Số 78 Ngày 06-05-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Ơn Gọi Trong Mầu Nhiệm Giáo Hội – ĐTC Bênêđictô VXI

Hãy Phục Sinh Đức Tin -  Lm. Vũ Xuân Hạnh

Biến Cố Da Vinci Code - Đỗ Trân Duy

Làm Sao Tha Thứ? -Lm. John Monbourquette, O.M.I Lm. Trần Trung Liêm, O.P.  tóm lược 

Lòng Tôn Kính Đức Maria – Khánh Hà

Maria - Mẫu Mực Tuyệt Vời  - Thiên Phúc

Lịch Sử và Tập Tục Ngày Hiền Mẫu - Sưu Tầm.

Kinh Thánh Nói Về “Mẹ”

Trách Nhiệm – Gm. Arthur Tone

Mẹ và Con   - Trần Duy Nhiên

Hình Ảnh Của Mẹ - Maranatha sưu tầm và dịch

Lời Mẹ Nhắn Nhủ Con - Maranatha sưu tầm và dịch

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

 

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

     Tháng Năm lại về, có biết bao điều phải nói. Mới bước vào ngày đầu tiên, ngày lễ Lao Động 1-5, các cuộc biểu tình nổ ra trên qui mô lớn tại nhiều thành phố ở Hoa Kỳ: hơn một triệu người gốc Hispanic, cùng với một số người ủng hộ họ, đã xuống đường với cờ hiệu và biểu ngữ đòi hỏi được ‘lao động’ hợp pháp, mà chỉ ở Los Angeles và Chicago thôi thì cũng đã có đến gần 900,000 người. Cùng với họ, những người lao động cũng biểu tình ở Pháp, ở Indonesia, ở Philippines... Kế tiếp là những cuộc biểu tình ở Hàn Quốc. Tại Việt Nam, ngày lễ Lao Động qua đi yên ắng, nhưng các cuộc đình công của công nhân nhiều nhà máy vẫn còn là một vấn đề nóng bỏng. Tuần vừa qua, trong môi trường chính trị kinh tế, Việt Nam vừa mới bầu xong ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản, thì hôm sau xăng đã lên giá 1,500đ một lít, kéo theo là việc gia tăng giá cả trên mọi mặt hàng thường dùng. Dĩ nhiên, đây không phải là một quyết định tùy tiện của Việt Nam, nhưng do biến động của cả thế giới: xăng dầu trên thế giới đã lên giá. Hiện nay ở Hoa Kỳ, giá xăng đã tăng kỷ lục với 3.5 Mỹ kim một gallon, ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung và cũng làm xáo trộn đời sống của dân chúng trong nước. Trong khi đó, tại Anh, nội các của ông Tony Blair đang có những thay đổi quan trọng và tại  Pháp, thủ tướng Dominique de Villepin đang bị áp lực đòi hỏi từ chức. Về tại nạn máy bay, đêm 3-5, một chiếc Airbus A-320 của Armenia từ thủ đô Yerevan tới thành phố Sochi, miền nam Nga đã lao xuống Biển Đen. Toàn bộ 113 hành khách và phi hành đoàn trên máy bay không có ai sống sót. Và hai ngày sau một chiếc Black Eagle A-37 của Hàn Quốc cũng đã rơi và bốc cháy khi đang bay biểu diễn ở căn cứ Suwon. Tại Việt Nam, những vấn đề liên quan đến phẩm giá và danh dự người phụ nữ lấy chồng ở Đài Loan và Hàn Quốc được nêu lên một cách mạnh mẽ hơn, xót xa hơn, và trực diện hơn.

Với tình hình xáo trộn trên thế giới hiện nay diễn ra như thế, tháng Năm trở về với Giáo Hội với nhiều vui buồn lẫn lộn. Ngày 4-5, Tòa Thánh bày tỏ nỗi buồn sâu xa về một vết thương trầm trọng gây ra cho sự hiệp nhất của Giáo Hội”(theo Radio Vatican) vì

hai giám mục Trung Quốc tự ý truyền chức giám mục cho hai linh mục khi không có sự đồng tình của Toà Thánh và Đức Thánh Cha. Vatican buộc lòng phải rút phép thông công hai giám mục này.  Tuy nhiên, trong tinh thần Phục Sinh vẫn còn kéo dài, ngày Chúa Nhật sắp tới đây là ngày cầu nguyện cho Ơn Gọi. Nhìn vào Việt Nam hiện nay thì quả khó thấy được điều mà các nước có truyền thống Công Giáo gọi là ‘khủng hoảng ơn gọi,’ khi Đức Hồng Y Crescenzio Sepe, Bộ Trưởng Thánh Bộ Truyền Bá Tin Mừng, trong chuyến viếng thăm Việt Nam vừa qua đã tận mắt chứng kiến rằng ‘các chủng viện giờ đây đã đầy ắp và cần phải xây thêm nhiều cơ sở để có thể tiếp nhận rất nhiều thỉnh sinh.’ Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng nhiều nhà dòng và chủng viện ở Âu Mỹ vắng người đến độ cần phải bán đi hoặc cho mướn để không phải tốn kém chi phí bảo trì. Và trong số ít ỏi chủng sinh ở các nước ấy thì đa số lại là những người gốc Á - Phi. Phải chăng đã lúc nghĩ đến việc mở rộng hình thức cầu nguyện cho ngày Ơn Gọi. Quả thật, hiện nay, có khủng hoảng chăng thì cũng chỉ là khủng hoảng trong việc đáp trả Tiếng Gọi của Thiên Chúa để trở thành linh mục, tu sĩ chứ không thể và cũng chẳng phải là ‘khủng hoảng ơn gọi’ theo nghĩa phục vụ trong vườn nho Nước Trời. Thiên Chúa vẫn hằng kêu gọi dân Ngài bằng nhiều hình thức: Ngài kêu gọi các tín hữu là những sinh viên, nhà giáo, công nhân, thợ máy, kỹ sư, bác sĩ, y tá... làm chứng cho tình yêu của Ngài ngay tại môi trường bạn sinh sống cũng thiết tha như Ngài kêu gọi các thanh niên trở thành linh mục phục vụ Dân Ngài khi cử hành các bí tích. Đấy là chưa kể đến Ơn Gọi làm cha làm mẹ, làm vợ làm chồng... Phải chăng đã đến lúc, khi cầu nguyện cho Ơn Gọi tư tế thừa tác, thì cũng nhớ đến Ơn Gọi tư tế chung, và Ơn Gọi này mới là điều mà tất cả chúng ta cần đáp trả. Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt.’

(Mt 9, 37).

Tất cả mọi Kitô hữu phải trở thành ‘thợ gặt’ chứ không chỉ là linh mục, tu sĩ nam nữ mà thôi. Nói như thế không phải là để chúng ta thờ ơ với việc cầu nguyện cho ‘một ơn gọi đặc biệt,

chiếm chỗ danh dự trong Giáo Hội, là ơn gọi sống đời sống thánh hiến..’

như lời của Đức Bênêđitô XVI trong Sứ Điệp Nhân Ngày Cầu Nguyện cho Ơn Gọi mà Maranatha

đăng trong số này.

Tháng Năm cũng là tháng Hoa dâng kính Đức Mẹ, và trong tháng này rất nhiều quốc gia sẽ mừng Ngày Hiền Mẫu (Mother’s Day).” Như lời của Howard Johnson: ‘MẸ  là một từ có cả một trời ý nghĩa đối với tôi.’ ‘Một trời ý nghĩa’ đó, Maranatha

gợi lại vài nét chấm phá trong những bài hướng về người Mẹ trên trời, và người Mẹ ở trần gian của mỗi một chúng ta.

Riêng đối với Maranatha,

tháng Năm là một tháng rất đặc biệt. Cách đây đúng hai năm, vào ngày thứ bảy đầu tháng 5 năm 2004, với lòng hăng say cùng với rất nhiều thiện chí xác định một hướng đi, Maranatha

gửi đến quý độc giả số đầu tiên với ước mong chia sẻ và đồng hành với các tín hữu Việt Nam về những thao thức, niềm hy vọng sống ơn gọi và sứ mệnh Kitô hữu giữa lòng trần thế.”[1] và lời cầu nguyện: Lạy Chúa Kitô, xin ngự đến. Xin ngự đến trong lòng của mỗi một chúng con, xin ngự đến đất nước chúng con, xin ngự đến trên thế giới này.

