Số 79 Ngày 20-05-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Người Nữ Tì Của Thiên Chúa - ĐTC Gioan Phaolô II

Hãy Yêu Thương Nhau -  Lm. Vũ Xuân Hạnh

Điều Răn Quan Trọng Nhất – Bill Peatman - Maranatha dịch

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J

Da Vinci Code và Những Tiếng Nói Từ Vatican - Trần Duy Nhiên

The Da Vinci Code – Cơn Hồng Thủy Định Cuốn Trôi Toà Nhà Giáo Hội? - Trần Mỹ Duyệt

Da Vinci Code: Sự Lừa Dối Vĩ Đại - Sơ Lược và Vấn Đề Bóp Méo Lịch Sử  - Đỗ Như Điện

Niệm: Một Hình Thức Cầu Nguyện Bị Lãng Quên - Trần Duy Nhiên

Mẹ Tôi

Bạn Thích Nhất Đoạn Phúc Âm Nào? Xác Tín -  P.John Ceferino Ledesma, SBD, Thái Văn Hiến dịch

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

Tuần này, có một biến cố điện ảnh mà cả thế giới đều để ý: Cuốn phim Da Vinci Code của đạo diễn Ron Howard, dựa theo cuốn sách cùng tên của Dan Brown, được trình chiếu ra mắt tại Cannes, Pháp Quốc hôm 17 tháng 5 vừa qua.

Trong bài giảng ngày thứ sáu Tuần Thánh, trước sự hiện diện của Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI, cha Raneiro Cantalamessa đã nói về cuốn sách và cuốn phim ấy như sau: “Ngày nay, người ta bán Chúa, không phải để lấy 30 đồng bạc, mà để lấy bạc tỉ.” Quả thật, tác giả cuốn sách và nhà sản xuất cuốn phim chỉ ‘cần lấy bạc tỉ’ mà không thắc mắc gì đến sự thật lịch sử. Dĩ nhiên, vì muốn như thế nên Dan Brown không từ nan một ‘xảo thuật’ nào. Ông đem những tiểu xảo của một cuốn trinh thám, kích thích tò mò, cộng với việc bổ báng những điều linh thiêng nhất trong một tôn giáo, để thỏa mãn một thế hệ đầy ưu tư đối với sự linh thiêng nhưng lại nản lòng thối chí trước những điều phũ phàng của các tổ chức tôn giáo. Cần phải bôi nhọ tôn giáo. Nhưng phải chọn tôn giáo nào mà ông có thể bán được sách nhưng không bị giết chết, hoặc không bị săn đuổi mọi nơi. Và ông biết rằng tôn giáo duy nhất mà tín đồ không đối xử với ông một cách dã man, chính là Kitô giáo.

Cuốn tiểu thuyết ‘lá cải’ đó đã thành công như thế là vì nó cho những người không biết gì về lịch sử có cảm giác là mình đã trở thành ‘con người hiểu biết!’ Như lời đức hồng y Paul Poupard: “Đối với những ai biết về lịch sử Giáo Hội thì đây không phải là lần đầu mà những hiện tượng như thế xảy ra, nhưng cái mới ở đây là nhờ sự dốt nát về tôn giáo, hay đúng hơn, sự dốt nát nói chung... Vì thiếu kiến thức căn bản, nên người ta khó mà phân biệt được đâu là chuyện bịa đặt, chuyện hư cấu, và việc xuyên tạc lịch sử và các giá trị mà Giáo Hội gìn giữ và đang sống.”

Mọi sự hẳn cũng đã chìm xuống, vì sau một thời gian tung ra những điều giật gân để kiếm tiền, thì Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngài vẫn không hề suy suyển. Tuy nhiên, các nhà sản xuất phim lại muốn kiếm tiền một lần thứ hai, nên biến Chúa Kitô thành một ‘món hàng’ béo bở cho túi tiền của mình. Thế là nổi lên một chiến dịch quảng cáo. Và đồng thời những tiếng nói phẫn nộ cũng đã đáp lại để ‘tẩy chay’ cuốn phim kinh doanh sự dối trá kia.

Dù sao thì cuốn phim cũng ra đời đúng như dự kiến! Sau buổi chiếu ra mắt tại Đại Hội Cannes, nhiều người đã bật cười: “Ầm ĩ lắm để rồi chẳng có gì...” như nhận xét của cơ quan Signis, hiệp hội Công giáo về Truyền Thông. Đây không phải là một tác phẩm điện ảnh lớn nhưng chỉ là một phim để cho quần chúng giải trí tiêu cơm. Nếu phần đầu cuốn phim còn hấp dẫn nhờ cái trò chơi cút bắt, thì phần sau, với lối giải thích rối rắm dông dài, đã làm cho những người thích xem phim phải nản lòng.

Trong khi cuốn sách tạo cảm giác xác thực cho một số luận cứ đáng ngờ, thậm chí tào lao, thì cuốn phim cố gắng xoa dịu phản ứng của Kitô hữu. Những nhà biên soạn kịch bản đã thêm một số câu cho thấy rằng tất những luận cứ đều là giả thiết chứ không phải như lời khẳng định chắc nịch trong cuốn sách, liên quan đến thần tính của Chúa Giêsu, đến vị trí của Mađalêna hoặc thực chất của Hiệp Hội Opus Dei.

Dù sao đi nữa, những hình thức quảng cáo cho cuốn sách và trước khi ra mắt cuốn phim đã làm cho nhiều người, cả Kitô hữu lẫn người chống Kitô giáo, đặt lại một vấn đề rất cũ và rất mới: Chúa Kitô là ai? Ngài là ai, đối với lịch sử và đối với bản thân tôi?

Opus Dei, cộng đoàn từng bị Dan Brown biến thành tên ác thần trong cuốn sách của mình, đã lên tiếng như sau: “Những biến cố trong những tháng vừa qua đã thôi thúc tín hữu đào sâu đức tin Công Giáo của mình, để biết rõ hơn về Phúc Âm và về Giáo Hội, về lịch sử cũng như đời sống hiện nay của Giáo Hội. Giống như cách đây 20 thế kỷ, Chúa Giêsu từng là ‘một cớ vấp phạm và một điều điên rồ’ dưới mắt một số người. Tuy nhiên, có nhiều người - nhờ ân sủng chứ không phải nhờ công trạng của mình - đã tin rằng Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu Thế, đến để gieo rắc tình yêu.

Đây là một biến cố đáng buồn, nhưng nhất thời và hôm nay đang tàn lụi. Kitô hữu luôn phản ứng trước những thái độ thiếu tôn trọng đối với mình bằng một thái độ ôn hòa, qua con đường đối thoại và tránh xung đột. Biến cố này cũng có thể giúp Kitô hữu suy nghĩ nghiêm túc đến thái độ sống đức tin của mình, để rồi từ đó, chúng ta cũng biết thông cảm và tôn trọng người khác.”

Trong chiều hướng đó, Maranatha kỳ này dành một số trang liên quan đến hiện tượng Da Vinci Code. Tuy nhiên, giữa một khối lượng lớn thông tin về cuốn sách và cuốn phim bôi đen Giáo Hội đó, thì một tin nhỏ mà không ai chú ý, được đăng trên báo Tuổi Trẻ, lại chiếu rọi một tia sáng mạnh mẽ hơn bao nhiêu lời bôi nhọ kia: “Ngày 13 tháng 5, Sơ Theresa Phạm, nữ tu Việt Nam thuộc dòng Đa Minh, vừa được Tổng thống Hoa Kỳ George Bush vinh danh và trao tặng giải thưởng phục vụ tình nguyện vì những đóng góp của Sơ trong việc giúp đỡ nhiều người dân trong cơn bão Katrina và Rita vừa qua.”

Vâng, trong khi bao nhiêu người trên thế gian này xôn xao vì có một cuốn sách cho rằng người nữ không có chỗ đứng trong Giáo Hội, thì một người nữ lại được nhà cầm quyền vinh danh vì đã phục vụ như Chúa Kitô. Chính hàng vạn người như thế đã âm thầm vẽ lại trước thế gian gương mặt đích thực của Chúa Kitô và của Giáo Hội Ngài.

Và chính hình ảnh bé nhỏ ấy đã nhắc nhở chúng ta rằng niềm vui của Mùa Phục Sinh vẫn rộn ràng và tháng hoa Đức Mẹ vẫn rực rỡ thắm tươi. Vì thế, Maranatha_79 cũng không thể không nói đến tình yêu lớn lao của Đấng Phục Sinh với lời dặn dò của Ngài cho các môn đệ và cho chúng ta; thêm vào đó, sự hiện diện và vai trò của Mẹ Maria trong đời sống Giáo Hội và đời sống từng người tín hữu cũng được đặc biệt nhắc đến trong số này. Tất cả những điều ấy được gói lại trong tâm tình cầu nguyện. Đặc biệt, trong số này, xin gửi đến quý độc giả một phương thức cầu nguyện của Giáo Hội mà nhiều người lãng quên, một lời cầu được lặp đi lặp lại mãi trên trang báo nhỏ này, đó là cầu nguyện với lời Maranatha, Lạy Chúa, xin ngự đến!’

MARANATHA

  

 

š¶›

NGƯỜI NỮ TÌ CỦA THIÊN CHÚA

(Lc 1, 39-42)

Đức Gioan Phaolô II: 4-9-1996 - Maranatha dịch

   Các bạn thân mến,

   1. Lời của Đức Maria trong ngày Truyền Tin: “Tôi là tôi tớ của Thiên Chúa; xin thành sự nơi tôi theo lời Ngài” (Lc 1,38) cho ta thấy rõ một thái độ độc đáo của tình thần tôn giáo Do Thái. Vào thời kỳ khởi đầu Giao Ước, khi đáp lại tiếng gọi của Chúa, ông Môsê đã xưng mình là tôi tớ (x. Xh 4, 10; 14, 31). Khởi đầu Giao Ước Mới, Đức Maria cũng đáp lại với Thiên Chúa bằng thái độ phục tùng và phó thác một cách có ý thức đối với Thánh Ý Nguời, qua đó cho thấy rằng Mẹ sẵn sàng làm ‘tôi tớ của Chúa’. Trong Cựu Ước, danh vị ‘tôi tớ’ của Thiên Chúa bao gồm tất cả những ai được kêu gọi thực thi một nhiệm vụ cho dân được chọn: Abraham (St 26,24), Isaac (St 24,14), Giacob (Xh 32, 13), Giôsuê (Gs 24,29) David (2 Sm 7,8) v.v. Các tiên tri và tư tế, những nguời được trao phó nhiệm vụ giáo dục dân chúng để trung thành phục vụ Thiên Chúa, cũng là các tôi tớ. Sách tiên tri Isaia ca tụng tinh thần vâng phục của ‘Người tôi tớ đau khổ,’ một gương mẫu cho lòng trung tín với Thiên Chúa, với hy vọng chuộc tội cho muôn dân (x. Is 42, 53). Một số phụ nữ cũng nêu gương trung thành, chẳng hạn nữ hoàng Esther, trước khi cầu xin cứu vớt người Do Thái, cũng đã dâng lên Thiên Chúa lời nguyện, bằng cách tự xưng nhiều lần là ‘nữ tì của Ngài.’ (Et 4,17).

   2. Khi tự xưng là ‘nữ tì của Thiên Chúa,’ Đức Maria, đầng ‘đầy ân phúc,’ sẵn sàng hiến thân để thực hiện một cách trọn vẹn công việc mà Thiên Chúa chờ đợi nơi dân Người. Những lời “tôi là tôi tớ của Thiên Chúa” loan báo Đấng sau này sẽ tự nói về mình: “Con Người không đến để được hầu hạ mà để hầu hạ và thí mạng sống mình để làm giá chuộc muôn dân.” (Mc 10, 45; x. Mt 20,28). Như thế, Chúa Thánh Thần đã thực hiện giữa Mẹ và Con một sự hoà nhịp nội tâm, giúp Đức Mẹ chu toàn vai trò làm mẹ của Chúa Giêsu, bằng cách đồng hành với Mẹ trong sứ mạng làm tôi tớ.

   Trong cuộc đời Chúa Giêsu, ý muốn phục vụ là một điều thường xuyên và đáng ngạc nhiên: thật vậy, với tư cách là Con Thiên Chúa, hẳn Ngài có quyền chính đáng để được phục vụ. Và khi tự xưng là ‘Con (loài) Người’, một danh vị mà sách Daniel từng khẳng định: “Mọi dân tộc, mọi quốc gia và mọi miệng lưỡi sẽ phục vụ Người” (Dn 7,14), hẳn Ngài có thể cho mình cái quyền thống trị kẻ khác. Trái lại, đi ngược với não trạng của thời ngài, thể hiện qua khát vọng của các môn đệ muốn Ngài giữ một vai trò hàng đầu (x. Mc 9,34) và qua sự phản đối của Phêrô khi Ngài rửa chân ông (Ga 13,6), Chúa Giêsu không muốn được hầu hạ, mà lại muốn hầu hạ cho đến độ trao ban trọn vẹn mạng sống mình để hoàn tất công trình cứu chuộc.

   3. Khi nghe Thiên thần loan báo, dù ý thức về địa vị cao sang mà mình được cắt đặt, thì Đức Mẹ cũng vẫn hồn nhiên tuyên bố rằng mình là “nữ tì của Thiên Chúa.” Với thái độ hiến thân để hầu hạ này, Mẹ đã cũng đã bao gồm luôn việc phục vụ cho tha nhân, như ta thấy ở tương quan giữa biến cố Truyền Tin và Đi Viếng: Khi Thiên thần cho biết rằng bà Êlisabet đang cưu mang một người con, Đức Mẹ ‘vội vã’ lên đường (Lc 1,39) để sang Giuđê mà giúp đỡ chị của mình chuẩn bị ngày khai hoa nở nhụy, với thái độ luôn luôn sẵn sàng. Qua đó, Mẹ đã đề ra cho Kitô hữu mọi thời đại một mẫu gương phục vụ tuyệt hảo. Những tiếng “Xin thành sự nơi tôi theo lời ngài” (Lc 1, 38), cho thấy rằng ‘người nữ tì của Thiên Chúa’ hoàn toàn vâng phục Thánh Ý Chúa. Thể liên tiếp (subjunctive) của từ ‘genoito’ ‘xin thành sự,’ ‘hãy xảy ra,’ mà thánh Luca dùng, nói lên chẳng những sự ưng thuận mà còn là tinh thần lãnh trách nhiệm đối với kế hoạch của Thiên Chúa, một kế hoạch mà Mẹ xem là của mình qua việc sử dụng mọi tiềm năng của bản thân mình.

