phúc nhưng lại mất đi một diễm phúc lớn hơn. Tôi biết điều đó khi Ngài nói: “Phúc cho những ai không thấy mà tin”. Xét cho cùng thì trước sau gì tôi cũng gặp Ngài. Gặp Ngài hôm đó hay sau vài mươi năm cũng thế thôi. Chỉ có điều là mình mất cái diễm phúc được tuyên xưng niềm tin tưởng nơi Ngài. Tôi đã nói: “Chỉ gặp mới tin” Và Ngài đã dạy: “Chỉ tin mới gặp.” Thật vậy, ngay trong thời gian qua, nếu anh tin thì anh đã gặp Ngài rồi! Trích ‘Cuốn Phúc Âm Thứ Năm’ (phần II) ¶
Danh vỊ của ĐỨc Kitô Thánh Kinh A đam Cuối Cùng 1Cr 15:45 A đam Mới Rm 5:12-19 A-men Kh 3:14 Ánh Huy Hoàng của Thiên Chúa Dt 1:3 An-pha và Ô-mê-ga Kh 1:9, 22:13 Bạn của Phường Thuế và Tội Lỗi Mt 11:19 Bánh Hằng Sống Ga 6:51 Bánh Thiên Chúa Ga 6:33 Bánh Trường Sinh Ga 6:35 Cây Nho Thật Ga 15:1 Chiên Thiên Chúa Ga 1: 29 Chồi Đa-vít Kh 22:16 Chồi non dòng Đa-vít Kh 22:16 Chủ Muôn Loài Cv 10:36 Chú Rể Ga 3:29 Chúa Lc 1:25 Chúa các Chúa 1Tm 6:15 Chúa Của Người Sống và Kẻ Chết Rm 14:9 Chúa Giê-su Cv 7:59 Chúa Giê-su Kitô Kh 15:11 Chúa Hoà Bình 2Tx 3:16 Chúa và Thiên Chúa Ga 20:28 Chúa Vinh Quang &n |