Lời cầu nguyện này là lời cầu nguyện như điệp khúc của mỗi số báo gửi đến quý độc giả, lời cầu nguyện của những người chắp bàn tay trước Thiên Chúa, để đủ sức mở đôi tay ra với đời - dù luôn phải đối diện với những giới hạn của bản thân, trăn trở với những băn khoăn, thử thách trong cuộc sống hàng ngày - và mời gọi chúng ta sống, làm chứng về Đức Kitô và tình yêu của Ngài được thể hiện trong thế giới hôm nay[2] và chúng ta

cùng khẩn nguyện để hy vọng biến thành hiện thực lời cầu xin đó.

Thiện chí của nhóm khởi xướng thì tràn đầy, mà kinh nghiệm chẳng là bao. Hai năm sau, kinh nghiệm đã được học hỏi ít nhiều qua thời gian, tinh thần và thiện chí vẫn còn, nhưng đồng thời cũng thấy những hạn chế của mình: ngoài hạn chế trong số lượng người, vì thì giờ, vì sức lực, thì còn rất nhiều hạn chế trong kiến thức, trong tâm tình, trong đời sống tâm linh của từng người trong ban biên tập. 

Ao ước của Maranatha là làm sao ‘dọn được những món ăn bổ ích’ cho những khao khát và tìm kiếm của con người toàn diện của anh chị em mình: gồm trí tuệ, tinh thần và tâm linh. Do đó, Maranatha phải cân nhắc trong mỗi số để đáp ứng sự đòi hỏi của độc giả về những nhu cầu này. Và cho đến nay sự đáp ứng đó vẫn còn là điều mà Maranatha trăn trở.

Vì thế, Ban Biên Tập xin chân thành tạ lỗi với quý cộng tác viên vì không hoặc chưa đăng một số bài đã nhận được, lý do đơn giản là vì Maranatha phục vụ và đáp ứng nhu cầu của độc giả (như đã trình bày ở trên) cách tốt nhất và hiệu quả nhất. Cũng xin tạ lỗi với quý độc giả cũ và mới của Maranatha , nếu có những số báo  phải chậm trễ khi phát hành, hoặc bài vở không đáp ứng đòi hỏi và sự tìm kiếm của quí vị chưa được đúng mức, xin thông cảm do những hạn chế khách quan và chủ quan của Ban Biên Tập.

Dù sao đi nữa, khi nhìn lại, thì tâm tình trỗi vượt trong hai năm qua vẫn là tâm tình tạ ơn. Tạ ơn Thiên Chúa vì đã gìn giữ và ban ơn cho Maranatha

trong suốt hai năm vẫn còn ‘sống’ đến ngày hôm nay, bởi vì sau mỗi số được phát hành, thì anh chị em trong Ban Biên Tập không biết mình sẽ gửi đến độc giả ‘thức ăn’ nào trong số kế tiếp. Và Maranatha cứ bước đi từng bước như Abraham xưa, ‘đi mà không biết mình đi về đâu…’(Dt 11,8) chỉ biết rằng mình phải đi theo “tiếng gọi” mà có lần mình đã nghe.

Và cuối cùng, làm sao không thể không trân trọng gửi lời tri ân đến quý cộng tác viên và quý độc giả đã đón nhận và nâng đỡ Maranatha, đặc biệt với lòng ưu ái và lời cầu nguyện trong hai năm qua. Chính những đóng góp của quý vị, dù là một bài viết hoặc văn bản dài 3, 5, hay 10 trang, hoặc một đôi dòng ngắn ngủi thăm hỏi khích lệ, giới thiệu thân hữu nhận báo, là những lời lặp lại “tiếng gọi” của Chúa đối với Maranatha. Chính nhờ quý vị mà Maranatha còn hiện diện đến ngày hôm nay, và tiếp tục đi nhiều ngày nữa để phục vụ quý vị, nếu đó là ý định của Chúa.

Trong tâm tình biết ơn Thiên Chúa và cám ơn nhau, chúng ta dâng tặng một nụ hồng tươi thắm nhất lên Mẹ Maria, người Mẹ yêu dấu đã phù hộ và đồng hành với Maranatha từ ngày khai sinh, đã và đang song hành cùng chúng ta trong hành trình đức tin và cuộc sống, với lời nguyện chính của tờ báo nhỏ bé thân thương này, của tất cả chúng ta, và của toàn thể Giáo Hội: Maranatha, Lạy Chúa, xin ngự đến!

MARANATHA


 

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 5 NĂM 2006

Ý CHUNG: Cầu cho công lý và hoà bình trên thế giới. Xin cho các ân huệ Chúa Thánh Thần ban dồi dào cho Giáo Hội, góp phần làm cho công lý và hoà bình tiến triển trên toàn thế giới.

Ý TRUYỀN GIÁO:

Cầu cho sự sống con người được phát huy và bảo vệ. Xin cho trong các xứ truyền giáo, các nhà hữu trách, những cơ quan nhà nước, dùng luật lệ thích hợp để phát huy và bảo vệ sự sống con người, từ lúc thụ thai tới khi chấm dứt cách tự nhiên.

  

 

Ơn GỌi trong mẦu nhiỆm Giáo HỘi

Sứ Điệp Của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI Nhân Ngày Quốc Tế Cầu Nguyện Cho Ơn Gọi

 Chúa nhật IV Phục Sinh - 07/5/2006

Lm. Đặng Thế Dũng chuyển ngữ tiếng Việt

 

Chư Huynh đáng kính trong hàng giám mục,

Anh chị em thân mến,

Việc cử hành Ngày Quốc Tế Cầu Nguyện cho Ơn Gọi sắp đến, cho tôi dịp để mời gọi toàn thể Dân Chúa hãy suy nghĩ về chủ đề Ơn Gọi trong mầu nhiệm Giáo Hội. Thánh tông đồ Phaolô đã viết như sau: "Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta... Trong Đức Kitô, Ngài đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ … Ngài đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô." (Ep 1,3-5). Trước khi tạo dựng vũ trụ, trước khi chúng ta bước vào hiện hữu, Cha trên trời đã chọn chúng ta, để kêu gọi chúng ta bước vào trong tương quan con thảo với Ngài, nhờ Chúa Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Khi chịu chết cho chúng ta, Chúa Giêsu đã đưa chúng ta vào trong mầu nhiệm tình thương của Thiên Chúa Cha, một tình yêu bao bọc Người hoàn toàn và là tình yêu được Người ban cho tất cả chúng ta. Như thế, kết hiệp với Chúa Giêsu, Ðấng là Ðầu, chúng ta kết thành một thân thể duy nhất là Giáo Hội.

Bề dày của hai ngàn năm lịch sử làm cho ta khó hiểu tính cách mới mẻ của mầu nhiệm hấp dẫn về việc Thiên Chúa tuyển nhận con người làm dưỡng tử; mầu nhiệm này là trung tâm của giáo huấn của thánh Phaolô tông đồ. Thánh nhân nhắc lại rằng Thiên Chúa Cha "cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu … là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô" (Ep 1,9-10). Và Ngài còn hăng hái nói thêm như sau: "Chúng ta biết rằng Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài, tức là cho những kẻ được Ngài kêu gọi theo như ý Người định. Vì những ai Ngài đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Ngài, để Con của Ngài làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc." (Rm 8,28-29). Viễn tượng như thế là quả thật hấp dẫn: chúng ta được gọi sống như những anh chị em của Chúa Giêsu, được cảm thấy mình là con cái của cùng một Cha. Ðây là hồng ân làm đảo lộn mọi ý tưởng và mọi dự án thuần tuý nhân trần. Việc tuyên xưng đức tin chân thật mở ra mọi trí khôn, mọi con tim trước mầu nhiệm khôn lường của Thiên Chúa, mầu nhiệm thấm nhuần trọn cả cuộc đời con người. Nhưng, thử hỏi chúng ta có thể nói gì đây, về cám dỗ hết sức mạnh mẽ của ngày hôm nay, là cám dỗ cảm thấy mình tự đủ cho chính mình đến độ đóng kín chính mình trước chương trình kỳ diệu mà Thiên Chúa dành cho chúng ta? Tình yêu của Thiên Chúa Cha, một tình yêu được biểu lộ trong Chúa Kitô, đang kêu mời chúng ta.