   4. Khi đối diện với Thánh Ý Chúa, Đức Mẹ đã thực thi trước và biến thái độ của Chúa Giêsu thành chọn lựa của mình; mà theo thư Do Thái, Chúa Giêsu đã nói khi nhập thế: “Cha đã không ưa hy tế và lễ vật, nhưng Cha đã ban cho con một thân xác... Vậy thì Con nói: Này con đây, lạy Cha, Con đến để làm theo ý Cha.” (Dt 10, 5-6: Tv 40, 7-9). Vả lại, tinh thần vâng phục của Đức Mẹ thể hiện và tiên báo cho tinh thần vâng phục mà Chúa Giêsu đã bộc lộ trong đời sống công khai và cho đến Núi Sọ. Chúa Kitô sẽ nói: ‘Lương thực của Thầy là làm theo ý của Đấng sai phái Thầy.’ (Ga 4,35). Cùng thể thức ấy, Đức Mẹ đã xem Thánh Ý Chúa Cha là nguyên tắc xuyên suốt cuộc đời Mẹ, và tìm ra nơi ấy sự mạnh cần thiết để chu toàn sứ mạng được giao.

   Nếu vào lúc Truyền Tin, Đức Mẹ chưa biết đến những hy sinh liên quan đến sứ mạng của Chúa Kitô, thì lời tiên tri của ông Ximêôn đã hé cho Mẹ thấy số phận bi thảm của Con mình (x. Lc 2, 34-35). Đức Mẹ kết hiệp vào vận mệnh đó bằng cách tham dự sâu xa. Qua sự vâng phục hoàn toàn đối với Thánh Ý Chúa, Đức Mẹ sẵn sàng đón nhận tất cả những gì mà Tình Yêu Thiên Chúa phóng chiếu vào cuộc đời của Mẹ, kể cả ‘lưỡi gươm’ xuyên thâu tâm hồn mình                  

                                                                                                                          Trở về mục lục >>

š¶›

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH NĂM B

HÃY YÊU THƯƠNG NHAU

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Cuộc sống cần tình yêu. Nhân loại cần tình yêu. Mỗi người sống trong cuộc đời này đều cần tình yêu. Bạn và tôi cũng thế: rất cần tình yêu. Có thể nói, tình yêu là lẽ sống, là niềm hạnh phúc, là sự bình an của tất cả mọi người, không trừ ai. Vì tình yêu quan trọng đến thế, cho nên trước khi rời bỏ thế gian, trước lúc chia tay các tông đồ, những người được Chúa Giêsu yêu thương nhiều, Người đã không để lại một tài sản nào, không trối trăn một kho tàng vật chất lớn lao nào, nhưng chỉ để lại lời di chúc ngắn ngủi, qua đó gởi gắm một tâm tư quí báu: “Các con hãy yêu thương nhau.” Nhờ các con yêu thương nhau, mà tình yêu ấy trở thành dấu chỉ để “mọi người nhận biết các con là môn đệ Thầy.”

Năm 1999, báo Tuổi Trẻ mở một cuộc thi viết mang tên: “Viết về cha tôi.” Trong cuộc thi này có rất nhiều người con viết về cha mình. Tuy có những người cha không làm tròn bổn phận làm cha, để lại sự u uất, có lúc là tất cả nỗi thèm khát tình cha của những đứa con. Nhưng những câu chuyện về những người cha thiếu trách nhiệm không nhiều. Độc giả cảm thấy vui vì những bài viết ca tụng người cha nhiều hơn. Những đứa con ca tụng cha mình, bởi cha nó yêu thương nó.

Sau cuộc thi “Viết về cha tôi” đó, báo Tuổi Trẻ đã gom những bài viết hay thành cuốn sách với tựa đề: “Cao hơn đỉnh Thái.” Trong đó tác giả Nguyên Hương kể về kỷ niệm thời chiến tranh của mình. Giữa lúc bom đạn khói lửa như mưa của tháng 3.1975, để cứu lấy mạng sống của chính mình, gia đình phải chạy loạn. Có lẽ lúc bấy giờ Nguyên Hương chỉ mới là chú bé 12 hay 13 tuổi gì đó, cũng theo gia đình chạy loạn vào chùa. Trong chùa có vô số người chạy giặc. Sân chùa lớn là thế, bỗng chốc trở thành cả sân người. Ai cũng lộ rõ nét hồi hộp lo sợ trên gương mặt mình. Bom đạn như mưa, ai mà không sợ. Hình như nỗi hoảng sợ khiến con người ta ít nói hơn. Cả sân người đông đúc nhưng tiếng ồn ào không lớn, chỉ nghe như tiếng rì rào của gió.

Giữa lúc mọi người đang nơm nớp sợ hãi, bỗng nhiên tiếng khóc của một đứa bé trên tay một người mẹ trẻ ré lên xé không gian. Tiếng khóc ré đòi sữa của đứa bé bất chấp tiếng đạn réo ngang trời và khói xám mịt mù. Bên cạnh người mẹ trẻ ấy là người cha của đứa bé cũng còn trẻ lắm, đang cố gắng đổ từng muỗng sữa vào miệng con. Người cha đã toát cả mồ hôi mà đứa bé vẫn không chịu uống một giọt nào. Bao nhiêu sữa đổ vào lại trào ra đầy mặt, chảy xuống cổ. Nó nhất định không chịu uống sữa bằng cách đổ từng muỗng vào miệng, chỉ đòi cho được cái chai và núm cao su mà nó vẫn thường mút, vì vội chạy nên cha mẹ của nó đã bỏ quên ở nhà. Tiếng khóc đòi hỏi rất quyền hành, càng lúc càng lớn. Một lúc sau, đứa trẻ đã hết hơi để khóc. Thấy con mình càng lúc càng tái đi vì đói và khóc, người mẹ cũng khóc theo. Thấy vậy, người cha đứng bật dậy, nói với vợ: “Để anh về lấy chai sữa cho con.” Người cha cúi xuống hôn con, rồi nắm tay vợ. Biết đâu đây là lần cuối cùng, anh nựng con, vì ngoài kia, tiếng đạn vẫn cứ réo ngang réo dọc. Người vợ nước mắt chảy dài thương chồng. Chị ôm chân chồng, miệng lắp bắp: “Lỡ có gì…” Nhưng người chồng gỡ tay vợ ra. Anh chạy đi trong làn đạn mịt mù, ai nhìn thấy cũng thương tâm, hồi hộp lo lắng cho anh.”

Mọi người chờ đợi, chờ đợi. Rất lâu, rất lâu sau. Thật may mắn, anh đã trở lại: Và chai sữa trên tay! Tác giả kết luận bằng một câu thật ý nghĩa: “Người cha có còn nhớ lúc liều mình chạy về phía khói lửa hay đã lãng quên như bao điều cha mẹ đã quên mình cho con được bình yên.”

Cuộc đời có rất nhiều thứ tình yêu: tình yêu đôi lứa, tình yêu bạn bè, tình yêu đồng đội, tình yêu của anh chị em một nhà và câu chuyện trên đây là tình yêu của cha mẹ với con cái. Tất cả những tình yêu đó đều cao đẹp, đều phù hợp ý Chúa.

Vì yêu thương là điều Chúa dạy, hơn nữa đó là lệnh truyền của Chúa: “Thầy truyền cho các con điều này là: các con hãy yêu mến nhau,” vì thế không ai có quyền từ chối yêu thương, càng không có quyền thù nghịch anh chị em mình. Có yêu nhau thật lòng, người ta mới có thể sống cho nhau, chết vì nhau. Vì yêu con, người cha trong câu chuyện bên trên đã quên cả mạng sống của mình. Nhưng đâu phải chỉ có tình yêu cha mẹ với con cái mới huyền nhiệm như thế, tất cả chúng ta đều có thể làm gì đó để gọi là yêu thương đối với anh chị em mình. Thử tưởng tượng, một thế giới không có tình yêu, không ai yêu ai, thì thế giới sẽ kinh khủng biết chừng nào. Bởi đi tới đâu, ta cũng chỉ thấy thù hận, bạo động, diệt chủng. Hãy yêu thương, hãy trao tặng cho nhau tình yêu thật lòng để cuộc đời đáng yêu và đáng sống. Tình yêu sẽ làm cho cả người đang yêu lẫn người được yêu bình an và hạnh phúc.

Mỗi thánh lễ đều là một cử hành về Tình Yêu lớn lao vô bờ, không phải giữa những con người mà là Thiên Chúa đối với con người. Dâng thánh lễ Chúa nhật thứ VI phục sinh hôm nay, xin cho bạn và tôi gặp lại chính mình là kẻ đã được Chúa yêu, để càng ngày càng ý thức hơn tình yêu bản thân với anh chị em xung quanh. Và xin Chúa luôn thanh luyện tình yêu trong ta để từng lúc, ta biết chân thành yêu Chúa nhiều hơn và yêu người như yêu Chúa, yêu người như  Chúa yêu ta 

                                                                                                                                                                                                                                                                         Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

 

ĐiỀU Răn Quan TrỌng NhẤt

Bill Peatman – Maranatha dịch

Thiên Chúa muốn chúng ta được hạnh phúc. Có th đây một thông điệp xem ra thật khó khăn cho tín hữu Công giáo chúng ta khi phải tin và sống điều đó. Ai cũng biết, chúng ta có một di sản tràn ngập của tội lỗi đau khổ. Đa số chúng ta cần được giải thích về “Tội lỗi của người Công giáo” là thế nào vì chúng ta đã hàng bao thế kỷ có khuynh hướng chỉ tập trung vào tội lỗi và trách nhiệm.

Cũng tương tự như thế, nền văn hóa Công giáo thường đề cao sức mạnh của sự đau khổ đem lại sự cứu rỗi. Hẳn nhiên tất cả chúng ta đều lỗi phạm, và chúng ta phải có trách nhiệm phục vụ Thiên Chúa và nhân loại. Tất cả chúng ta đều chịu đau khổ, và chúng ta  an ủi bằng cách cho rằng theo Chúa là Đấng đã chịu đau khổ vì chúng ta. Nhưng chúng ta cũng được kêu gọi để hưởng hạnh phúc với Ngài, và để cảm nghiệm được niềm vui đi cùng ơn cứu độ.

Trong bài Phúc Âm của chúa nhật tuần này, Chúa Giêsu đã giới thiệu một mệnh lệnh trọng tâm của sứ vụ Ngài và Giáo Hội được xây dựng qua Danh Ngài: “Đây là lệnh truyền của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Chúa Giêsu đã cũng đã chỉ ra rằng: “Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.”

Chúng ta hãy nhìn thẳng vào vấn đề. Chúa Giêsu đã không phán bảo rằng: “Đây là lệnh truyền của Ta: Hãy nhớ tội lỗi các ngươi đã làm như Ta phải nhắc nhở cho các ngươi   biết về tội lỗi các ngươi đây.” Và Ngài cũng đã chẳng hề nói: “Đây là lệnh truyền của Thầy: “Hãy đau khổ như Thầy đã từng chịu đau khổ.” Cuối cùng thì, Chính Giêsu cũng  chẳng nói  “Ta nói cho anh em biết những điều này để anh em cảm thấy thế nào là tội lỗi và bất hạnh.”

Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta hãy yêu thương nhau. Và Ngài cũng nói những điều như thế để chúng ta có niềm hạnh phúc tuyệt vời mà không ai có thể cướp mất được.

Thiên Chúa muốn chúng ta được hạnh phúc. Như thế không có nghĩa rằng Thiên Chúa muốn cho chúng ta tất cả những gì chúng ta yêu cầu đòi hỏi, như Ngài cũng sẽ chẳng làm hư chúng ta giống như những bậc cha mẹ luời biếng. Thiên Chúa muốn chúng ta cảm nghiệm niềm vui, một niềm vui trọn vẹn. Vì thế mà tại sao chúng ta được kêu gọi để sám hối về những lỗi phạm của mình. Vì thế cho nên vì sao chúng ta được kêu gọi sống điều răn quan trọng nhất là – yêu thương nhau như Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta.

Yêu thương và vui mừng. Đó là tất cả đặc tính và là trọng tâm của đức tin Kitô giáo. Thật là dễ dàng để đánh mất sự hiểu biết về những nhân đức này nếu chúng ta chỉ nghe nói về các Kitô hữu qua các phương tiện truyền thông. Người ta nói chúng ta chỉ quan tâm đến các đề nghị đưa ra bầu cử và luật pháp liên bang, và về các chính sách xem xét hành vi người khác.

Có lẽ một số người trong chúng ta cảm nghiệm đức tin trong những từ ngữ này. Nhưng tôi thì chưa hề gặp được người như thế. Hầu như những người tôi biết muốn theo Chúa Giêsu, chỉ muốn điều mà Chúa Giêsu nói trong Phúc Âm hôm nay: Yêu thương và Vui mừng.

Hẳn nhiên, tất cả chúng ta đều bị lạc hướng bởi truyền thống trong chính Giáo Hội của mình, và cũng vậy, chúng ta thường vẫn chú trọng nhiều hơn vào những lầm lỗi, thất bại hơn là dừng lại và chú tâm đến tình yêu của Chúa và mục đích Chúa muốn cho đời chúng ta. Ngài chết đi cho chúng ta được sống, chứ không phải để chúng ta chết hàng ngàn lần vì những dày vò và tự trừng phạt mình mỗi ngày.

Chúng ta được kêu gọi đón nhận trách nhiệm về những vấp ngã và yếu đuối của mình. Và chắc chắn chúng ta đôi khi phải được học đau khổ như Đức Kitô cũng đã chịu đau khổ…. Nhưng trên hết và cần thiết hơn cả là chúng ta được kêu gọi để yêu thương nhau và để cảm nghiệm và chia sẻ tình yêu và niềm vui của Đấng đã phục sinh. Alleluia!

                                                                                                                                                                                                                                                                          Trở về mục lục >>

 

š¶›

 

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_77)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

**********

Lời Tự Thú của một Người Chồng - Victor Stanley Basnayake (Malaysia)

“Vợ chồng tôi như chó với mèo.”

Góp gió thành bão. Chuyện nhỏ mà nhiều sẽ trở thành to, lời cay mà nhiều đủ nát tâm hồn. Tôi đã cầu xin Chúa giúp tôi chấm dứt cái tình trạng nầy. Một hôm, chúng tôi có nguy cơ lại "lấn chiếm," tôi tự bảo mình phải giữ sự yên lặng rồi sau đó tôi ôm lấy nàng và nói: "Anh yêu em." Hành động đó đã có tác dụng: bằng nhiều cách nàng tỏ ra hơi tiếc, và tôi cũng thế. Thiên Chúa từ bi đã ban sự thuận hòa một cách dễ dãi làm sao: Chỉ với ba tiếng: “Anh yêu em” ngắn ngủi.

Ðã từ lâu rồi tôi cố gặp gỡ Ðức Kitô nơi người khác, nhưng hầu hết là tôi nổi đóa với họ. Mỗi khi nói về người khác, dường như tôi chỉ thấy các khuyết điểm của họ, hầu như tôi không thể chịu được. Tôi đã cầu nguyện rất nhiều để thoát khỏi tình trạng đó. Rồi lần kia, tôi bỗng nẩy ra ý nghĩ: "Vì sao Ðức Giêsu lại chọn một cái chuồng bò để sinh ra nhỉ?" Những câu trả lời thông thường đại loại "vì Ðức Giêsu khiêm nhường" đã không làm tôi thỏa mãn. Rồi tôi đã được soi sáng để thấy rằng: vì đó là chỗ cư ngụ của Người, mọi người là đền thờ của Thiên Chúa. Thế mà tôi đã cả gan nói xấu đền thờ Thiên Chúa: Ðiều quan trọng là tôn thờ Chúa Giêsu, chứ đừng bận tâm về tình trạng của chuồng bò. Ba nhà đạo sĩ đã chẳng làm thế đó sao: Bây giờ tôi đã dễ dàng yêu mọi người vì biết rằng Chúa Giêsu sống trong họ. Xin ngợi khen Ngài.

"Nếu hạt giống mà không thối đi, thì nó không thể sinh bông trái.” Tôi bắt đầu hiểu rằng mình là hạt giống và tự hỏi một hạt giống đã phát triển và sinh bông trái bằng cách nào. Trước hết nó được gieo xuống, rồi phải chấp nhận nứt ra, phải hấp thụ nước và nắng ấm. Khi ấy và chỉ khi ấy nó mới có thể lớn lên thành cây và tiếp tục cần đến nước và ánh sáng để sinh quả. Tôi cũng thế. Tôi phải nứt ra cái vỏ tội lỗi của mình, mở lòng đón nhận ân sủng và tình yêu Thiên Chúa, chỉ khi ấy tôi mới có thể lớn lên và được biến đổi để sinh nhiều hoa quả. Chúa đã dạy tôi như thế.

Vốn là một người làm vườn, tôi đã có dịp quan sát một số cây lớn bị làm chết nghẹt. Ðó là những cây đại thụ tưởng chừng như bộ rễ của chúng không quan trọng. Nhưng bỗng nhiên bộ rễ lớn phình ra và rốt cuộc đã rút sự sống ra khỏi những cây này để cuối cùng chúng chết tiệt. Tôi cũng vậy. Nếu tôi dung dưỡng những thói xấu nơi mình, chẳng bao lâu sự sống của tôi sẽ bị nghẹt và tôi sẽ chết. Thường xuyên giải phóng mình ra khỏi những tôi nhẹ, nhờ các bí tích, để giữ mình trong tình trạng an toàn thật quan trọng biết bao: Tôi cố gắng đi xưng tội ít nhất một lần mỗi tháng để nhổ hết những tội nầy.

Có lần tôi chạy đến tòa giải tội để xưng một tội thiếu thành thật mà mình đã phạm, nhưng tôi đã trình bày một cách rất chung chung. Nghĩa là tôi đã không cởi mở trong việc xưng tội mình. Ðiều nầy làm tôi bất an mãi cho tới khi tôi dứt khoát xưng tội một cách đơn sơ cởi mở. Cần phải đơn sơ như một đứa trẻ để nói: "Con đã làm chuyện đó, con xin lỗi." Ôi tình yêu Thiên Chúa thật tràn trào trên chúng ta. Người ta cảm thấy rất tự do, rất sung sướng, và tâm hồn họ không còn dính bén tội đó nữa. Xin tạ ơn Chúa.

Mỗi khi muốn rót đầy một chai nước, tôi thấy không phải là một chuyện dễ, vì không khí bên trong chai sẽ tạo ra một sức đề kháng. Tôi cũng thế: Tôi muốn mình đầy tràn tình yêu và ân sủng Chúa nhưng tình yêu đối với các của cải thế gian và sự dễ dãi đối với chính mình... đã đề kháng lại. Càng sớm dốc sạch các thứ hão huyền nầy và những thú vui mau qua tôi càng sớm mở lòng ra được để đong đầy tình yêu và ân sủng Chúa. Hạnh phúc thật sự không nằm nơi của cải vật chất, nhưng nơi tình yêu của Thiên Chúa. Nếu tôi chiếm được Người là tôi đã chiếm được tất cả.

Tôi thường nói "đây là vợ của tôi,","con cái" "của tôi" tài sản "của tôi.. Của tôi, của tôi: tôi tự hỏi: Có thật đó là của mình? Và tôi nhận ra ngay rằng mình không hề là chủ. Tôi không có quyền trên họ. Vậy chứ tôi sở hữu cái gì? Chỉ có các bổn phận. Mọi sự đều thuộc về Thiên Chúa. Tôi chỉ là một người quản lý các tài sản của Người và vì thế tôi có những trách nhiệm, những bổn phận đối với các phần việc của mình... vợ con, và các của cải của tôi sẽ được điều đó khi chu toàn các bổn phận của mình. Người ta không chiếm hữu được gì vĩnh viễn dưới gầm trời này, chỉ có Thiên Chúa mới trường cửu. Hãy chiếm hữu Ngài:

Tại sao tôi vấp ngã? Vì:

1. Tôi xao nhãng cầu nguyện.
2. Tôi lấy hoạt động để thay cho cầu nguyện.
3. Tôi xem Ðức Kitô như một cái gì phụ thuộc.
4. Tôi hưởng thụ quá nhiều tiện nghi thế gian.
5. Tôi vẫn chưa làm chứng cùng với người khác.

Nếu như mọi thứ nơi tôi đều hoàn hảo thì chắc tôi là một người máy. (Còn tiếp)

 

                                                                                                                                                       

      Trở về mục lục >>

š¶›

DA VINCI CODE

VÀ NHỮNG TIẾNG NÓI TỪ VATICAN

Trần Duy Nhiên tổng hợp

Ngày 16-3-2005, trong một cuộc phỏng vấn của tờ nhật báo “Il Giornale” tại Milan, Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, Tổng Giám mục Genoa, nhấn mạnh rằng cuốn tiểu thuyết của Dan Brown, The Da Vinci Code, nhằm gạt bỏ Giáo Hội và lịch sử Giáo Hội bằng cách tung ra những điều bẩn thỉu phi lý.

Trước đó, chưa bao giờ một giới chức Công Giáo ở phẩm trật của ngài đã lên tiếng về cuốn sách nói trên. Có lẽ thấy rằng cuốn sách đó - một cuốn tiểu thuyết giải trí thuần túy, gây tò mò để câu khách - nêu những giả thuyết ‘buồn cuời’ quá về Chúa Kitô và về Giáo Hội, nên Tòa Thánh không muốn trở thành ‘buồn cười’ khi phải nói đi nói lại về cuốn sách ấy (và lại gián tiếp gây thêm tò mò, nghĩa là quảng cáo để tác giả và nhà xuất bản kiếm thêm lợi nhuận trên cuốn sách đó!) Tuy nhiên, quá nhiều người, kể cả một số tín hữu Công Giáo, bị tung hỏa mù; cho nên, ngoài việc mua sách để đóng góp thêm cho túi tiền của nhà xuất bản và tác giả, họ còn bị chới với trước những luận điệu ‘nói láo như thật.’ Trước thực tế đó, Đức Hồng Y buộc phải lên tiếng cảnh báo.

Ngài nói: “Ta có thể thấy cuốn sách này có mặt khắp nơi, và nguy cơ là có nhiều người đọc sách đó rồi nghĩ rằng những chuyện ‘cổ tích’ đó là chuyện thật. Tôi nghĩ rằng chúng ta có bổn phận phải làm rõ vấn đề để lột mặt nạ những lời dối trá bần tiện đó!”

Dan Brown bảo rằng Holy Graal không phải là cái Chén Thánh được Chúa Kitô dùng trong bữa Tiệc Ly, nghĩa là trong bữa ăn cuối cùng Ngài dùng với các tông đồ, nhưng đấy là dòng dõi con cháu của bản thân Ngài. Đối với Đức Hồng Y Bertone, ý tưởng này không gì khác hơn là một ‘suy nghĩ đồi bại’ (perversion): Giống như thể ta trở lại với những bài đả kích Giáo Hội và hàng giáo phẩm vào thập niên 1800.

Sở dĩ có cuộc phỏng vấn này, ấy là vì ngày hôm trước, 15-3-2005, ngài đã lên tiếng trên Radio Vatican để mạnh mẽ phê phán cuốn tiểu thuyết ấy. Tuy lời phát biểu của Đức Hồng Y không được xem như là tiếng nói chính thức của Tòa Thánh, nhưng thế giá và uy tín của ngài đủ đảm bảo cho chúng ta xem những nhận định hôm ấy phản ảnh lập trường của Giáo Hội. Quả thật, trước khi được bổ nhiệm Tổng Giám Mục Genoa, ĐHY Bertone từng là thư ký - nghĩa là nhân vật số hai - tại Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, cạnh vị chủ tịch là ĐHY Joseph Ratzinger, hiện nay là Giáo Hoàng Bênêđitô XVI. Ngài cũng đã từng được xem là một trong các hồng y có khả năng kế vị Đức Gioan Phaolô II.

Ngài nhận định rằng:

Lời dụ dỗ quan trọng hay tệ hại nhất, ấy là gợi ý rằng người ta không thể làm một người của thời đại nếu chưa đọc cuốn ‘Da Vinci Code.’ Từ đó, cái khẩu hiệu được tung ra trong các trường học, ấy là cần phải đọc cuốn sách này mới hiểu được lịch sử và thấy rõ mọi trò đánh tráo mà Giáo Hội đã thực hiện trong quá trình lịch sử. Đây quả là một sự kiện đau đớn và tàn bạo. Chúng tôi nhận thức được tốc độ mà sách ấy được phổ biến trong các trường học và vì thế chúng tôi đã đề ra một cách thức suy nghĩ và đối diện công khai và dứt khoát với hiện tượng này.”

Đức Hồng Y thẳng thắn nói rằng trong cuốn sách đó có nhiều ‘sai lạc.’ Ngài giải thích như sau: Cuốn sách khẳng định cái gọi là ‘xóa bỏ’ hình ảnh người nữ trong các tường thuật Phúc Âm và trong đời sống Giáo Hội. Không có gì sai cho bằng! ... Ta biết rằng trong Phúc Âm thì Đức Mẹ, gương mặt Người Nữ tiêu biểu, có một chỗ đứng trỗi vượt. Đức Mẹ, Mẹ Chúa Giêsu, cùng với nhóm người nữ trong các tường thuật Tân Ước, nghĩa là trong các sách Phúc Âm, có một đời sống thiêng liêng tương đương với Nhóm Mười Hai Tông Đồ. Ta cũng thấy nhắc đến các nữ trợ tá (mà tiếng Việt ngày nay dịch là ‘phó tế’) trong Giáo Hội tiên khởi: do đó, thật là sai lầm khi cần phải tìm lại một Maria Mađalêna ‘chịu chơi’ - không biết phải gọi thế nào cho đúng cách diễn tả của Dan Brown - mới tìm lại được sự hiện hiện của người nữ! Một yếu tố khác - yếu tố sai lạc nhất - ấy là phủ nhận cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu: các tường thuật Phúc Âm về cuộc Thương Khó của Đức Kitô là những tường thuật tỉ mỉ, rõ ràng, và trung thực đến độ Mel Gibson phải nói lên tiếng nói ‘hãi hùng nền tảng’ qua cuốn phim ‘Thương Khó’ (The Passion of Christ). Đấy không phải là tiếng ‘hãi hùng nền tảng’, mà là một mô tả chính xác, đúng như các tường thuật Phúc Âm. Cái chết của Đức Giêsu đã được chứng minh một cách không thể phủ nhận được, cũng như sự phục sinh của Ngài. Cuốn sách kia  (The Da Vinci Code) đầy dẫy những lời bịa đặt dối trá!”