Ðể đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa và đặt mình trên đường theo Ngài, chúng ta không phải trở nên trọn hảo trước. Chúng ta biết rõ rằng ý thức về tội lỗi của bản thân đã làm cho người con hoang đàng nhìn thấy con đường trở về và như thế cảm nghiệm được niềm vui của sự hoà giải với Cha mình. Sự mỏng dòn và những giới hạn của con người không phải là chướng ngại, với điều kiện là sự mỏng dòn và những giới hạn đó góp phần làm cho chúng ta ý thức rằng mình cần đến ân sủng cứu rỗi của Chúa Kitô. Ðó là kinh nghiệm của Thánh Phaolô tông đồ. Ngài đã tâm sự nơi thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô như sau: "Tôi rất vui mừng và tự hào về những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi." (2Cr 12,9). Trong mầu nhiệm Giáo Hội, Nhiệm Thể Chúa Kitô, quyền năng thần thiêng của tình yêu có sức biến đổi con tim con người, vừa làm cho nó có khả năng thông truyền tình yêu Thiên Chúa cho anh chị em. Trong dòng các thế kỷ, biết bao người nam nữ, sau khi đã được tình yêu Thiên Chúa biến đổi, đã tận hiến đời mình để phục vụ cho Nước Chúa. Xưa bên bờ biển hồ Galilê, nhiều người đã để cho Chúa Giêsu chinh phục: những con người đó đang đi tìm sự chữa lành cho thể xác hoặc cho tâm hồn, và đã được quyền năng của ân sủng Chúa chạm đến. Có những con người được chính Chúa tuyển chọn và đã trở thành những tông đồ của Người. Chúng ta cũng gặp thấy những con người như Maria Mađalêna và những người nữ khác nữa, đã tự nguyện theo Chúa, chỉ vì tình thương; và như môn đệ Gioan, họ cũng có được một chỗ đặc biệt trong tim Chúa. Những con người nam nữ nầy – những kẻ đã biết được mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô –, đại diện cho biết bao ơn gọi có mặt trong Giáo Hội từ muôn thuở. Mẫu gương cho những ai đuợc gọi làm chứng một cách đặc biệt cho tình yêu Thiên Chúa, là chính Mẹ Maria, Mẹ của Chúa Giêsu: Mẹ được liên kết trực tiếp với mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc, trong cuộc hành trình đức tin của mình.

Trong Chúa Kitô, Thủ Lãnh của Giáo Hội, Nhiệm Thể Người, tất cả mọi người kitô kết thành "giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của  Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Ngài." (1Pr 2,9). Giáo Hội là thánh thiện, cả khi những thành phần của Giáo Hội cần được thanh luyện, ngõ hầu sự thánh thiện, hồng ân của Chúa, có thể được chiếu tỏa nơi họ, cho đến lúc được bừng sáng trọn vẹn. Công Ðồng Vaticanô II làm nổi bật ơn gọi tất cả mọi nguời sống thánh thiện, vừa quả quyết rằng "các môn đệ của Chúa Kitô là những kẻ được Thiên Chúa kêu gọi không phải vì công lao riêng, nhưng vì ý định của ân sủng Ngài và được công chính hoá trong Chúa Giêsu, nhờ lãnh nhận phép Thánh Tẩy, bí tích đức tin, đã thực sự trở nên con cái của Thiên Chúa và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa, và do đó họ thực sự đã trở nên thánh." (Lumen Gentium, số 40). Trong khung cảnh của lời mời gọi phổ quát này, Chúa Kitô – Linh Mục Thượng Phẩm – chăm sóc Giáo Hội Chúa và kêu gọi, trong mỗi thế hệ, những con người khác nữa đến chăm sóc cho Dân Chúa; một cách đặc biệt, Chúa Kitô kêu gọi những con người đến lãnh nhận chức tư tế thừa tác, kêu gọi những con người cụ thể để họ thi hành vai trò người cha, mà nguồn mạch là tình hiền phụ của Thiên Chúa. (x. Ep 3,15).

Sứ mạng của linh mục trong Giáo Hội là điều không thể nào thay thế được. Tuy nhiên, cho dù tại vài vùng, hàng giáo sĩ bị thiếu hụt, nhưng người ta không bao giờ nên bỏ mất niềm xác tín rằng Chúa Kitô tiếp tục khơi dậy những con người, như các Tông Đồ xưa, một khi đã từ bỏ mọi nghề nghiệp, biết dấn thân hoàn toàn cho việc cử hành các mầu nhiệm thánh, cho việc rao giảng Tin Mừng và cho thừa tác vụ mục vụ. Trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis về việc "huấn luyện linh mục," vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi, Ðức Gioan Phaolô II, đã viết về đề tài này như sau: "Tương quan của linh mục với Chúa Giêsu Kitô, và trong Chúa, (tương quan) với Giáo Hội Người, được đặt nằm trong chính bản chất của linh mục, do bởi việc xức dầu thánh hiến; tương quan này được thể hiện trong hành động, nghĩa là trong sứ mạng hoặc thừa tác vụ của linh mục. Một cách đặc biệt "Linh mục thừa tác viên là người tôi tớ của Chúa Kitô hiện diện trong Giáo Hội xét như là mầu nhiệm, như là hiệp thông và như là sứ mạng. Do bởi sự kiện tham dự vào "việc xức dầu" và vào "sứ mạng" của Chúa Kitô, linh mục có thể kéo dài trong Giáo Hội lời cầu nguyện của mình, lời nói của mình, hy tế của mình, và hành động cứu rỗi của mình. Như thế linh mục là người tôi tớ của Giáo Hội xét như là mầu nhiệm, bởi vì Giáo Hội thực hiện những dấu chỉ Giáo Hội và những dấu chỉ bí tích cho sự hiện diện của Chúa Kitô phục sinh." (số 16).

Một ơn gọi đặc biệt, chiếm chỗ danh dự trong Giáo Hội, là ơn gọi sống đời thánh hiến. Theo gương của bà Maria tại làng Bêtania, "đến ngồi dưới chân Chúa Giêsu và lắng nghe Lời Người," (Lc 10,39), nhiều người nam nữ hiến thân để hoàn toàn và chỉ theo một mình Chúa Kitô mà thôi. Dù họ chu toàn những việc phục vụ khác nhau trong lãnh vực giáo dục nhân bản và trong lãnh vực chăm sóc cho người nghèo, trong việc dạy học hay trong việc phục vụ những anh chị em đau yếu, những con người nam nữ này không xem những hoạt động như là mục tiêu chính của đời mình, bởi vì – như Giáo Luật nhấn mạnh rõ ràng – "bổn phận đầu tiên và riêng biệt của tất cả mọi tu sĩ nam nữ là phải chiêm niệm những sự thật của Chúa và phải sống kết hiệp liên lỉ với Thiên Chúa trong kinh nguyện." (điều 663, §1). Và trong tông huấn Vita Consecrata về "Ðời thánh hiến," Ðức Gioan Phaolô II đã ghi ra như sau: "Trong truyền thống của Giáo Hội, việc khấn dòng được nhìn như là việc đào sâu cách đặc biệt và phong phú, (đào sâu) sự thánh hiến do bí tích Thánh Tẩy, trong mức độ, nhờ việc đào sâu này mà việc kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô – sau khi đã được bắt đầu với bí tích rửa tội, được khai triển thành hồng ân được nên giống Chúa; và việc nên giống Chúa này được biểu lộ và thực hiện cách trọn vẹn hơn, nhờ việc khấn giữ những lời khuyên Phúc Âm."(số 30).

Nhớ lại lời đề nghị của Chúa Giêsu: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít! Các con hãy xin Chủ mùa gặt sai nhiều thợ ra gặt lúa về!" (Mt 9,37), chúng ta ý thức thật nhiều về nhu cầu phải cầu nguyện cho các ơn gọi linh mục và sống đời thánh hiến. Thật không lạ gì: ở đâu người ta cầu nguyện sốt sắng, thì ở đó ơn gọi trổ sinh phong phú. Sự thánh thiện của Giáo Hội tùy thuộc cách thiết yếu vào sự kết hiệp với Chúa Kitô và tùy thuộc vào thái độ cởi mở đón nhận mầu nhiệm ân sủng tác động trong tâm hồn các tín hữu. Vì thế, tôi muốn mời gọi tất cả mọi tín hữu hãy vun trồng tương quan kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô, là Thầy và là Chủ Chăn của Dân Chúa, vừa noi gương Mẹ Maria, Ðấng gìn giữ trong tâm hồn những mầu nhiệm Thiên Chúa và chăm chú suy niệm những điều đó (x. Lc 2,19). Cùng với Mẹ, Ðấng có chỗ trung tâm trong mầu nhiệm Giáo Hội, chúng ta hãy cầu nguyện:

Lạy Cha, xin hãy làm trổ sinh nơi các kitô

nhiều ơn gọi linh mục thánh thiện,

để giữ gìn cho đức tin được luôn sống động,

và lưu giữ một ký ức đầy biết ơn đối với Chúa Giêsu Con Cha,

qua việc rao giảng Lời Chúa và cử hành các Bí Tích,

nhờ đó mà Cha liên lỉ canh tân các tín hữu.

Xin Cha ban cho chúng con

những thừa tác viên thánh thiện của bàn thờ,

những con người biết chú ý và sốt sắng

gìn giữ bí tích Thánh Thể,

Bí Tích của hồng ân tột cùng của Chúa Kitô,

để cứu độ thế giới.

Xin Cha kêu gọi những thừa tác viên của lòng nhân từ Cha,

những người, qua bí tích Hoà Giải,

biết loan báo niềm vui ơn tha thứ.

Lạy Cha, xin làm cho Giáo Hội vui mừng lắng nghe

nhiều linh ứng bởi Thánh Thần của Con Một Cha;

và, với lòng vâng phục những giáo huấn của Người,

ước gì Giáo Hội biết chăm sóc các ơn gọi

đến với thừa tác vụ linh mục và sống đời thánh hiến.

Xin Cha nâng đỡ các giám mục, linh mục và phó tế,

những người tận hiến

và tất cả những ai đã được rửa tội trong Chúa Kitô,

ngõ hầu mọi người trung thành chu toàn sứ mạng của mình,

để phục vụ cho Tin Mừng.

Các con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa các con. Amen.

Thánh Maria, Nữ Vương các Tông Đồ,

cầu cho các con!

Vatican, ngày 5 tháng 3 năm 2006 - BENEDICTUS PP. XVI

Theo Radio Veritas Asia Trở về mục lục >>

š¶›

 

HÃY PHỤC SINH ĐỨC TIN

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Chúng ta đang sống trong mùa Phục sinh. Hãy làm cho ơn phục sinh vươn mạnh, lớn lên và bung ra cả trong chiều sâu nội tâm của đức tin, trong các sinh hoạt đạo đức cá nhân hay tập thể, lẫn trong đời sống thường ngày của mình. Đó là cách tốt nhất để diễn tả niềm tin phục sinh. Đó cũng là cách tốt nhất để cùng với Chúa Kitô, ta làm cho đời sống của ta, xung quanh ta tràn ngập niềm vui phục sinh. Tôi gọi đó là phục sinh đức tin.

NHỮNG LÝ DO CẦN ĐẾN ƠN PHỤC SINH ĐỨC TIN.

Phục sinh đức tin là làm cho ơn phục sinh của Chúa Kitô trở nên sống động trong nội tâm, để nội tâm lắng đọng một chiều sâu phục sinh đích thực: Biết bao nhiêu người, kể cả bạn và tôi đã mừng Chúa phục sinh, nhưng sự mừng ấy có khi chỉ là lễ hội, là sự háo hức về một đêm thánh mà trong đó phụng vụ có nhiều diễn tả lạ, khác mọi cử hành phụng vụ khác. Thiếu chiều sâu nội tâm của đức tin, vì thế, mừng ơn phục sinh vĩ đại, nhưng lòng ta, ơn phục sinh chẳng thấm, chẳng biến đổi gì. Ta chẳng phục sinh.

Phục sinh đức tin là làm cho ơn phục sinh của Chúa Kitô trở nên sống động trong các sinh hoạt đạo đức: Nhiều người sống nguội lạnh, bỏ cầu nguyện, bỏ các giờ kinh sớm chiều, bỏ luôn cả việc tham dự thánh lễ và lãnh nhận bí tích. Nhiều người chạy theo dục vọng, tiền tài đã sống bê tha trong tội lỗi, thậm chí nhiều năm không đến nhà thờ, bỏ luôn cả việc xưng tội, rước lễ. Nhiều anh chị em tích cực hơn, nhưng chỉ giữ đạo theo mùa: Cứ đến lễ trọng, mùa Vọng, mùa Chay, mùa Giáng Sinh, mùa Phục Sinh thì chạy đôn, chạy đáo tìm linh mục giả tội, nhưng rồi vẫn không mấy thay đổi. Nhiều người còn chịu khó giữ đạo, giữ các giờ kinh, tuy đấy đã là điều tốt, nhưng cần phải tốt hơn trong sự chăm chú cầu nguyện, suy tư và chiêm ngắm lời kinh mà mình đọc, chứ đừng chỉ giữ giờ kinh, giờ cầu nguyện, cả đến việc dự lễ mỗi ngày như một thói quen. Vì thế, họ cần phải phục sinh đức tin của chính mình.

Phục sinh đức tin là làm cho ơn phục sinh của Chúa Kitô trở nên sống động trong đời thường. Từ trước tới nay, ta chưa bao giờ, hoặc có nhưng rất ít, rất thiếu sót sự gắn bó với Thiên Chúa trong từng công việc, trong các bổn phận, và mọi lao nhọc… Vì thế, khi phải lao tác, vất vả, lắm lúc gặp nhiều trở ngại, nhiều thất bại và không biết bao nhiêu cay đắng khác…, ta chỉ thấy mệt mỏi, chỉ thấy đời ta đầy nặng nhọc, đầy oan khuất. Ta cần biết rằng, cuộc đời vẫn thế, bất cứ ai sống trong đời đều cũng giống như ta. Chỉ khác ở chỗ, họ đã tin tưởng vào Chúa Kitô. Họ kết hợp với thánh giá của Người trong từng ngày sống. Họ hiến dâng cho Người tất cả suy nghĩ, việc làm, niềm tin, hy vọng, sự sống, mọi hoàng cảnh, mọi tương quan… Nhờ đó, họ chấp nhận cuộc sống dễ dàng hơn. Họ đủ nghị lực mà gánh vác chính cuộc đời của họ. Ta cần phải phục sinh đức tin như họ để ta cũng được ơn bình an của Đấng Phục Sinh.

Ngược với những người phải ngày đêm vất vả là những người sống xa hoa. Nhất là trong thời hiện tại, người ta có quá nhiều phương tiện hưởng thụ, đến nỗi lao thân vào lối sống duy vật và nô lệ cho lối sống ấy. Đây là đối tượng khẩn thiết nhất cần đến ơn phục sinh đức tin. Vì chỉ có thể sống lại trong đức tin, họ mới có thể thuộc về thế giới của sự sống tự do, sự sống mới, khơi nguồn từ nguồn Phục Sinh là chính Chúa Kitô. Bởi chỉ có ai bước đi trong ơn phục sinh của Đấng Thiên Chúa làm người, người ta mới thực sự sống tự do, không nô lệ.

Với tất cả những lý do cụ thể bên trên, ta thấy phục sinh đức tin là việc làm khẩn cấp. Vậy để phục sinh đức tin, ta cần phải làm gì? Tôi muốn đưa ra vài suy nghĩ của riêng cá nhân tôi, chỉ xin là những gợi ý khả dĩ giúp ta bước vào hành trình phục sinh chính đức tin của mình.

GẮN BÓ CÁ VỊ VỚI CHÚA KITÔ.

Chấp nhận tin không có nghĩa chỉ đơn thuần là chấp nhận một giáo lý, giáo điều, một mớ luật lệ, hay những nghi thức nào đó là đủ. Ngay cả khi ta chấp nhận Hội Thánh và đi theo đường lối của HộI Thánh, thì đó cũng chưa phải là điểm mấu chốt của đức tin. Tin trước hết là hiệp thông với Chúa Kitô, là gắn bó cá nhân cách mật thiết với Chúa Kitô. Bởi vậy, những gì chúng ta đã từng sống, đã từng hành động cho cái gọi là con người của tôn giáo Kitô giáo, nhưng chưa có chiều sâu bằng một cảm nghiệm nội tâm về tình yêu Chúa Kitô, mà chỉ là giữ và buộc mình phải chấp nhận luật lệ, chấp nhận giáo lý, thì giờ đây, ta hãy chỉnh đốn lại, hãy làm cho tất cả những gì ta phải giữ từ trước tới nay nằm trong tương quan tình yêu Chúa Kitô. Tôi tạm gọi việc chỉnh đốn lại cách sống, cách thực hành đức tin là phục sinh đức tin.

Như vậy phục sinh đức tin có nghĩa là hãy nhìn vào Chúa Kitô trước đã. Từ nay tôi giữ đạo, tôi chấp nhận lề luật, tôi thực hiệc các hành vi đạo đức, tôi sống tốt trong tương quan với mọi người… không chỉ vì luật của Chúa, của Hội Thánh dạy như thế, mà vì tình yêu của Chúa Kitô dành cho tôi, và của tôi đáp trả tình yêu ấy. Vì tình yêu của Chúa Kitô và vì yêu mến Người, tôi thực hiện nghĩa vụ tôn thờ Thiên Chúa, tôi sống lẽ sống mà đạo dạy tôi, tôi quan tâm đến nguời xung quanh… Vì Chúa Kitô, tôi chấp nhận lề luật của Thiên chúa, và chấp nhận đường lối Hội Thánh hằng chỉ dạy tôi.