 Thế như vì sao cuốn sách lại thành công như vậy? Trả lời cho câu hỏi này, Đức Hồng Y nói:

Tôi nghĩ rằng có một chiến lược đằng sau việc phổ biến cái lâu đài của những lời dối trá này, đặc biệt - không còn nghi ngờ gì nữa - là sau biến cố Năm Thánh. Chắc chắn là Giáo Hội, cùng với Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đã có một tác động mạnh đối với nhân loại hiện nay, và điều này đã làm cho nhiều người lo ngại. Chiến lược phát hành đã gây một phong trào xâm nhập thị trường rất rộng lớn, ngay cả tận những nhà sách Công giáo, và tôi đã phàn nàn vì có nhiều nhà sách Công giáo mua sách này hàng chồng, chỉ vì lý do lợi nhuận... Ngoài ra, còn có một sách lược nói khích: bạn chưa phải là một Kitô hữu trưởng thành nếu bạn chưa đọc cuốn sách ấy. Vì thế, đây là lời kêu gọi của tôi: Đừng đọc cuốn sách đó, và nhất là đừng mua cuốn sách đó!”

Radio Vatican hỏi:

- Theo nhà xã hội học Philip Jenkins, sự thành công của cuốn sách này xuất phát ở sự kiện là chủ nghĩa chống Công giáo là ‘định kiến cuối cùng mà người ta còn chấp nhận.’ Đức Hồng Y nghĩ thế nào?

Ngài trả lời:

- Đúng vậy! Có một định kiến chống Công Giáo. Tôi tự hỏi: nếu người ta viết một cuốn sách với đầy dẫy dối trá như thế về Đức Phật, Đức Mahomet, hoặc giả nếu người ta phát hành một cuốn sách bóp méo lịch sử về biến cố Shoah (cuộc diệt chủng của Hitler đối với người Do Thái), thì chuyện gì sẽ xảy ra? Thế mà người ta lại viết một cuốn tiểu thuyết bóp méo sự kiện lịch sử, hoặc nói xấu, hoặc bôi nhọ một nhân vật lịch sử có uy tín và thế giá trong lịch sử Giáo Hội, và lịch sử nhân loại!

Một năm sau, ngày 28-4-2006, trước sự kiện là cuốn Phim Da Vinci Code sắp được tung ra, Đức cha Angelo Amato, đương kim thư ký Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin thay Đức Hồng Y Bertone, đã kêu gọi mọi người tẩy chay cuốn phim đó.

Ngài tuyên bố: Tôi mong rằng anh chị em sẽ tẩy chay cuốn phim này bởi vì nó đầy dẫy “những lời nhục mạ, vu cáo, sai lầm lịch sử và thần học liên quan đến Chúa Giêsu, đến Phúc Âm và đến Giáo Hội”. Những xúc phạm này, nếu xảy ra đối với kinh Coran hay biến cố Shoah, thì sẽ gây ra một sự nổi dậy khắp nơi trên thế giới. Thế nhưng, vì nó nhắm đến Giáo Hội công giáo, nên không bị trừng phạt!”

Ngài cũng nói rằng: Đối với những trường hợp này, Kitô hữu nên nhạy cảm để phủ nhận những lời dối trá và bôi nhọ một cách vô tội vạ kia.” Và ngài cũng nhắc rằng năm 1988, phim “Cơn Cám Dỗ Cuối Cùng” (The Last Temptation of Christ) của Martin Scorsese, theo tiểu thuyết cùng tên của Nikos Kazantzakis, ‘đã bị tẩy chay một cách xứng đáng’ và đã thua lỗ mọi mặt, kể cả về mặt tài chánh.

Riêng Opus Dei thì không kêu gọi tẩy chay gì cả, có lẽ vì không muốn gián tiếp quảng cáo cho phim này như trường hợp phim ‘Cuộc Thương Khó Chúa Kitô’ (The Passion of Christ) của Mel Gibson. Tuy nhiên, Hội đã yêu cầu Hãng Sony nói rõ ở đầu phim rằng đây chỉ là một tác phẩm hư cấu (fiction). Cho đến giờ, Sony chưa trả lời yêu cầu trên.

Opus Dei lên tiếng như sau: Da Vinci Code bóp méo hình ảnh của Giáo Hội Công Giáo. Việc truyền bá cuốn sách cũng như cuốn phim là một cơ hội để Giáo Hội bộc lộ chân tính. Trong Thông Điệp Deus Caritas Est, (Thiên Chúa Là Tình yêu) Đức Bênêđitô XVI nhấn mạnh rằng bác ái là một nét chủ yếu của Giáo Hội: Như vậy, tình yêu chính là lối phục vụ mà Giáo Hội thực hiện để đáp ứng với những đau khổ và những nhu cầu, kể cả vật chất, của con người. Ngài cũng nhắc đi nhắc lại về Lòng Thương Xót Chúa và nếu ta muốn giải độc hữu hiệu thì phải trình bày gương mặt trung thực của Thiên Chúa và Con của Người.”

 

                                                                                                                                         Trở về mục lục >>

 

                                                                             š¶›

The Da Vinci Code

CƠN HỒNG THỦY ĐỊNH CUỐN TRÔI TÒA NHÀ GIÁO HỘI?!!!  

Trần Mỹ Duyệt

I. BIỂN BẰNG NỔI SÓNG

   Ngày 17 tháng 5 năm 2006, phim Da Vinci Code mang cùng tựa đề với cuốn tiểu thuyết của Dan Brown sẽ được trình chiếu tại Cannes, và sau đó được tung ra thị trường. Tại Hoa Kỳ những quảng cáo rầm rộ đã được thấy trên mọi nẻo đường, và ước tính có khoảng 10 triệu người sẽ đi xem phim này, một con số tương đương với người đã mua và đọc cuốn tiểu thuyết đó.

   Nội dung cuốn tiểu thuyết được tóm gọn lại như sau:

    Chúa Giêsu không sống đời độc thân như Kitô hữu trải qua hơn 2000 năm vẫn tin tưởng. Trên thực tế, Ngài đã có vợ, và người vợ ấy chính là Maria Mađalêna.

·       Trước khi tắt thở trên thập giá, Chúa Giêsu đã giao phó nhiệm vụ điều hành Giáo Hội của Ngài cho Maria Mađalêna.

·       Tông Đồ đoàn sau đó đã tìm cách giết Maria Mađalêna khiến nàng phải chạy trốn qua Pháp trong khi mang trong bụng đứa con gái của Chúa Giêsu và của nàng. Phêrô trong thời gian làm thủ lãnh Giáo Hội đã cố gắng loại bỏ địa vị của Maria Mađalêna và không bao giờ đề cập đến nàng vì muốn dành quyền độc tôn nam giới. 

·       Giáo Hội Công Giáo tìm mọi cách che đậy bí mật cuộc tình giữa Chúa Giêsu và Maria Mađalêna cũng như ý muốn của Chúa Giêsu khi trao quyền lãnh đạo Giáo Hội của mình cho Maria Mađalêna. Những người được trao cho nhiệm vụ tìm kiếm và thủ tiêu miêu duệ của Chúa Giêsu là tu hội Opus Dei, một tổ chức Công Giáo được Thánh Josemaria Escriva sáng lập năm 1928 tại Tây Ban Nha.

·       Người biết được những bí mật về thân thế và gia cảnh Chúa Giêsu cũng như cuộc tình giữa Ngài và Maria Mađalêna là Leonardo Da Vinci (1452-1519). Ông đã dấu bí mật này trong tác phẩm Bữa Tiệc Ly khi vẽ Thánh Gioan với hình dạng và ngón tay thon thả như đàn bà. Ông có ý ám chỉ rằng Gioan đấy là hiện thân của Maria Mađalêna. Ngoài ra, trong bữa Tiệc Ly hôm ấy Da Vinci không vẽ chén thánh, cũng ngầm ý rằng Maria Mađalêna chính là chén thánh, vì nàng đang mang trong dạ mình hạt máu là mầm sống của Chúa Giêsu.

   Để làm cho sống động và thêm phần hấp dẫn câu truyện, Dan Brown đã đưa vào cốt truyện những màn đấu trí, những pha rượt bắt, những mật mã và các lối giải mã, những thủ thuật của ngành gián điệp, và hàng loạt những hành động do trí tưởng tượng của ông. Nhất là đưa câu truyện vào những thời điểm và địa điểm có tích cách lịch sử như việc trở lại Công Giáo của Hoàng Đế Constantine, Công Đồng Nicarea năm 325, Tu Hội Opus Dei. Hoặc những tổ chức do ông tưởng tuợng như hội kín Priory of Sion nhằm bảo vệ sự thật về cuộc hôn nhân giữa Chúa Giêsu và Maria Mađalêna. 

   Thật ra, một cuốn tiểu thuyết viết về một cuộc tình mùi mẫn, một cuộc rượt bắt, hoặc giải thoát con tim nghẹt thở như thế, hoặc bất cứ một câu truyện tình nào khác, thì dù có hấp dẫn, mê ly, rùng rợn đến đâu đi nữa cũng chỉ được một số ít người đọc. Và đọc rồi cũng quăng bào sọt rác, hay để đâu đó trên tủ sách. Nó cũng chẳng được ai nhắc tới, hay tranh cãi, bởi đó chỉ là “tiểu thuyết,” mà ai cũng hiểu rằng tiểu thuyết là sản phẩm do trí tưởng tượng của tiểu thuyết gia.

   Nhưng cuốn tiểu thuyết Dan Vinci Code của Dan Brown đã không chỉ bao gồm những yếu tố tâm lý, tình cảm, xã hội, chính trị, hoặc những cảnh gợi cảm, ướt át của một chuyện tình. Nó cũng không chỉ bao gồm những pha rượt bắt, theo dõi, thủ tiêu, và những cuộc đấu trí nẩy lửa giữa các nhân vật trong câu truyện. Điểm hấp dẫn và thu hút nổi cộm ở tác phẩm và cuốn phim này là viết và diễn tả về một đời sống tình ái và cuộc đời của Giêsu Nazareth – Thiên Chúa Nhập Thể, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ Nhân Loại. Điểm được nhận ra rõ ràng nhất là vì Đức Giêsu đã thiết lập Giáo Hội, và sinh hoạt Giáo Hội này không chỉ giải thoát con người khỏi vòng u minh của nếp sống lần than vật chất, mà là đường đưa chúng ta về Thiên Đàng. Nó hoàn toàn trái ngược lại với quan niệm và lối sống tự nhiên của con người, của thế gian, vốn hằng bị những đa mê, dục vọng, lối sống buông thả, Satan và đồ đệ của chúng đã bủa vây và mê hoặc. Cuộc chiến âm thầm nhưng rất sôi động giữa “sống và chết,” giữa “thiện và ác” ấy không ngừng lại ở cái chết của Chúa Giêsu trên thập tự, mà nó vẫn kéo dài cho đến ngày tận thế, lúc âm ỷ, lúc bùng nổ. Tụ điểm quyền lực mà Satan và thế giới đen tối căm thù, ghen tỵ, và tìm cách tấn công là Giáo Hội của Chúa Kitô – được gán cho cái tên là trung tâm quyền lực Vatican - và các tín hữu Công Giáo.

   Chính ở điểm này, mà tác phẩm Da Vinci Code được nhiều người “tò mò” tìm đọc, cũng như phim này sẽ được nhiều người “hăm hở” đón xem. Giáo Hội Công Giáo, hoặc các giáo phái khác có muốn ngăn cản thì cũng không được, vì:

    Tôi cần phải đọc tiểu thuyết này để hiểu xem Giêsu đã yêu Maria Mađalêna như thế nào. Họ tỏ tình ra sao? Sinh hoạt tình ái của họ làm sao? Đứa con gái trong bụng Maria Mađalêna ấy tên gì và sau này ra sao? Và hiện nay hậu duệ của Giêsu và Maria Mađalêna ở đâu, và có những ai?

·       Tôi phải đi xem phim để nhìn xem cách thức tỏ tình, những màn âu yếm, ân ái và cách thức cư xử của Giêsu đối với Maria Mađalêna như thế nào? Giêsu nói gì với nàng trên thập giá. Nàng phải lao đao, chạy trốn tập đoàn Tông Đồ tìm cách giết hại như thế nào?

·       Nhưng nhất là, tôi muốn đọc, và xem để hiểu tại sao Vatican, tại sao người Công Giáo lại yêu, lại mến, lại tôn thờ một con người trần tục và không khác gì chúng ta vậy?

   II. CƠN HỒNG THỦY THỜI ĐẠI

   Cơn sóng dữ Da Vinci Code đã trở thành một trận hồng thủy nguy hiểm với sức cuốn trôi nhiều sinh linh qua cái nhìn tâm linh và của Giáo Hội Công Giáo. Nó càng trở thành hung hãn hơn khi dựa vào kỹ thuật tân kỳ của ngành điện ảnh, sự khai thác của báo chí và truyền thông; đặc biệt là dựa vào quyền tự do ngôn luận của những quốc gia tôn thờ tự do cách quá trớn. Nó còn được sự tiếp tay của làn sóng duy vật và hưởng thụ.

   Ba cứ điểm hay tiền đồn bảo vệ niềm tin và sinh hoạt Giáo Hội Công Giáo đã và đang bị cơn hồng thủy này quét qua, đó là: 1) Niềm tin nơi Đức Kitô. 2) Vai trò ơn gọi trong Giáo Hội. 3) Nữ quyền trong Giáo Hội. Đây là 3 điểm nóng đang làm cho thế giới duy vật, vô thần, và vật chất ngày nay không thể hiểu và cũng không muốn hiểu. Bởi vì nó hoàn toàn xa lạ với trí khôn, và suy tư của con người thời đại. Ba đợt sóng ngầm này mới là những sức mạnh khiến có thể làm sụp đổ tòa nhà Giáo Hội. Và chắc chắn ở trong ba đợt sóng ngầm ấy có mặt của Satan và bè lũ chúng.

   1. Niềm tin nơi Đức KitôTính độc hại và nguy hiểm của cuốn tiểu thuyết Da Vinci Code là ở chỗ nhằm triệt tiêu và phá bỏ niềm tin vào Đức Kitô. Đây là điều mà tác giả của nó đã cố gắng thuyết phục độc giả bằng cách trưng dẫn những bằng cớ cho hay Đức Giêsu cũng chỉ là một thanh niên như mọi thanh niên, là một người đàn ông như mọi đàn ông. Và qua con người tự nhiên ấy, Giêsu cũng có người yêu, cũng có vợ và trước khi chết vợ cũng đang mang thai. Theo tác giả của cuốn tiểu thuyết này, thì cho đến Công Đồng Nicea năm 325, dưới sức ép của Constantine, các nghị phụ mới thừa nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.