Chỉ khi nào sống trong tương quan tình yêu với Chúa Kitô, việc giữ đạo của ta mới nhẹ nhàng. Cũng giống hai người đàn ông cùng cuốc một thửa đất, nhưng một người là tù bình bị ép buộc phải lao động, còn người kia là người cha trong gia đình. Người cha trong gia đình vì thương vợ, thương con, ông miệt mài làm việc, dù mệt nhọc nhưng ông cảm thấy vui, cảm thấy lòng thanh thản và an ủi vì nhờ bàn tay lao động của ông, gia đình ông có thể sinh sống. Ông luôn sống trong hy vọng về một kết quả tốt sẽ đến cho tương lai của gia đình ông. Càng hy vọng, ông càng vui. Người đàng ông là tù binh chắc chắn sẽ không bao giờ có được cảm nghiệm về niềm vui mà người cha trong gia đình có được. Bởi việc ông làm không phải là tình yêu, không phát xuất từ động cơ của lòng yêu thương mà chỉ là ép buộc, chỉ là hình phạt, là đền tội, hoàn toàn không có tự do trong lao động của ông. Cách nào đó, giữ đạo cũng gần giống như chuyện hai người đàn ông cuốc đất. Nếu tôi yêu mến Chúa, việc thực hành đạo của tôi là niềm hạnh phúc, là nhu cầu cần đáp ứng của tình yêu, do tình yêu, phát xuất từ tình yêu đối với Thiên Chúa của tôi. Nếu không có lòng yêu mến Chúa, đức tin chỉ là một gánh nặng vô cùng.

 Ta cần phục sinh đức tin của mình, để đức tin của ta có một tương quan cá vị với tình yêu của Chúa. Chỉ có đức tin trong tương quan tình yêu, việc giữ đạo của ta mới là việc làm tự do, mang lại hạnh phúc, thấm đẫm và ngày càng đi vào chiều sâu nội tâm.

 Nếu ta phục sinh đức tin của mình trong tương quan tình yêu với Chúa Kitô, cuộc đời ta sẽ được nâng đỡ, được ủi an. Có đức tin trong tương quan cá vị với Chúa Kitô, ta sẽ cảm nhận một điều lớn lao: gánh nặng của sự sống mà ta phải mang gánh trong đời có Chúa cùng sớt chia với ta…

 THOÁT LY NHỮNG NHU CẦU GIẢ TẠO.

Một trong những nguy cơ giết chết đức tin của người tín hữu chính là lòng ham mê ngẫu tượng của thời đại.

Họ trang bị cho mình mọi thứ vật chất, mọi tiện nghi, mọi phương thế thụ hưởng, và coi đó là những thứ cần thiết như đích điểm của đời người, đến nỗi cuốn mình chạy theo nó, quay quắt với nó như cơn bão xoáy không chừa lại một chỗ nào cho sự sống tinh thần có thể ngoi ngóp. Đúng hơn, đấy chính là trận bão của những nhu cầu giả tạo, nhu cầu trước mắt, cuốn phăng lòng người theo nó. Bởi vậy mà không ít người đau khổ khi mình thua anh kém chị dù chỉ một chiếc áo, một đôi dép. Họ tôn thờ vật chất đến độ như chỉ có nó mới là vẻ đẹp của đời mình vậy. Chính vì thế, ngày càng có nhiều người tôn thờ chủ nghĩa thời thượng, chủ nghĩa “mode”. Sự tôn thờ này đã biến họ thành nô lệ cho vật chất. Họ phải liên tục đổi di động, đổi xe gắn máy, đổi đồng hồ, đổi những thứ trang xức khác…, làm sao cho những gì họ có phải mới liên tục, phải “mode” liên tục. Họ tôn thờ vật chất một cách đam mê và cuồng tín. Tôi gọi đó chính là sự tôn thờ ngẫu tượng của thời đại.

Điều mỉa mai đau đớn là, dù ngụp lặn trong thế giới vật chất, vượt trên cả sự tìm tòi vật chất: con ngưới trầm mình với vật chất như thể nên một với nó, thì lại có một thực tế khác, dù âm thầm, vẫn không kém mạnh mẽ lên án thái độ nô lệ ngẫu tượng thời đại của con người. Thực tế đó chính là tiếng nói của lương tâm, là đời sống tinh thần, là thế giới thiêng liêng của tâm hồn. Cố tình vượt qua giới hạn của tiếng nói nội tâm mình như thế, con người trở nên chao đảo, bấp bênh, thiếu bình an, và đói khát chân lý. Tình trạng này làm cho con người sống hết sức ngột ngạt.

Bởi con người đâu chỉ là vật chất, nhưng trước hết là tinh thần. Đời sống tinh thần mới là sức mạnh làm nên giá trị của đời người. Vì thiếu niềm tin, vì lạc mất tinh thần, sự tôn thờ ngẫu tượng của thời đại cũng sẽ đẩy chủ nghĩa cá nhân lên ngôi. Bởi càng tiện nghi bao nhiêu, con người càng dễ sống một mình bấy nhiêu.

Nhưng các tiện nghi vật chất không bao giờ là đối tượng chia sẻ sự sống, suy nghĩ, tình cảm…, điều mà từ rất xa xưa, Ađam đã cảm nghiệm, vì ông không thể “tìm được một trợ tá tương xứng” (St 2, 20). Không thể chấp nhận một xã hội chỉ là cá nhân, Ađam thao thức tìm kiếm sự chia sớt tương xứng, và Chúa đã ban cho ông như lòng ông mong đợi. Nhưng oái oăm và nghịch lý quá đỗi! Trong khi Tổ Tông của mình cố thoát ra khỏi chủ nghĩa cá nhân, thì loài người hôm nay, dẫu quá kinh nghiệm về sự tai hại của chủ nghĩa này, lại cứ tìm về, cứ cố tình đuổi theo nó bằng mọi thứ tiện nghi, mọi thứ trang bị cho chính cá nhân, biến cá nhân thành trọng tâm cho sự quan tâm của chính mình. Thật vô phúc cho ai sống gần những cá nhân chỉ tôn thờ chính mình như thế!

Rồi từ chỗ chỉ biết sống cho riêng cá nhân mình, sự tôn thờ ngẫu tượng của thời đại, càng biến con người thành động vật sống ích kỷ không thể tả. Nhưng như một hệ luận tất yếu: càng sống ích kỷ, con người càng cô độc. Nếu tiếng nói của nội tâm bị coi thường, cuộc sống của con người vốn đã ngột ngạt, sự cô độc sẽ làm cho con người ngày càng chơi vơi hụt hẩng, ngày càng cay đắng với chính mình, với thế giới quanh mình gấp nhiều lần hơn.

Không còn chỗ bám cho đức tin, con người tự giết chết mình, giết chết cả những tương quan quanh mình cách thảm hại. Bởi dù họ sống, nhưng lối sống ích kỷ ấy chỉ là lối sống thiếu sức sống. Nói nặng hơn, cá nhân mình, một khi chỉ là đối tượng chăm sóc của bản thân, cá nhân ấy trở thành cá nhân què quặt, dị tật.

Như vậy, trong sự phục sinh đức tin của mình, cùng với việc sống cá vị và liên kết mật thiết với Chúa Kitô, người tín hữu hãy ra khỏi chính mình để sống đức tin với anh chị em. Họ cần để cho lòng mình thanh thoát, khỏi những vướng bận của trần gian, của những tiện nghi vật chất.

Người tín hữu cần học biết điều này: Đức tin là đức tin cá nhân của bản thân gắn bó với Thiên Chúa. Càng chìm sâu bao nhiêu trong sự gắn bó với Chúa, sẽ càng đầy tràn lòng yêu mến, và chắc chắn đức tin càng sáng chói bấy nhiêu. Nó đòi hỏi ý thức và sự dấn thân thực sự của cá nhân trong tương quan với Chúa Kitô, với Thiên Chúa. Nhưng đức tin chỉ có thể được nuôi dưỡng trong đời sống cộng đoàn. Bởi Thiên Chúa, nền tảng của đức tin chúng ta là một Thiên Chúa “không phải trong một ngôi đơn độc, nhưng trong Ba Ngôi cùng một bản thể” (kinh Tiền Tụng lễ Chúa Ba Ngôi). Người không cứu chuộc từng người đơn độc, nhưng trao ban tình thương cho tất cả mọi người.

Cũng vậy, Chúa Kitô không phải là “Đấng ở cùng một người”. Nhưng Người là Đấng “Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Chúa Kitô không nhập thể và chết cho bất cứ cá nhân nào, nhưng cho cả thế giới qua lớp lớp thế hệ. Chính vì thế, hôm nay Chúa Kitô đã phục sinh, chúng ta cũng hãy làm phục sinh đức tin của mình trong tương quan với cộng đoàn Hội Thánh, với mọi người xung quanh. Chính trong cộng đoàn mà ta liên kết, gương tốt của người này sẽ ảnh hưởng trên người kia; gương xấu của người này sẽ là bài học lớn cho kinh nghiệm sống của người kia, để có thể lách mình khỏi những sai sót mà anh em vấp phải.