   Cái thâm hiểm của vấn đề là tác giả không hô hào và bắt buộc một ai bỏ đạo, chối bỏ tin nhận Đức Kitô là Chúa Cứu Thế, mà chỉ là đặt lại vấn đề cho có tính lịch sử, hợp với suy luận và sự thật. Mà tính lịch sử, suy luận và sự thật lại bị tác giả quảng diễn sai lạc. Chúa Giêsu đã có vợ và con. Vậy thì việc Ngài chết trên thập giá có phải là một sự thật không? Maria Mađalêna có bằng lòng cho Chúa chết như vậy không? Chết để làm gì? Chết cho ai? Làm sao nàng lại có thể để cho Chúa Giêsu xẻ thịt mình và lấy máu mình nuôi sống nhân loại?

   Tóm lại, nếu đó chỉ là những điều mà Giáo Hội Công Giáo phỉnh gạt, che dấu, và bôi bác thì “có ích gì cho niềm tin” của con người. Và con người có buộc phải tin nhận một điều mà xưa rầy vẫn được coi là thánh thiện, là cần thiết cho phần rỗi và ơn cứu độ của con người. Ở đây Dan Brown đã tỏ ra bén nhậy và bắt kịp với những thao thức của con người thời đại, một nhân loại đang bị hoang mang và lo lắng. Một nhân loại đang bị giằng co với ảnh hưởng giữa ảnh hưởng của nền văn hóa sự chết và niềm tin vào Đức Kitô tử giá và phục sinh.

   2. Ơn gọi tu trì và tận hiến: Qua việc chứng tỏ Chúa Giêsu không phải là một người độc thân, vậy thì những môn đệ của Ngài có cần phải sống đời độc thân như hiện nay không? Nếu có thì sao? Và nếu không thì sao? Có lẽ tác giả muốn nhấn mạnh vào vết đau nhức nhối của Giáo Hội, đặc biệt là Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ qua biến cố khủng hoảng tình dục nơi một số giáo phẩm, linh mục và tu sĩ.

   Tác giả cũng như muốn xoáy vào bản năng dục vọng tự nhiên, khi thức tỉnh những đòi hỏi cuộc sống đồng tính nơi hàng giáo sỹ và tu sĩ. Ngoài ra, nếu đời sống độc thân không là một điều cần thiết nữa, thì đã đến lúc Giáo Hội phải đặt lại cái nhìn về đời sống và giá trị ơn gọi tu trì.

   Các đòi hỏi gần đây của những linh mục ủng hộ đồng tính và hôn nhân đồng tính, cũng như những người đồng tính muốn làm linh mục. Và đặc biệt là sự yếu đuối của một số giám mục, linh mục và tu sĩ đã khiến cho điều mà Dan Brown suy diễn trở thành dễ chấp nhận.

   3. Nữ quyền trong Giáo Hội: Ngoài việc tấn công trực diện vào thành trì đức tin và ơn gọi của Giáo Hội, tác giả Dan Brown còn nhắm tới một đề tài hết sức bén nhậy mà có lẽ tác giả cho là Giáo Hội không muốn trực diện, đó là sự bình quyền nam nữ. Theo tác giả, Thánh Phêrô trong những năm đầu của Giáo Hội đã cố gắng không đả động gì đến Maria Mađalêna vì một mục đích độc tôn vai trò của nam giới. Nhưng ngày nay thì cơn sốt bình quyền và bình đẳng trong phẩm trật Giáo Hội đã khiến Giáo Hội hết sức khó xử.

   Nữ quyền trong Giáo Hội. Đây là điều mà có lẽ Dan Brown muốn khai thác triệt để hầu tạo sự chia rẽ trong Giáo Hội, vì hiện nay cao trào nữ quyền đang là điểm nóng không những cho Giáo Hội Công Giáo, mà các giáo phái Tin Lành, và Anh Giáo nữa. Riêng Anh Giáo thì đã cho phép nữ giới làm linh mục và giám mục. Sự khó khăn trong bước đường hợp nhất Kitô Giáo giữa Anh Giáo và Công Giáo gặp phải ngãng trở ở điểm này. Và có lẽ vì thế, Dan Brown muốn nhắc đến nữ quyền trong Giáo Hội trong cuốn tiểu thuyết của ông hầu tạo sự chia rẽ và thu hút độc giả phái nữ. Tưởng cũng nên biết rằng vấn đề linh mục lấy vợ và nữ giới làm linh mục không phải là câu hỏi mới mẻ đối với Giáo Hội Công Giáo, và vấn đề này cũng không phải là không đạt được sự hậu thuẫn của nhiều linh mục và cả giám mục nữa.

   Tóm lại, nữ quyền, linh mục có vợ, và Thiên Tính của Đức Kitô là ba điểm nổi bật mà Dan Brown qua cuốn tiểu thuyết của ông nhắm vào Giáo Hội Công Giáo. Chê bai, đả phá, hay thách thức. Dầu sao đây là những điểm mà Giáo Hội Công Giáo không bao giờ nhượng bộ. Nó đã được Đức Gioan Phaolô II kiên trì bảo vệ qua nhiều sóng gió. Nay thì qua Da Vinci Code, Dan Brown lại cố tình tạo ra một cơn hồng thủy nhằm cuốn trôi toà nhà Giáo Hội.

   III. PHÊRÔ CON LÀ ĐÁ

   Nhưng có lẽ Dan Brown khi viết cuốn tiểu thuyết này là chỉ có ý nhắm vào một đối thủ nặng ký nhất, nhưng lại hiền từ và dễ tha thứ nhất để tạo sự tò mò và gây hấp dẫn cho độc giả hầu thu nhập nhiều. Ông cũng thừa biết rằng một cuốn tiểu thuyết của ông, chứ trăm cuốn tiểu thuyết như tác phẩm của ông thì cũng không làm lung lay hay sụp đổ tòa nhà Giáo Hội được. Bởi vì tòa nhà này là chính thân mình mầu nhiệm của Đức Kitô. Ngài đã xây nó trên đá tảng Phêrô như lời Ngài đã nói với ông: “Phần thầy, thầy bảo với anh, anh là Đá, và trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh Thầy, mà dù các cửa hỏa ngục dấy lên cũng không thắng nổi.” (Mt 16:18).

   Thật vậy, ngay những ngày đầu khi Giáo Hội Chúa còn sơ khai, Saolô sau này là Phaolô cũng đã thẳng tay đàn áp và bắt bớ. Tiếp tới là hơn 300 năm đầu Giáo Hội đã trải qua bao sóng gió, bắt bớ và thử thách. Bản thân của Phêrô và Phaolô cũng đã bị hành quyết vì niềm tin và vì Giáo Hội.

   Trải qua các thời đại, và gần đây là những chủ thuyết duy tân, duy lý, duy vật, vô thần, hiện sinh, và ghê gớm nhất là chủ thuyết Công Sản với bao khí giới, quyền lực trong tay mà vẫn không dập tắt được niềm tin của các tín hữu. Rồi phong trào ly thân, ly dị, đồng tính và hôn nhân đồng tính, chủ thuyết tự do chọn lựa của nữ giới với hàng triệu triệu vụ phá thai hằng năm tuy có làm Giáo Hội bị thử thách nhưng vẫn không làm sụp đổ tòa nhà Giáo Hội. Khi cuốn tiểu thuyết của Dan Brown tung ra thị trường, một cuộc khảo cứu tổng quát tại Hoa Kỳ và Gia Nã Đại đã cho thấy kết quả những người tin rằng “Chúa Giêsu đã chết trên thập giá trước khi sống lại và tiến vào cuộc sống vĩnh hằng” như sau:

   Hoa Kỳ:  78% tin -  13% không tin

   Gia Nã Đại:  73% tin - 17% không tin

   Riêng đối với 17% những người Gia Nã Đại không tin trên còn cho rằng việc Chúa Giêsu chịu chết là huyền hoặc, và việc Chúa Giêsu lập gia đình với Maria Mađalêna như được nói đến trong cuốn tiểu thuyết của Dan Brown là có thật.

      Thật ra, cũng giống như bất cứ tư tưởng hay triết thuyết nào được tung ra thì cũng có người đón nhận và có người không đón nhận. Việc đón nhận hay không tùy vào sự hiểu biết, ý thức và tâm lý mỗi người. Hậu quả của cơn hồng thủy Da Vinci Code chắc chắn rồi ra cũng kéo theo một số rác rến và những ngôi nhà xập xệ kiểu “nhà xây trên cát”, mà Chúa Giêsu đã có lần đề cập đến. Đó là những kẻ yếu lòng tin hoặc không tin nhận Chúa. Những Kitô hữu sống đạo cách ươn ái và trễ nải. Những người đến nhà thờ vì bắt buộc. Những kẻ “vừa làm tôi Thiên Chúa lại vừa làm tôi tiền bạc” (Mt 6:24). Và những kẻ mà miệng thì “lậy Chúa, mà lòng thì xa” Chúa. Nhất là Giáo Hội lâu lâu cũng cần được thanh tẩy, và luyện lọc.

   IV. KITÔ HỮU HỌC ĐƯỢC GÌ NƠI BIẾN CỐ NÀY?

   Không thể coi thường biến cố này và cũng không quá bi quan vì một vài thiệt hại nhỏ có thể xẩy ra do ảnh hưởng của cuốn tiểu thuyết cũng như cuốn phim ấy. Nhưng điều căn bản là mỗi Kitô hữu chúng ta học được gì qua biến cố này?

   Không thể để trách nhiệm cho Giáo Hội, hoặc những giáo chức trong Giáo Hội lo, mà là mỗi Kitô hữu chúng ta phải có trách nhiệm đối phó với những trào lưu tư tưởng và lý thuyết sai lầm như thế. Bởi vì Giáo Hội là chính chúng ta. Mỗi Kitô hữu chúng ta là Giáo Hội thu nhỏ, là phần tử không thể thiếu trong Giáo Hội. Và bổn phận chúng ta là:

·       Học hỏi Giáo Lý, Kinh Thánhnhững tư tưởng đạo lý hầu giúp chúng ta vững niềm tin. Không thể chỉ dựa vào những lời của linh mục chỉ bảo, hoặc giám mục giảng giải, mà chúng ta phải có trách nhiệm đào sâu Giáo Lý thánh thiện cho chính mình.

·       Cầu nguyện và sống đời tâm linh đạt tới mức trưởng thành. Lúa và cỏ lùng đều mọc chung trong một thửa ruộng. Chiên và dê cùng lẫn lộn. Đó là mầu nhiệm sự sống, mầu nhiệm cứu độ. Thiên Chúa đã có quan phòng của Ngài trong cuộc sống mỗi chúng ta, và cần thiết là chúng ta phải vượt qua được những thách đố của cuộc sống. Đức tin thực hành mới là đức tin đem lại sự sống đời đời cho chúng ta: “Đức tin không thực hành là đức tin chết” (Giacôbê 2:17). Mà Đức Tin thực hành là Đức Tin thắng phải thắng vượt thử thách. Chính Chúa Giêsu cũng đã nói: “ Ai bền đỗ đến cùng mới được cứu rỗi” (Mt 10:22) 

                                                                                                                                      

 Trở về mục lục >>

                                                                             š¶›

The Da Vinci Code - SỰ lỪa dỐi vĩ đẠi

 

Sơ lưỢC cuỐn chuyỆn Da Vinci Code

 Đỗ Như Điện

            Đây là cuốn tiểu thuyết thuộc loại trinh thám, nội dung mang luận đề về tôn giáo. Tác giả sử dụng tất cả những kỹ thuật hiện đại gặp trong truyện trinh thám đương thời như các thiết bị điện tử tinh vi: điện thọai di động, máy chuyển hình, hệ thống nghe lén, máy điện toán tối tân, mã số, ám hiệu… mà các cơ quan tình báo quốc tế dùng. Những cuộc rượt đuổi săn lùng bằng xe hơi, máy bay, với những pha đấu trí nghẹt thở giữa chết và sống trong gang tấc. Tóm lại các yếu tố kích thích sự hiếu kỳ được vận dụng tối đa làm cho người đọc say mê.

 Chuyện hoàn toàn hư cấu, nhưng phần hư cấu được phối hợp với nhiều sự kiện có thật làm phương tiện chuyên chở. Những bí ẩn được các nhà chuyên môn lỗi lạc, kiến thức uyên bác, lý luận sắc bén chặt chẽ đầy tính thuyết phục giải thích tường tận, khiến người đọc có cảm tưởng như tất cả đều là sự thật. Sự thật tác giả muốn người đọc tin là một bí mật vĩ đại, mà nếu bí mật ấy được phơi bày ra ánh sáng thì sẽ làm đảo lộn hoàn toàn niềm tin Kitô Giáo! Bí mật ấy chính là huyết thống của Chúa Giêsu lưu truyền lại, vẫn được bảo tồn suốt 2000 năm qua. Dan Brown dàn dựng câu chuyện để chứng minh rằng Chúa Giêsu là một người bình thường như những người đàn ông Do Thái khác vào thời điểm ấy, còn Mary Magdalene là một môn đệ được Chúa yêu quí, bà không phải là cô gái điếm, cũng không phải là người phụ nữ bị bắt quả tang vì tôi ngoại tình, cũng không phải là Mary chị Lazaro, bà cũng thuộc dòng tộc vương giả. Chúa Giêsu và Mary Magdalene là vợ chồng đúng nghĩa. Khi Chúa Giêsu bị treo trên thập gía, thì Mary Magdalene đang mang trong mình dòng máu của Chúa; bà được Chúa Giêsu ủy thác việc chăm lo cho Hội Thánh của Ngài. Nhưng việc ấy không được tông đồ đòan chấp nhận. Mặt khác Kitô Giáo trong giai đoạn đầu bị cả người Do Thái và La Mã truy bức, nên bà đã phải trốn sang Pháp sống ẩn dật với cộng đồng người Do Thái lưu lạc tại đây, bà hạ sanh con gái đặt tên là Sarah, từ đó những thế hệ vương giả nối tiếp nhau ở Pháp.