Ngoài ra, đức tin còn phải được gìn giữ, phát triển nhờ sự đào tạo liên tục trong suốt đời người bằng mọi nỗ lực cá nhân như: Tìm về một lối sống đơn sơ, giản dị chứ không tìm một lối sống dễ dãi; không nhắm tiện nghi và hưởng thụ, nhất là không nhắm vào nó đến nỗi quay quắt với vật chất như chỉ có nó là sự bảo đảm cho đời mình; hãy biết hy sinh, hãy chấp nhận giới hạn trong tất cả những đòi hỏi vật chất. Hãy là người biết khôn ngoan nói không với những nhu cầu giả tạo. Hãy bền chí theo đuổi cái đẹp của tinh thần, của tình yêu, của sự thầm lặng, của ơn gọi sống nghèo khó, chứ không khoác lên mình những hào quang chỉ được xây dựng từ trần thế cho riêng cá nhân mình.

CUỘC PHỤC SINH CỦA CHÚA KITÔ ĐỐI VỚI CHÚNG TA.

Cùng Chúa Kitô Phục Sinh, chúng ta bước vào hành trình phục sinh đức tin của chính mình. Trong hành trình này, Chúa Kitô chính là điểm dừng quang trọng nhất mà đức tin của ta phải tiến đến. Và sự phục sinh của Người là lời mời gọi mạnh mẽ nhất cho hành trình phục sinh đức tin của chính ta.

Phục sinh nào cũng đòi hỏi hy sinh lớn lao, rát buốt. Chính Chúa đã rơi vào những tình huống như thế. Để tiến vào sự phục sinh vĩnh cửu của Người, Người đã từng đối mặt với những đau đớn cả tâm hồn lẫn thể xác. Người đã phải rơi vào nỗi cô đơn, bế tắc, vùi giập. Cái chết của Chúa tưởng đã là tiếng nói sau cùng, là thất bại thảm khốc. Nhưng Chúa đã vượt qua. Người đã đứng lên. Người sống lại. Người chiến thắng.

Sự phục sinh của Chúa vừa là mẫu gương cho sự phục sinh đức tin của ta, vừa là nguồn mạch ban ơn phục sinh cho ta.

Vì thế, như Chúa Kitô, ta vượt qua chính con người nhiều đam mê của bản thân, vượt qua mọi rào cản khách quan lẫn chủ quan để được phục sinh đức tin từng ngày trong nội tâm, trong mọi sinh hoạt đạo đức, lẫn trong đời thường của ta.

Cùng với những nỗ lực nhìn về Chúa Kitô để phục sinh đức tin, ta vững một niềm xác tín rằng, Chúa Kitô ban ơn phục sinh từng ngày cho ta. Bởi giữa mọi lý do gây ra tình trạng chết của đức tin do thiếu chiều sâu nội tâm, do thiếu ý thức trong việc sống đạo, thiếu ý thức về ý nghĩa đạo đức của đời thường, thậm chí do cám dỗ chạy theo lối sống xa hoa, hưởng thụ và thực nghiệm…, ta vẫn trung thành mong đợi ơn phục sinh, và tin tưởng vào sự phục sinh bừng lên nơi cuộc đời mỗi người, thì chính lòng mong đợi và sự tin tưởng ấy, đã cho thấy nguồn ơn phục sinh của Chúa đang thấm vào đời ta.

Mặt khác, dù cho còn đó bao nhiêu lý do cám dỗ ta đi xa đức tin, thậm chí tiêu diệt đức tin, và dù cho lòng ta nhiều khi còn hời hợt, còn thiếu chiều sâu nội tâm, thiếu ý thức, ta vẫn mong ước được phục sinh đức tin của mình. Niềm mong ước này không thể có được, nếu không có ơn phục sinh của Chúa khơi nguồn và ban ơn.

Từ nay, bước theo Chúa Kitô, ta ngước nhìn Người để nếu Người đã phục sinh, ta cùng phục sinh đức tin của mình trong từng hoạt động, từng ngày sống của ta. Ta cũng sẽ gắn bó đời mình với Chúa, can đảm thoát ly mọi nhu cầu giả tạo, để được chìm đắm trong nguồn ơn phục sinh của Chúa. Có như thế, trong cuộc phục sinh của Chúa Kitô, có những cuộc phục sinh trong đức tin của mỗi người. Và cuộc phục sinh của mỗi người trong tương quan với ơn phục sinh của Chúa Kitô, có sự phục sinh của nhiều người, của cả Hội Thánh Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

BIẾN CỐ DA VINCI CODE

Đỗ Trân Duy

Xuất bản năm 2004, cuốn The Da Vinci Code của tác giả Dan Brown trở thành cuốn best seller trong vòng hai năm qua. Cuốn sách này là một cuốn tiểu thuyết trinh thám giả sử. Người ta bị hấp dẫn vì kỹ thuật tạo tò mò và giải quyết các tò mò đó theo từng chương. Đồng thời, những mẫu chuyện giả sử dựa lên những tên tuổi và địa danh có thật tạo cho người đọc cái cảm giác rằng những dữ kiện xa xưa là ‘thật’ và qua đó mình đã ‘khám phá’ một sự thật dấu kín của một tổ chức đáng sợ là “Hội Thánh Công Giáo.” Dan Brown một nhà giáo và là một tiểu thuyết gia chứ không phải là một nhà sử học; và dù cho ông tuyên bố rằng tiểu thuyết của ông chỉ là một cuốn sách ‘hư cấu’ (fiction) mà thôi, thì các tình tiết có vẻ như thật trong tác phẩm khiến nhiều độc giả không biết hoặc ít biết về Công giáo có cái nhìn lệch lạc. Cuốn sách này ‘ăn khách’ đến độ năm vừa qua một bản dịch vội vã đã được phát hành tại Việt Nam và bị búa rìu dư luận phản đối kịch liệt. Tuy nhiên, để cho độc giả không bị lung lạc bởi nội dung của một cuốn tiểu thuyết hoàn toàn hư cấu, mà mục đích duy nhất là tìm lợi nhuận, Maranatha đăng bài nhận định sau đây của Đỗ Trân Duy. Cũng xin nói rõ rằng ngày 15-3-2005, Đức Hồng Y Tarcisio Bertone đã chính thức phê phán cuốn sách này là ‘bóp méo sự kiện lịch sử’...

 

Năm ngoái, nhân lễ kính thánh Mađalêna, tôi đã có dịp trình bày về vấn nạn Da Vinci Code (Maranatha,

số 52). Dạo đó, chỉ dám nhắc đến cách xa xa. Gần đây, sự kiện Da Vinci Code nổ lớn khiến ai cũng biết. Nó trở thành một kiến thức thời trang, một biến cố thời đại, một công trình chống Chúa. Tôi xin phép trở lại vấn đề này một cách thẳng thắn hơn.

Da Vinci Code Là Gì?

“The Da Vinci Code” (mật mã của Da Vinci) là tên cuốn tiểu thuyết của Dan Brown. Xuất bản năm 2003. Từ đó sách vẫn đứng đầu có số bán cao nhất hằng năm. Hiện sách đã bán trên 40 triệu cuốn và được dịch ra 44 thứ tiếng. Vào giữa tháng 5, 2006 phim cùng tên sẽ được trình chiếu. Chắc chắn phim sẽ lôi kéo thêm nhiều triệu khán giả nữa. Brown cho biết cốt truyện dựa trên sử liệu của Robert Langdon, giáo sư Ký Hiệu Tôn giáo (Religious Symbology), Đại học Harvard và tài liệu của rất nhiều người trong số đó có Leigh Teabing, Margaret Starbit, Timothy Freke, Lynn Picknett, và Henry Lincoln (toàn là những cây viết nổi tiếng về bài bác Công Giáo). Để làm ra vẻ một cuộc nghiên cứu nghiêm túc, Brown ghi lời cảm tạ những cơ quan đã giúp hắn thực hiện cuốn sách. Trong số đó có Catholic World News. (Chủ nhiệm của Catholic World News cho biết bài viết của hội được phổ biến miễn phí trên internet cho tất cả mọi người. Hội chưa bao giờ giúp Brown tra cứu bất cứ vấn đề gì.)