 Đầu thề kỷ thứ tư Constantine theo Kitô Giáo, chấm dứt ba thế kỷ bách hại, nhờ đó Hội Thánh phát triển mạnh. Nhằm xóa bỏ dấu tích cuộc đời thật của Chúa Giêsu, Constantine ra lệnh tịch thu và tiêu hủy tất cả những sách Phúc Âm, trong ấy có cả phúc âm do Mary Magdalene viết, và những sách khác viết về Chúa Giêsu, rồi cho viết lại sách Tân Ước như ngày nay, trong ấy vai trò của người nữ và nữ tính bị coi thường.

 Dòng dõi của Mary Magdalene nối tiếp qua nhiều thế hệ, nhưng luôn luôn bị truy lùng và sát hại bởi Kitô Giáo. Năm 1099 một hội kín (Priory of Sion =Prieure de Sion) được thành lập để bảo vệ bí mật. Từ năm 1510-1519, Leonardo da Vinci làm thủ lãnh tối cao hội kín Sion; là người có trách nhiệm bảo vệ bí mật, ông đã vẽ bức họa Bữa Tiệc Ly trong nhà ăn của dòng Santa Maria ở Milan, Italy. Trên bức họa, ông cố ý vẽ người ngồi bên phải Chúa, mà ta được biết là Gioan Thánh Sử, nhưng ông vẽ mái tóc hung dài, cánh tay mềm mại, gương mặt rõ nét nữ tính. Áo trong xanh, áo ngòai đỏ, cổ đeo nữ trang. Lại có một bàn tay ai đó tựa lưỡi dao kề cổ như ra dấu muốn triệt hạ. Chúa Giêsu thì mặc áo trong đỏ, áo ngòai xanh. Qua bức họa này Dan Brown cho rằng Da Vinci cố tình gửi một thông điệp bằng mật mã cho hậu thế về sự thật vẫn được che giấu, người trong bức họa ấy không phải là Gioan, mà chính là Mary Magdalene. Nay đã đến lúc phải phơi bày ra ánh sáng.

 Cốt chuyện

 Nhân vật Robert Langdon, giáo sư môn biểu tượng học (symbology) thuộc đại học Havard sang thuyết trình ở Paris. Quá nửa đêm sau buổi thuyết trình, ông được cảnh sát Pháp mời đến viện bảng tàng Louvre giúp giải mã một vụ án, nhưng thật ra là để cầm chân và thẩm vấn Langdon, vì ông bị coi là nghi can liên hệ đến cái chết bí ần của Jacques Saunière, quản lý bảo tàng viện danh tiếng này. Trước lúc chết Saunière đã viết mấy dòng mật mã trên nền nhà, ghi chú rằng “hãy đi tìm Robert Langdon.” Cảnh sát cho Langdon xem bức ảnh chụp tại hiện trường, Saunière trần truồng nằm trong một vòng tròn, tay chân giang thẳng giống mô hình tỷ lệ kích thước con người (Vitruvian man) một công trình nghiên cứu của Leonardo da Vinci! Khi ấy người cháu ruột của Saunière là Sophie Neveu, một chuyên viên giải mã của sở cảnh sát Pháp, biết chắc Langdon không phải là thủ phạm giết ông cô, nên đã kịp thời  tìm cách qua mặt  đại úy cảnh sát Bezu Fache, giúp Langdon thoát đi. Trước khi ra khỏi bảo tàng viện, Neveu và Langdon đã giải được mật mã và tìm được chiếc chìa khóa Saunière muốn trao lại cho cô để mở chiếc hộp đang gửi tại chi nhánh ngân hàng của Thụy Sĩ ở Paris. Trong hộp Saunière cất giữ bí mật, đó là viên đá đỉnh vòm chứa đựng mật mã, nếu giải được mật mã, sẽ biết nơi chôn dấu chén thánh. (Trong ngành kiến trúc cổ của Hy Lạp và La Mã, các cửa vòng cung, và vòm vuông hay tròn đều cần một viên đá nằm giữa chịu đựng sức ép từ mọi phía, gọi là viên đá đỉnh vòm (keystone). Đã 10 năm qua Neveu khước từ mọi liên lạc với Saunière, kể từ ngày cô vô tình chứng kiến nghi lễ tôn vinh nữ tính của hội kín tổ chức dười một căn hầm bí mật, mà ông cô làm thủ lãnh. 

 Từ đó cuộc rượt đuổi vô cùng hào hứng diễn ra. Langdon và Neveu luôn đi trước cảnh sát một bước. Họ đã vào được ngân hàng, lấy được chiếc hộp bí mật. Chủ ngân hàng là Andre Vernet, cũng là bạn của Saunière đã giúp hai người trốn khỏi nhà băng bằng xe chở hàng. Vernet đã tìm cách đọat lại chiếc hộp bí mật, nhưng thất bại. Bị cảnh sát bủa vây và bám sát, Langdon và Neveu tìm đến lâu đài Château Villette, nơi Leigh Teabing, một giáo sư sử học Hoàng Gia Anh rất giàu có đang sống ở đó. Teabing bị cố tật chân nên phải đi nạng. Langdon quen Teabing từ lâu, biết rằng ông đã bỏ ra nhiều năm nghiên cứu về chén thánh, hy vọng sẽ hợp tác giải mã những bí mật trong viên đá đỉnh vòm. Langdon và Neveu không ngờ đó là dịp may hiếm có, vì Teabing đã tìm kiếm viên đá ấy từ lâu. Teabing giả vờ đón Langdon và Neveu, nhưng thật ra muốn để Langdon giải mã, rồi sau đó dàn cảnh để cướp mật mã ấy.

 Một mặt Teabing liên lạc với giám mục Manuel Aringarosa thuộc tu hội Opus Dei (Công trình của Chúa), người đang có tham vọng lớn, trụ sở chính tại số nhà 234 Lexinton, New York. Teabing biết rằng Aringarosa không còn được Giáo Hòang tín cẩn, nên muốn tạo áp lực với Vatican, đã đồng ý mua bí mật từ Teabing với gía 20 triệu Euro. Nếu nắm được bí mật chén thánh trong tay thì Vatican sẽ phải thỏa mãn các yêu sách của ông.

 Tu sĩ Silas là một kẻ mồ côi, bụi đời và tội phạm được Aringarosa cứu sống, đưa vào tu hội Opus Dei. Aringarosa bảo Silas phải hành động theo kế họach của một ông thầy trong bóng tối đầy uy quyền, hắn nghe lệnh qua điện thọai mà không bao giờ biết mặt. Silas được lệnh tìm viên đá đỉnh vòm do người thầy bí mật cung cấp tin tức. Sau khi đã giết cả 4 người thủ lãnh hội kín Sion người cuối cùng là Jacques Saunière. Cả bốn đều tiết lộ viên đá ấy cất ở dưới nền nhà thờ Saint Sulpice, Paris. Hắn đã tới nhà thờ Saint Sulpice, giết nữ tu Santriene, đào nơi cất giữ, theo sự mô tả của các thủ lãnh hội kín, nhưng hắn đã bị lừa.

 Trong lúc Teabing, Langdon, va Neveu đang họp nhau giải mã thì Silas đột nhập lâu đài Villette uy hiếp để cướp viên đá chứa mật mã, nhưng nhờ Remy, quản lý của Teabing can thiệp bắt y trói lại, rồi tất cả năm người dùng máy bay riêng của Teabing bay sang England theo dấu chỉ của mật mã, trước sự rượt đuổi thất bại của cảnh sát Pháp.

 Tại London, trong khu hầm mộ, Teabing, Langdon va Neveu đang cố gắng giải mã giấu trong những vần thơ trên chiếc hộp đựng viên đá mật mã.  Remy canh chừng Silas đang bị trói nằm trong ngăn cuối của chiếc xe limousine sang trọng của Teabing. Remy cho Silas biết rằng hắn cũng làm việc cho ông thầy bí mật, nên cần hắn hợp tác để cướp viên đá mật mã. Thế là Remy và Silas đã dùng súng uy hiếp ba người và cướp viên đá mật mã từ tay Teabing trước sự kinh ngạc của Langdon và Neveu. Remy trói Teabing đẩy lên khoang sau chiếc xe, rồi cùng Silas lái xe đi, để Langdon và Neveu lại trong khu hầm mộ. Teabing  nằm ở khoang kín cuối xe, thật ra không bị Remy trói. Dùng điện thọai ra lệnh cho Silas trao viên đá mật mã cho Remy, rồi bảo Remy thả Silas xuồng trụ sở Opus Dei ở London. Teabing chính là ông thầy bí ẩn mà Silas vẫn nhận lệnh mà không hay biết.

 Remy tin lời của Teabing đã hứa sẽ chia cho hắn 1/3 số tiền 20 triệu Euro khi tìm được bí mật để bán cho giám mục Aringarosa. Đậu xe trong công viên lúc trời mưa tầm tã, chỉ còn hai thầy trò trong xe, Teabing chúc mừng Remy, rồi mở chai rựơu cognac uống, đưa cho Remy cùng uống, không ngờ trong rượu đã có chất độc. Remy đã kết liễu cuộc đời, ôm theo giấc mơ được sống đế vương nhờ số tiền bán bí mật mà y đã tận tụy phục vụ Teabing trong bao năm qua. Rồi Teabing báo cho cảnh sát biết chỗ cư ngụ Silas.

 Giải quyết xong hai tên đầy tớ, Teabing theo chỉ dẫn mật mã tìm đến nghĩa trang Westminster Abbey ở London, nơi an nghỉ của trên 3.000 người, trong ấy có lăng mộ của Isaac Newton, người cũng đã một thời làm thủ lãnh hội kín Sion, trên mộ có hình quả cầu mà mật mã nói đến. Tại đây Langdon và Neveu vui mừng khi gặp lại Teabing. Nhưng Teabing đã dùng súng bắt Neveu làm con tin, buộc Langdon giải mật mã trong viên đá. Đến lúc ấy Teabing đã nói ra tất cả sự thật về cái chết bí mật của gia đình cô 18 năm về trước, mà cô chỉ nghe đến một tai nạn auto mơ hồ. Thật ra đó là cuộc ám sát rồi đẩy xe xuống giòng sông. Ông cô là người thủ lãnh tối cao của hội kín Sion, có bổn phận phơi bầy sự thật về huyết thống của Mary Magdalene, nhưng ông cô đã bị Vatican mua chuộc và de dọa, nên đã phản bội điều mong đợi của hội kín Sion, nên bị giết.

Đứng trước một quyết định khó khăn và nguy hiểm, Langdon muốn cứu Neveu; khi cầm trong tay viên đá mật mã hình lăng trụ, ở trong có một ống thủy tinh chứa dấm, nếu bị vỡ chất dấm sẽ phá hủy những mật mã cuộn quanh lọ dấm ấy; và sự bí mật huyết thống sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi; mơ ước của Leigh Teabing biến thành mây khói. Bằng một hành động bất ngờ, Langdon tung viên đá mật mã thật cao lên không gian. Teabing biết rằng nếu nó rơi xuống nền xi măng thì chắc chắn sẽ vỡ tan tành, nên vội nhòai người chụp bắt viên đá, vì thân hình nặng nề, lại đi nạng nên đã té nhào, và khầu súng đã văng khỏi tay. Sophie Neveu kịp thời chụp lấy khẩu súng quay lại uy hiếp Teabing, đúng lúc cảnh sát cũng vừa tới.

Nhờ khám phá được những bí mật trong lâu đài Villette, cảnh sát Pháp biết rằng chính Leigh Teabing là người chủ mưu trong cái chết của Saunière và ba người khác. Remy đã giúp Teabing thiết lập một hệ thống nghe lén hết sức tinh vi để thu thập thông tin của rất nhiều nhân vật tiếng tăm tại Pháp. Nên cảnh sát hủy bỏ lệnh truy nã Langdon và Neveu, nên hai người được tự do tiếp tục cuộc tìm kiếm bí mật. Lọ dấm trong viên đá đã vỡ, chữ APPLE hiện ra.  Đó là biểu tượng sự sa ngã của Eva - Tội Nguyên Tổ. Cũng là nguyên do việc tôn thờ nữ tính đã bị coi thường.

 Tiếp tục giải mã các câu thơ đã đọc được từ chiềc hộp đựng viên đá đỉnh vòm, hai người tìm đến nhà nguyện Rosslyn cổ kính ở gần Edingburg, Scotland. Nhà nguyện này do các hiệp sĩ đền thờ (Knights Templar) xây năm 1446. Lối kiến trúc, địa thế và phương hướng chứa nhiều bí ẩn. Nhiều người tin rằng chén thánh và hài cốt của Mary Magdalene chôn dấu ở đây.

 Khi bước vào căn phòng riêng của bà Marie Chauvel, người quản ly nhà nguyện này, Neveu nhìn thấy bức hình ông nội cô trên bàn. Thì ra Marie Chauvel chính là bà nội của cô. Sophie Neveu chính là huyết thống đang bị truy lùng. 18 năm trước cha mẹ và anh em cô đã bị giết, ông cô đã dàn cảnh để phân tán gia đình, Sophie sống ở Pháp, còn bà và em trai cô đã bí mật đến ở trong ngôi nhà nguyện này. Giờ đây họ vui mừng trong cảnh sum họp, nhưng tất cả khóc thương Saunière đã bị giết.