Truyện kể rằng Robert Langdon, trong khi khảo cứu những ký hiệu tôn giáo liên quan đến danh họa Leonardo Da Vinci, đã khám phá ra bộ mật mã ghi chú những bí ẩn của Công Giáo. Langdon trở thành mục tiêu săn đuổi của những tu sĩ dòng Opus Dei. Họ muốn diệt ông để bịt miệng. Những bí sử của Công Giáo được giải mật là: 1) Đức Giêsu là một người phàm. 2) Đức Giêsu lập gia đình với bà Maria Mađalêna. 3) Hai người sanh ra một người con gái. 4) Maria Mađalêna là chủ giáo hội và được tôn là nữ thần. 5) Đức Giêsu chỉ được phong là Thiên Chúa kể từ thế kỷ IV, do nhu cầu chính trị của vua Constantine. 6) Thánh Kinh chính thức của Công Giáo là Phúc Âm theo Maria Mađalêna. 7) Vatican tìm mọi cách diệt trừ hậu duệ của Đức Giêsu, để duy trì một tôn giáo do họ đặt ra.

Brown cho biết truyền thuyết về cuộc truy tìm Chén Thánh (chén rượu Đức Giêsu dùng trong bữa tiệc ly) chính là cuộc truy tìm Maria Mađalêna. Thân thể của bà là chén thánh vì cưu mang hài nhi, con của Đức Giêsu. Các hiệp sĩ trong cuộc truy tìm đã phải dùng mật mã để tránh cuộc tàn sát bịt miệng của Vatican. Sát thủ không gớm tay là những tu sĩ dòng Opus Dei. Họ là những người mặc áo chùng vải thô, ngủ trên chiếu rơm, tu theo lối hành xác. Họ làm bất cứ gì kể cả giết người, đầu độc, dối trá, vô luân, trộm cắp, để phục vụ Vatican. Brown vẽ ra Opus Dei là một dòng tu thần bí. Mục đích của Opus Dei là làm giàu và đoạt quyền bính. Dầu vậy chi họ của Đức Giêsu vẫn tồn tại cho đến ngày nay ở bên Pháp, nhờ sự bảo vệ của một dòng kín tên là Sion.

Thực Chất Của Biến Động “The Da Vinci Code”

Luợc theo dòng lịch sử chúng ta thấy luôn luôn có những tiên tri giả muốn định hướng cho số mệnh con người. Nietzsche cho Thượng Đế đã chết. Huxley cho vũ trụ tồn tại bởi chính nó. Heidegger cho đời sống chỉ là khoảng thời gian hướng tới cái chết. Marx cho tôn giáo là á phiện ru ngủ dân đen. Freud cho tôn giáo là một ảo ảnh và chỉ mang đến sự sợ hãi. Camus cho đời là vô nghĩa. Satre đặt câu hỏi tại sao tôi bị sinh ra… Dầu sao tư tưởng của những người này cũng chỉ giới hạn trong tầng triết thuyết, một tầng văn hóa người bình dân không biết tới. Vả lại theo thời gian, những kiến giải của họ đã lần lượt trở thành sai lầm. Duy có thuyết Marx-Lenin có tiềm lực tạo ra chế độ Mác-xít đầy quyền lực để tiêu diệt Kitô giáo. Nhưng sức mạnh vũ lực lại cũng đã thất bại. Sau 70 năm Nga Sô kiên trì xóa bỏ tôn giáo, cuối cùng chính quyền Liên bang Sô Viết sụp đổ, nhưng Chính Thống Nga giáo vẫn tồn tại.

Bây giờ, lần đầu tiên trong lịch sử, một phương cách mới chống Kitô ra đời. “The Da Vinci Code” (giống như loại truyện chưởng võ hiệp) thuộc loại pop culture (văn hóa thông tục). Cốt truyện hấp dẫn mọi người vì nó có một mối tình lãng mạn, một âm mưu kỳ bí, một cuộc phiêu lưu kinh dị, một đả kích đầy kích thích, một đòn tâm lý thỏa mãn lòng đố kị. Về mặt trí thức, nó tóm gọn mọi khuynh hướng của nền văn hóa duy lý cận đại vào một gói. Chúng là một thách đố về giáo quyền, một đòi hỏi nữ quyền, một phủ nhận thần quyền, một hoài nghi về chân lý do tôn giáo công hiến, một tự kiêu về khả năng cá nhân. Tất cả những chủ đề này đã có sẵn như trái bom âm ỉ của thời đại duy lý. Brown đã châm ngòi cho trái bom nổ tung. Nói một cách khác, Brown đã thành công mang đến cho mỗi người một cái gì đó mà họ muốn.

Điều đáng buồn là đối với nhiều người, pop culture là phương tiện duy nhất để họ nhận thức thực tại. Họ không thể tin Thượng Đế, nhưng lại rất dễ tin vào báo chí, phim ảnh, thuyết hoang tưởng, và lời hứa của những kẻ lộng ngôn. Văn hóa thông tục cung cấp cho họ những gì họ muốn nghe, muốn thấy, muốn cảm, bất chấp bản chất thật sự của nó. Thành viên của của nền văn hóa thông tục đa số là những người trẻ tuổi. Họ lớn lên trong không gian nhạc pop, nghệ thuật pop, thời trang pop. Họ đề cao chủ nghĩa cá nhân. Họ

thích sống trong thế giới thả lỏng dục tính. Họ mau lẹ chấp nhận những khởi xướng đả kích cái cơ chế có luật lệ vững vàng, mà không cần có lý do chính đáng. 

Những Sai Lầm Căn Bản Của Dan Brown

Brown đã sai lớn khi cho Opus Dei (tiếng La Tinh, có nghĩa là công việc của Thiên Chúa) là một dòng tu. Opus Dei chỉ là một hội đoàn do thánh Josemaría Escrivá sáng lập tại Spain vào năm 1928, được Tòa Thánh công nhận năm 1950. Hội được thành lập vì nhu cầu tâm linh sau cuộc nội chiến tại Tây Ban Nha. Opus Dei chủ trương thánh hóa công việc hằng ngày như phương thức tu đức, để phụng vụ Thiên Chúa và cải thiện thế giới. Hiện nay hội viên có khoảng 84,000 giáo dân và 2000 linh mục, trải rộng trên 80 quốc gia. Riêng tại Hoa Kỳ số hội viên là 3000 người. Có một số hội viên khấn đời sống độc thân, nhưng họ không phải tu sĩ. Nếu nhìn vào con số nêu trên, tổ chức Opus Dei không tạo nên một ảnh hưởng lớn nào trong cộng đồng Công Giáo. Nhiều người còn không hề biết đến sự hiện hữu của tổ chức này. Cũng không hề có dòng tu Sion. Có một thời người ta đồn rằng có một nhóm chống Do Thái được thành lập ở Pháp lấy tên là Prieuré de Sion (1). Nhóm này có đăng ký với chính quyền năm 1956. Nhóm mập mờ ghi chú danh tánh các sư trưởng trong đó có cả Leonardo Da Vinci, Isaac Newton, và Victor Hugo. Câu truyện ngớ ngẩn này đã được làm sáng tỏ vào năm 1970. Làm sao Leonardo Da Vinci có thể nhân danh tu viện Sion, khi tu viện này không hiện hữu, để thi hành một sứ mạng mơ hồ nào đó.

Brown cho biết trong bức tranh “Last Supper” (Bữa Tiệc Ly) người ngồi bên phải Đức Giêsu không phải là thánh Gioan mà là bà Mađalêna. Bằng chứng là người đó có dáng dịu dàng và không có râu. Luận điệu một chiều này bất chấp sử liệu khi các thánh sử đều ghi rõ thánh Gioan là người trẻ tuổi không có râu. Về mặt hội họa, chẳng riêng gì Da Vinci, tất cả những tranh trong thời phục hưng khi vẽ thánh Gioan đều vẽ một chàng thanh niên không râu. Đó là biểu tượng văn hóa diễn tả một môn đồ, chưa trưởng thành, đang trên đường theo thầy học đạo.

Brown cho rằng lúc mới khai sáng, Công Giáo đã mượn giáo lý của những dị giáo đa thần. Giáo lý Công Giáo chỉ có khi vua La Mã Constantine khởi xướng, vào thế kỷ IV, vì mục đích chính trị. Brown đưa ra bằng chứng trước Công Đồng Nicê (năm 325) không ai tin Đức Giêsu là Thiên Chúa. Brown không hề nhắc tới Tân Ước đã được viết trước thời Constantine hằng 100 năm và những kinh điển, như thư của thánh Phaolô, đã phổ biến trước cả khi Phúc Âm được viết. Có lẽ ông ta cũng không biết Công Đồng Nicê quy tụ 300 giám Mục trong thế giới Công Giáo chỉ để công khai hóa đức tin đã có từ trước. Kinh Tin Kính với lời khẳng định Đức Giêsu là “Thiên Chúa từ Thiên Chúa, ánh sáng từ ánh sáng” là do Công Đồng Nicaê soạn ra.

Về sự liên hệ giữa Đức Giêsu và Mađalêna và vấn đề nữ quyền, sự kiện này tôi đã có dịp trình bày trong bài viết về thánh Mađalêna nên không nhắc lại ở đây. Tôi chỉ muốn thêm rằng Brown không giải thích được tại sao những người đàn ông lại tranh giành quyền hành với đàn bà, khi phần thưởng cho họ chỉ là những tù đày và xử tử. Không lẽ họ tranh thắng để được bị giết.

Brown nêu rõ tên Vatican và Công Giáo (Catholicism) làm đối tượng đả kích. Chủ ý của Brown là phê phán đạo lý của Kitô giáo là những lời nhuốm máu gian dối và khích động sự bạo tàn. Giáo Hội Công Giáo là một thể chế tàn ác, áp chế phụ nữ, và ghét những ai lập gia đình. Đức Giêsu thuần túy là người phàm, mọi thần tính chỉ là giả mạo, niềm tin cho Công Giáo là một tôn giáo chân chính bị loại bỏ. Thực ra Brown đã gom nhặt những mẩu truyện thần kỳ từ những thời xa xưa trong Ngụy Kinh và thuyết tân Ngộ Đạo (neo-Gnostis). Để cập nhật hóa, Brown trộn những mẩu truyện ấy vào tài liệu của những tác giả Thời Mới (New Age). Nhóm Thời Mới cho rằng mọi chủ đề của sự sống đều là vấn đề thuộc cá nhân, không phải là vấn đề của tôn giáo. Hấp lực chính câu truyện của Brown là sự hứa hẹn một con đường giải thoát từ thuyết Ngộ Đạo.

Ngụy Kinh (Apocryphal Gospels) là những kinh điển không được Giáo Hội Công Giáo công nhận. Apocrypha, tiếng Hy lạp, có nghĩa là “mật thư”. Danh xưng mập mờ này đã khơi động óc hoài nghi của những người “tân tiến”. Họ nghĩ rằng Giáo Hội Công Giáo loại bỏ những sách ấy vì muốn che dấu một sự thật kinh khủng nào đó. Giáo Hội loại bỏ Ngụy Kinh không phải để che dấu một sự thật khó nói, nhưng vì chúng có một giá trị rất thấp về thần học. Chúng đưa ra những chỉ dậy sai lầm về tín ngưỡng. Bạn có cần biết mắt Đức Giêsu không bao giờ chớp và bước đi của Người không để lại dấu chân trên cát? Đại loại đó là những “bí mật” được ghi trong Ngụy Kinh. Nguồn tài liệu này gồm có Phúc Âm (PÂ) theo thánh Phêrô, PÂ Tôma, PÂ Giacôbê, PÂ Maria [Mađalêna], PÂ Nicôđêmô, PÂ Giuđa. Ngoài ra còn có sách công vụ của các thánh Andrê, Phaolô, Phêrô, Philíp. Theo giáo sư Elizabeth A. Johnson, Ngụy Kinh được viết trong khoảng thế kỷ II và III. Vào thời gian ấy tất cả các vị tông đồ tiên khởi đã qua đời. Tuy nhiên kẻ hậu sinh đã tự nhân danh một vị tông đồ tiên khởi nào đó để có thẩm quyền trước tác, một tập tục thường có vào thời đó. Vì giá trị sử học của ngụy kinh không được xác thực nên nhiều ngộ nhận đã xảy ra.

Mới đầu, người ta kỳ vọng Ngụy Kinh sẽ là phần tài liệu bổ túc cho những phần thiếu sót của Tân Ước. Trái lại Ngụy Kinh chỉ thuật lại những gì vốn đã biết, nhưng với định kiến sai lầm. PÂ Giuđa chẳng hạn, cho biết Đức Giêsu bàn với Giuđa về kế hoạch bán Thầy. Đây là một công trình chạy tội cho Giuđa một cách vụng về. PÂ Phêrô cho biết khi Đức Giêsu bị đóng đinh, Người thản nhiên không hề đau đớn. Như vậy hóa ra Đức Giêsu không chịu cuộc khổ nạn hay sao? PÂ Maria kể rằng, một hôm Phêrô hỏi Đức Giêsu về vấn đề tội lỗi. Người trả lời không hề có cái gọi là tội lỗi. Đây rõ ràng là khái niệm tâm thức của Ngộ Đạo được gán cho Đức Giêsu. PÂ Tôma kể truyện Đức Giêsu phụ thánh Giuse đóng chiếc giường. Có tấm ván bị hụt chiều dài. Người bèn nắm đầu ván kéo nó dài ra cho bằng tấm ván kia. Không lẽ Đức Giêsu làm phép lạ để sinh sống? PÂ Nicôđêmô kể truyện tổ phụ Ađam ở trong hỏa ngục, ông sai con là Sét lên cửa Thiên Đàng xin dầu thánh để chữa bệnh suy nhược. Sau đó Đức Giêsu cứu Ađam khỏi tay Sa Tăng để lên thiên đàng. Ađam ở hỏa ngục sao? Nếu đã ở hoả ngục vẫn lên được thiên đàng sao?

Sách của nhóm tác giả Thời Mới đảo nghịch với Tân Ước 180 độ. Đức Giêsu được họ khám phá ra là người giầu có, được giáo dục kỹ càng để phục hồi ngôi báu David. Michael Baigent bật mí Đức Giêsu thoát nạn Thập Giá và vẫn sống bình an sau đó. Margaret Starbit dẫn giải nhà thờ xây theo kiểu Gothic là biểu tượng buồng dạ của người đàn bà. Đó là hiện thân của đạo thờ nữ thần của Công Giáo. Lynn Picknett tiết lộ tấm khăn liệm Turin là bức tự họa chân dung của Da Vinci. Mặc dù đây là nhưng điều quái dị, nhưng với trí thông minh, nhóm Thời Mới đã trình bày chúng trong dạng những tài liệu xác thực, nên có nhiều người tin họ. 

Con người mới của thời đại duy lý cho “tự do” là nền tảng duy nhất của mọi giá trị. Những gì đi ngược với tự do đều bị chống phá và cấm kị. Kể cả trong tín ngưỡng, một tôn giáo chỉ đạt ấn tượng nếu tôn giáo ấy được trình bày như nguồn lực dẫn con người đến tự do. Vì vậy mà Ngộ Giáo được đề cao. Trên thực tế họ quan niệm tự do như một thứ nhân quyền, rồi sử dụng nó một cách quá trớn. Quyền tự do phát ngôn và trước tác chẳng hạn, đã bị lạm dụng để bóp méo chân lý. Nó đã phá hoại chính giá trị chân chính của tự do. Trong thông điệp Veritatis Splendor (Vẻ Huy Hoàng Của Sự Thật) đức Gioan Phalô II cho rằng thời đại chúng ta đang có cuộc khủng hoảng luân lý vì hai lý do: 1) tự do đã tách ra khỏi sự thật. 2) niềm tin đã tách ra khỏi luân lý. Có lẽ chúng ta không thể thay đổi được gì đối với những ai đã tin vào sách của Brown, nhưng chúng ta vẫn có cơ hội để rao giảng chân lý cứu độ. Kitô hữu phổ biến rất nhiều tài liệu qua những hình thức: sách, tập nhỏ, và thư để giải thích sự lừa bịp của Brown. Đồng thời hơn 10 websites về giải mật (de-coding) của các cơ quan Công Giáo Hoa Kỳ được phát hành. Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ (USCC) cũng có riêng 1 website: Jesudecoded.com.

Trên tất cả, chúng ta còn có tình thương để đáp lại. Trong dư hưởng của tuần Kính Lòng Thương Xót Đức Giêsu, chúng ta hiểu rõ hơn tại sao Người kêu gọi chúng ta hãy đem tất cả những kẻ tội lỗi đổ vào trái tim của Người. Chỉ cốt để họ được tha thứ. Ông Marc Carroggio, đặc trách văn phòng liên lạc quốc tế của hội Opus Dei, nói, “Brown thuộc loại chủ nghĩa ăn bám. Tác giả nổi tiếng nhờ tấn công một khuôn mặt lớn. Nếu không có Đức Giêsu thì cuốn truyện chẳng ai thèm để ý… Tôi khảng định Opus Dei chỉ đáp lại bằng những lời hòa bình.” Một người ngoại đạo ở tận nước Thái Lan xa xôi, giáo sư Bono Publici nói, “Tôi thấy trên báo có bức hí họa George W. Bush đứng vấn kế Đức Giêsu làm thế nào để trở thành vị cứu thế. Có ai dám đăng hình tổng thống

Iran