 

 

                                                                                                                    

DAN BROWN ĐÃ BÓP MÉO LỊCH SỬ

   Hoàng đế Constantine

   Trong The Da Vinci Code (DVC), Dan Brown thuyết phục người đọc rằng Constantine đã dùng Kitô Giáo như thế lực chính trị để bành trướng ảnh hưởng của mình, và đã thực hiện nhiều việc, tóm tắt những việc có ảnh hưởng lớn như sau: Sửa lại sách Phúc Âm cho phù hợp với mục đích hủy bỏ thờ nữ thần trong đế quốc Roma; đổi ngày Thứ Bảy ra ngày Chúa Nhật; triệu tập Công Đồng Nicea để tôn vinh Đức Kitô là Thiên Chúa, mà trước đó chỉ coi Ngài là người phàm.

   Việc lợi dụng tôn giáo vào ‎mưu đồ chính trị thì ở thời đại nào và nơi đâu cũng có thể xảy ra. Lợi dụng được hay không, và kết quả tốt xấu ra sao lại là vấn đề khác. Chúng ta hãy dựa vào lịch sử để xem xét những sự kiện vừa nêu trên.

   Trường hợp Constantine theo Kitô Giáo: Cuối thế kỷ thứ III, đế quốc Roma có những xáo trộn nội bộ vì tranh giành ngôi báu, năm 306 Constantine được tôn làm vua, lúc ấy ông có thế lực ở phía bắc gồm những phần lãnh thổ nay là Anh, Pháp, Áo, Thụy Sĩ, một phần nước Đức. Năm 312 ông đem quân vượt dẫy núi Alpes nhắm hướng Roma đánh xuống, chiếm được các thành Turin, Milan, Corona bắc Ý. Khi đến cầu Milvian, trên sông Tiber, Constantine gặp sức kháng cự mãnh liệt của đạo quân của hòang đế Maxentius có quân số lơn hơn. Tương truyền rằng trong lúc bối rối, ông cầu khẩn danh Chúa của Kitô Giáo, ông nhìn thấy vầng sáng hình thập tự trên bầu trời, và hàng chữ Hy Lạp “conquer by this – cứ dấu này thì sẽ thắng trận”. Ông phân vân suy nghĩ, rồi trong giấc chiêm bao, ông lại thấy hai mẫu tự Hy Lạp X (chi) và P(rho) chồng lên nhau. Hỏi các quân sư, họ giải thích đó là chữ viết tắt tên của Đức Giêsu Kitô, Chúa của Kitô Giáo. Tin vào điềm lạ đó, ông cho vẽ dấu thập tự làm hiệu cờ của quân đội, rồi sáng ngày 28-10-312 Constantine đem đại quân xung trận, vượt qua cầu Milvian, và đã thắng trận vẻ vang, và ngày 29 đã chiếm đựơc Roma.

   Qua biến cố đó Constantine đã thân thiện với Kitô Giáo, ông cho khắc huy hiệu X/P trên đồng bạc. Năm 313 Constantine đã ra chiếu chỉ ở Milan, nhìn nhận quyền tự do tôn giáo trong khắp đế quốc Roma, và Kitô Giáo được ngang hàng với các tôn giáo khác, vì đế quốc Roma là đa thần giáo. Ông ra lệnh trả lại những tài sản đã bị chiếm, tha thuế, bồi hòan những thiệt hại đã gây ra. Cho phép xây cất các giáo đường Kitô Giáo ở Roma. Constantine ao ước được rửa tội trong giòng sông Jordan, nhưng ông ngần ngại, vì nhiều lí do nên mãi đến cuối đời khi đau yếu ông mới được rửa tội. Một yếu tố khá quan trọng là bà Helene thân mẫu Constantine đã nhập đạo ngay khi thắng trận, và bà được phong là hoàng thái hậu. Chính bà đã ảnh hưởng nhiều đến việc xây dựng Giáo Hội trong triều đại Constantine.

   Kitô Giáo bắt đầu một mùa xuân mới sau gần ba thế kỷ bị truy bức rất khủng khiếp. Dấu ấn cụ thể còn để lại ngày hôm nay là những hầm mộ (catacombs-hang tọai đạo) quanh vùng Roma. Lợi dụng luật La Mã thời ấy, người tín hữu trong những thế kỷ đầu đã trốn tránh sống chui rúc để giữ đạo dưới các hầm mộ từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đã có 9 vị giáo hòang chết dưới hầm mộ trong giai đọan vô cùng khắc nghiệt này. Dấu hiệu để các tín hữu nhận ra nhau là hình con cá, chữ cá trong tiếng Hy Lạp là ICHTHYS, chữ viết tắt bởi “Iesous CHristos Theou Hyios Soter có nghĩa là Chúa Giêsu Đấng được xức dầu là Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ.” Các tín hữu họp nhau cầu nguyện, nghe giảng Lời Chúa và tham dự nghi thức bẻ bánh. Chính những dấu ấn còn in đậm ở nhiều nơi trong các hầm mộ cổ xưa đã nói lên niềm tin vào Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa trước thời kỳ Constantine.

   Trái với những gì Dan Brown lập luận rằng Constantine triệu tập Công Đồng Nicea để sửa lại Phúc Âm cho phù hợp với sự kỳ thị nữ giới, và bác bỏ sự kiện Chúa Giêsu chỉ là người phàm. Quả thực Constantine triệu tập Công Đồng Constantine năm 325, nhưng là để thống nhất niềm tin trong cả đế quốc Roma. Các cuộc tranh cãi đã có từ thế kỷ thứ hai về vấn đề thần học quan trọng nhất, cốt lõi niềm tin Kitô Giáo, đó là về Thiên Chúa Ba Ngôi, bản tính Đức Kitô. Khi Constantine nắm quyền thì sự tranh luận càng trở nên gay gắt. Một bên là linh mục Arius, lập luận rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, Đấng tự hữu, còn tất cả những gì khác đều là tạo vật; kể cả Đức Kitô. Dựa vào Phúc Âm Thánh Gioan (14:28) “…..Thầy đến cùng Chúa Cha vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy” để lí luận rằng Chúa Kitô không phải là Thiên Chúa, không ngang hàng, không đồng bản tính với Thiên Chúa. Ngài là một tạo vật hòan hảo nhất, có trước thời gian, nhưng không vô thủy vô chung, Ngài là Con Thiên Chúa, và là trung gian giữa Thiên Chúa và nhân loại. Arius gây được cảm tình lớn và đã thuyết phục được nhiều giám mục ở phương đông, nhưng ông gặp chống đối ở vùng Libia, Egypt, nhất là giám mục Alexandro thành Alexandria. Một bên thì quả quyết Chúa Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa và đồng bản tính với Thiên Chúa Cha.

   Thấy cuộc tranh chấp lan rộng trở nên mối bất ổn cho đế quốc, nên hoàng đế Constantine quyết định triệu tập đại Công đồng, ông viết thư mời tất cả giám mục trên thế giới về Nicea họp từ ngày 20-5-325. Đức Giáo Hoàng Sylvester già yếu không đến dự, cử hai đại diện thay Ngài. Có 318 giám mục đã về họp, kể cả Arius. Cuộc thảo luận tập trung vào những điều trong Kinh Tin Kính do các tông đồ sọan từ trước. Sau một tháng tranh luận, mỗi bên đều được trình bày quan điểm của mình, cuối cùng thì biểu quyết. Kết quả phía Arius chỉ được 5 phiếu, nhưng 3 trong số ấy sợ bị trừng phạt, phải rút lai, nên chỉ còn 2 đứng về phía Arius. Từ đó trong Kinh Tin Kính được thêm vào đọan: “Chúa Giêsu Kitô là Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, được sinh ra mà không phải tạo thành, đồng bản tính với Đức Chúa Cha”. Đó là câu quan trọng nhất trong Công Đồng Nicea.

   Công Đồng kết thúc nhưng sự việc không dừng lại ở đó, ảnh hưởng của Arius còn kéo dài mãi, nên sau đó còn có đến 12 cuộc họp để thống nhất mà vẫn không giải quyết xong.Vì thế phải có Đại Công Đồng Constantinople triệu tập năm 381, tái xác nhận gía trị những điều đã biểu quyết trong Công Đồng Nicea năm 325, từ đó Arius từ từ tan biến. Tóm lại Công Đồng Nicea bàn đến Bản Tính Thiên Chúa của Chúa Kitô trong một Thiên Chúa Ba Ngôi. Sự kiện Chúa Kitô có hai bản tính, bản tính Thiên Chúa và bản tính lòai người không phải là đề tài thảo luận, vì từ thời các tông đồ thì Kitô Giáo đã tin như vậy. Constantine không liên hệ gì đến nội dung cuộc biểu quyết kể trên.

   Các Sách Tân Ước

   DVC nói rằng Tân Ước do bàn tay của con người tạo ra, Constantine ra lệnh tiêu hủy rồi tài trợ viết lại cho thích hợp với mục đích của ông. Điều đó hoàn tòan vô căn cứ. Kitô Giáo tin rằng tác giả Thánh Kinh chính là Thiên Chúa, các tác giả viết những điều do sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần. Theo các nhà chú giải Kinh Thánh và nghiên cứu cổ sử thì sách Tân Ước được viết vào khoảng thời gian từ năm 40 đến năm 100, chắc chắn là trước cuộc hội nghị của các tông đồ tại Jêrusalem năm 49, Giáo Hội coi đó là Công Đồng đầu tiên. Sớm nhất là các thư của Thánh Phaolô, vì Ngài đi truyền giáo từ nơi này qua nơi khác, nhưng vẫn giữ liên lạc với các giáo đòan tân lập bằng thư tín, qua đó Ngài dạy dỗ và khuyên bảo họ. Chất liệu mà Thánh Paul có để dậy dỗ giáo dân thì Ngài đã tìm hiểu rất sâu rộng, một phần trực tiếp từ các tông đồ, phần khác qua các cuộc điều tra để nắm vững khi lùng bắt người Kitô Giáo. Một đoạn rất quan trọng thánh Phaolô đã viết trong (ICor 15:5-6): Trước hết Người hiện ra với Peter, rồi với nhóm Mười Hai; Người còn hiện ra với hơn năm trăm người một lúc, đa số những người này hãy còn đang sống bây giờ, mặc dù một số người đã chết”. Đó là một chứng minh hùng hồn đối với những người còn hòai nghi về việc Chúa Kitô đã chết, phục sinh và lên trời; vì nếu ai chưa tin thì hãy tìm đến hàng mấy trăm người để hỏi lại cho rõ. Tiếp theo những thư của Phaolô, thì các tông đồ cũng phải ghi chép lại những lời Chúa Giêsu rao giảng, vì cộng đoàn giáo dân mỗi ngày mỗi rộng lớn, mà các Ngài thì già đi. Đó là nhu cầu bắt buộc các sách Tân Ước cần viết ra.

       Sau khi những sách Tân Ước được viết ra thì sang thế kỷ thứ II và thứ III, có nhiều người viết về Kitô Giáo và cuộc đời Đức Kitô. Nhưng để phân biệt được nguồn gốc và sự khả tín của các sách ấy. Các nhà nghiên cứu và các thánh giáo phụ dựa vào nhiều yếu tố, hai trong những yếu tố quan trọng nhất là phải bắt nguồn từ các tông đồ, và hợp với qui luật đức tin. Đồng thời còn dựa vào chữ viết, văn tự theo địa phương, lối hành văn, cú pháp v.v để xác định nguồn gốc… Do đó có nhiều sách mang tên các tông đồ như Phúc Âm thánh Phêrô, Phúc Âm Tô ma, Phúc Âm thánh Giacôbê; còn có Sứ Vụ thánh Phaolô. Sứ Vụ Anrê, Sứ Vụ Tôma, có cả sách Khải Huyền của Phêrô và Khải Huyền của Phaolô, nhưng những sách ấy không có tông đồ tính, và không phù hợp qui điển đức tin nên không được nhìn nhận. Một số lớn những sách này thường gọi là ngọai thư hoặc ngụy thư, nội dung chứa đựng nhiều điều kỳ dị, như ảo thân thuyết (docetism), hay ngộ giáo thuyết (Gnosticism). Dầu vậy Giáo Hội vẫn bảo quản để làm tài liệu khảo cứu. Do đó không có vấn đề tiêu hủy đề viết lại vì những mục đích riêng tư. Mà dầu Constantine thật sự có muốn cũng không thể làm được việc ấy; bởi vì sau gần 300 năm, các thư của Thánh Paul gửi các giáo đoàn, các Phúc Âm chính thống đã được tín hữu sao chép và bảo tồn ở rất nhiều nơi. Trước khi có các bản viết thì giáo dân thời ấy học theo lối truyền khẩu, người ta nghe và kể lại cho nhau, dầu có hủy các bản viết, cũng không hủy được lời đã ghi khắc trong lòng.

   Theo tài liệu của sử gia Eusibius thì năm 331, Constantine yêu cầu ông cung cấp 50 bộ sách Tân Ước để dùng trong giáo đường xây trong đế quốc Roma, nhưng không hề đòi biết nội dung các sách ấy. Eusibius là giám mục, và là sử gia danh tiếng vào đầu thế kỷ thứ tư, ông cũng đồng quan điểm với Arius.

   Dan Brown viết rằng Constantine đổi ngày Thứ Bảy ra ngày Chúa Nhật cũng là điều vô căn cứ. Ai trong chúng ta cũng biết rằng người Do Thái giữ ngày Sabbath, tức là sau sáu ngày làm việc, đến ngày thứ bảy là ngày nghỉ. Chúa Kitô Phục Sinh nhằm ngày thứ nhất trong tuần tức là ngày đầu tuần theo Do Thái, để mừng ngày Chúa Phục Sinh, Kitô Giáo xem ngày ấy là ngày của Chúa, “Ngày Chúa Nhật,” đó cũng vẫn là ngày thứ nhất trong tuần.

   Đế quốc La Mã bao trùm một vùng rộng lớn, mỗi sắc dân, mỗi bộ lạc thờ các thần theo niềm tin của họ. Người Roma thì thờ thần mặt trời (Sol Invictus). Khi người Kitô Giáo sống lẫn lộn với các tôn giáo khác thì họ vẫn giữ ngày nghỉ là ngày Mừng Chúa Kitô Phục Sinh (ngày thứ nhất trong tuần) sau ngày Sabbath. Năm 303 đã có một hội nghị ở Spain qui định rằng Ngày Chúa Nhật là ngày đặc biệt để thờ phượng và nghỉ ngơi, nếu ai không tuân giữ trong ba lần sẽ bị khai trừ một thời gian để sửa đổi.

   Mãi đến năm 321 Constantine mới chính thức tuyên bố ngày Chúa Nhật là ngày được nghỉ ngơi trong tòan đế quốc, ông không hề quyết định đổi ngày thứ bảy ra ngày Chúa Nhật, vì Roma không có ngày Sabbath (ngày thứ bảy). Khi chấp nhận Kitô Giáo thì đồng thời cũng nhìn nhận Chúa Kitô là ánh sáng thế gian, người La Mã tôn vinh thần mặt trời, là nguồn ánh sáng soi trên trái đất, từ đó ngày của thần mặt trời (day of the sun) đồng hóa với ngày của Chúa (the Lord’s day) và đó là Chúa Nhật (Sunday trong tiếng Anh).

   Sự việc lấy ngày 25 tháng 12 làm ngày giáng sinh của Chúa Giêsu cũng có nguồn gốc tương tự. Trong đế quốc Roma có nhiều lễ hội của các giáo phái, nhằm thống nhất những buổi lễ ấy hòang đế Aurelian (270-275 A.D.) đã cho tổ chức ngày mừng “Mặt trời thắng trận – Unconquered Sun” nhằm ngày 25 tháng 12 như một dấu hy vọng, gọi là mừng ngày mặt trời tái sinh (rebirth), khi đêm dài bắt đầu ngắn dần và ngày bắt đầu dài ra. Sự trùng hợp là việc sử dụng lịch của các bộ tộc vào thời điểm ấy chưa thống nhất, nên có vấn đề bất đồng việc xác định ngày Chúa Giêsu chịu nạn trong Kitô Giáo. Theo nguồn gốc cổ xưa, người ta tin rằng các tiên tri chết vào ngày sinh ra, hoặc vào ngày thụ thai. Do đó giáo hội Đông Phương thì lấy ngày 6 tháng Tư, Tây Phương thì ngày 25 tháng Ba (Lễ Truyền Tin). Do đó Đông Phương mừng giáng sinh vào ngày 6 tháng Giêng, còn Tây Phương mừng vào ngày 25 tháng 12, trùng vào ngày “mặt trời thắng trận” trong đế quốc Roma

                                                                             Trích Sứ Mệnh Giáo Dân, số 9&10    

 

Trở về mục lục >>

 

 

                                                                     š¶›

 

NIỆM: MỘT HÌNH THỨC CẦU NGUYỆN BỊ LÃNG QUÊN

Trần Duy Nhiên

I - ‘Niệm’ kinh trong truyền thống Giáo Hội

Trong ngôn ngữ Công giáo ở Việt Nam, không bao giờ nghe nói đến ‘niệm’ kinh, mà chỉ nghe nói đến ‘đọc’ kinh. Người Việt Nam có cảm giác rằng chỉ có tín đồ tôn giáo khác, đặc biệt là Phật giáo, mới niệm. Ta thường nghe nói đến ‘niệm Phật’ chứ chưa bao giờ nghe nói ‘niệm Chúa’ hay ‘niệm Đức Mẹ.’ Thậm chí nhiều người vẫn nghĩ rằng niệm là một từ không mang tính chất Công giáo, mà quên rằng ta vẫn dùng nó trong những hình thức cầu nguyện cấp cao: suy niệm, chiêm niệm.

Thế thì ‘niệm’ có nghĩa là gì? Niệm có nghĩa cầu nguyện bằng cách lặp đi lặp lại một từ hay một công thức ngắn rất nhiều lần. Khi một Phật tử ‘niệm Phật’ thì người ấy lặp đi lặp lại hằng trăm lần: “Nam mô A Di Đà Phật” hoặc “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!” v.v. Trong thuật Raja Yoga, người ta niệm tiếng “Ôm” (Aum), và xem đó như âm thanh vượt trên mọi âm thanh, vì âm ấy đưa tâm hồn đến cõi siêu việt. Như vậy, Kitô giáo có bao giờ ‘niệm’ không? Có đấy! Mặc dù người Công giáo Việt Nam hầu như không bao giờ nghe nói đến ‘niệm’ kinh, nhưng ‘niệm’ lại là một hình thức cầu nguyện nằm sâu trong truyền thống Kitô Giáo.

Chúng ta thấy vết tích của cách cầu nguyện này trong các ‘kinh cầu,’ với điệp khúc ‘xin thương xót chúng con’ được lặp đi lặp lại rất đều đặn. Một trong ‘lời niệm’ mà Kitô hữu tiên khởi sử dụng ấy là kinh ‘thương xót’ (eleison) mà hiện nay chủ tế và cộng đoàn vẫn lặp lại vào đầu thánh lễ: Kyrie eleison - Christe eleison - Kyrie eleison. Lời cầu nguyện này biến thể với thời gian và lưu lại dưới dạng  “Kinh Chúa Giêsu” (The Jesus Prayer - La Prière de Jésus) mà hiện nay cộng đoàn tu sĩ ở Athos, Hy Lạp vẫn còn trung thành kiên giữ, và xem đó là cách cầu nguyện ưu việt nhất.

“Kinh Chúa Giêsu” (xin đừng nhầm với Kinh Lạy Cha do Đức Chúa Giêsu dạy) có hai phiên bản, một phiên bản ngắn và một phiên bản dài. Phiên bản ngắn nội dung như sau: “Lạy Chúa Giêsu - Xin thương xót con.” Phiên bản dài: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa - Xin thương xót con, là kẻ tội lỗi.” Công thức trên được cá nhân lặp đi lặp lại mãi theo nhịp thở, trong tư thế yên tĩnh thân thể và tinh thần. Lối niệm này được các nhà thần học phương tây gọi là tĩnh nguyện (oraison hésychaste). Giáo Hội còn giữ những văn bản chứng tỏ rằng từ năm 50 cộng đoàn Kitô hữu đã ‘niệm’ kinh này. Và thánh Gioan Kim Khẩu (St. John Chrysostom: 347 - 407) từng khuyên nhủ như sau:

Tôi khuyên anh em đừng bao giờ ngừng niệm kinh này. (Kinh Chúa Giêsu)

Mọi người cần phải niệm kinh ấy, dù đang làm bất cứ việc gì. Dù ăn, dù uống, dù ngồi, dù phục vụ, hay du hành, ta cũng không được ngừng niệm kinh này. Và danh Chúa Giêsu sẽ đi sâu vào tâm khảm của mình, sẽ thay thế cho con rắn độc ác, sẽ tái tạo và cứu vớt linh hồn mình.”

            Truyền thống này chuyển biến để trở thành một hình thức ‘niệm’ khác mà giáo dân rất quen thuộc ấy là lần hạt Mân Côi. Mỗi lần cầu nguyện là lặp đi lặp lại 50 lần câu “Kính Mừng Maria.”

Như vậy, khi ‘niệm’ một lời Chúa, và đặc biệt niệm ‘Kinh Chúa Giêsu’, thì chính lời lặp đi lặp lại đó sẽ trở thành một mối dây gắn kết mình cùng Thiên Chúa, mà không cần thông qua suy nghĩ. Cái nhịp điệu của lời kinh có một tác động đặc biệt làm cho tâm hồn được nâng lên và gặp gỡ Thiên Chúa một cách trực tiếp, trong Thần Khí của Ngài. Lúc bấy giờ, ta sẽ cảm nghiệm được một cách rõ ràng lời dạy của thánh Phaolô: “Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải lẽ, nhưng chính thần khí cầu thay nguyện giúp chúng ta.” (Rm 8,26)

 

II. Niệm kinh Mân Côi

Khi cầu nguyện với kinh Mân Côi ta thường nói là ‘lần chuỗi’ hoặc ‘đọc kinh Mân Côi,’ trong khi đó, Kinh Mân Côi là một kinh để niệm chứ không phải là để đọc. Theo sự tiến triển của xã hội tây phương với sự lấn át của lý trí và khoa học trên mọi lãnh vực, kể từ thế kỷ 18, các nhà thần học muốn cho Kinh Mân Côi đáp ứng ‘trí tuệ’ của một số người, nên đã nhấn mạnh đến phần suy niệm các mầu nhiệm trong quá trình cầu nguyện với kinh Mân Côi, và dần dần, yếu tố ‘niệm’ trong kinh này bị bỏ quên một cách đáng tiếc. Qua bao nhiêu thế hệ Kitô hữu Việt Nam, người ta ‘niệm’ kinh Mân Côi mà không cần hiểu gì nhiều về các mầu nhiệm. Đối với nhiều bậc ông bà chúng ta, các ‘mầu nhiệm’ chỉ là những công thức để đọc chứ không có gì mà gẫm (ngắm) cả, dù công thức ấy có lời kêu gọi phải gẫm. Khi bắt đầu lần hạt, một người xướng (hoặc mình tự xướng) lên, ví dụ: “Thứ nhất thì gẫm (ngắm): Thiên Thần truyền tin cho Ðức Bà chịu thai. Ta hãy xin cho được ở khiêm nhường. Lạy Cha chúng con...” rồi cộng đoàn (hay chính mình) tiếp tục một hơi cho hết kinh Lạy Cha, và ‘đọc’ cho đủ 10 kinh Kính Mừng. Cách đọc có vẻ máy móc này làm cho một số người thời nay khó chịu. Thế nhưng, nhiều cụ ông cụ bà, đọc chữ không thông, kiến thức thần học không có, nhưng họ đã kiên trì ‘đọc’ như thế từ năm này qua năm khác, để rồi họ có được một cảm nghiệm về Thiên Chúa rất sâu sắc và không gì lay chuyển được Đức Tin của họ. Chính họ là những người đã đem Đức Tin cắm rể vào mảnh đất Việt Nam này, chứ không phải những người nói thông thạo về Thiên Chúa mà cảm nghiệm về Chúa thì thô sơ nghèo nàn.

Vì sao các bậc ông bà chúng ta được như vậy? Ấy là vì các cụ đã ‘niệm,’ nhiều hơn ‘gẫm’ hay ‘đọc’ kinh Mân Côi. Chính sự lặp đi lặp lại đều đều 150 lần kinh Kính Mừng, từ ngày này qua ngày kia, đã làm làm cho kinh ấy có một sức mạnh linh thiêng, một sức mạnh mà ta không thể giải thích rõ ràng bằng những lý luận triết học hay khoa học. Điều chắc chắn: lời ‘niệm’ ấy đã lắng sâu vào con người của kẻ cầu nguyện như từng xảy ra đối với các Kitô hữu xưa kia.

 Vì thế, trong tháng Đức Mẹ này, chúng ta hãy trở lại với việc ‘niệm’ kinh Mân Côi. Muốn niệm kinh Mân Côi, trước hết hãy giữ mình trong tư thế thoải mái (tôi sẽ trở lại ở phần sau) và tìm cách để cho Kinh Kính Mừng được thốt lên theo bốn nhịp thở của mình, càng chậm càng tốt:

- Hít vào: Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà.

- Thở ra: Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu, con lòng Bà gồm phúc lạ.

- Hít vào: Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội,

- Thở ra: Khi này và trong giờ lâm tử . Amen.

Từ xa xưa, Chuỗi Mân Côi được đọc bằng tiếng Latinh và nhịp điệu của Kinh Kính Mừng bằng tiếng La tinh thì thích hợp hơn cho lời niệm. Vì thế, những anh chị em nào muốn thì cũng có thể ‘niệm’ bằng tiếng La tinh nguyên thủy. Vấn đề hiểu một lời ‘niệm’ có lẽ không cần thiết cho bằng để các âm thanh trở đi trở lại và thấm vào chiều sâu tâm hồn mình, để rồi từ đó Thần Khí sẽ làm tất cả mọi sự, theo sự khôn ngoan của Người.

- Hít vào: Ave Maria - gracia plena - dominus tecum.

- Thở ra: benedicta tu -  in mulieribus - et benedictus - fructus ventris tui - Jesus.

- Hít vào: Sancta Maria - Mater Dei - ora pro nobis peccatoribus

- Thở ra: nunc et in hora mortis nostrae - Amen.

Lối niệm kinh Mân Côi này có thể thực hiện trong những lần đặc biệt, và rất chậm rãi. Sau mỗi lần như thế, mặc dù tình cảm và lý trí không được tác động gì nhiều, nhưng ta thấy tâm hồn được yên tĩnh hơn và dần dần cảm nhận được hiệu quả của cách cầu nguyện ấy trong đời sống Kitô hữu của mình.

III. Maranatha: Lời Niệm của Giáo Hội Tiên Khởi

Nhưng có một lối cầu nguyện mà chúng ta cần thực hiện cho ngày hôm nay đó là trở về với cách niệm Maranatha. Maranatha, trong tiếng Aram, có thể phân đôi làm hai cách: Mara-natha hay Maran-atha; và có hai nghĩa khác nhau:

Mara - natha có nghĩa là “Lạy Chúa, xin ngự đến!”

Maran - atha có nghĩa là “Chúa đã đến!”

Tiếng ‘Maranatha’ tự nó là một từ ‘thánh’ mà Giáo Hội đã ‘niệm’ trong thời kỳ sơ khởi và được nuôi dưỡng khá lâu trong các cộng đoàn tu sĩ, mặc dù đại chúng không hề biết đến. Điều này được bộc lộ qua các văn bản kinh thánh. Maranatha là lời kinh mà Thánh Phaolô niệm lên vào cuối thư gửi cộng đoàn Côrintô (1Cr 16,22), và cũng được Thánh Gioan niệm lên vào cuối cuốn Khải Huyền (Kh 22,20). Như vậy, huấn từ cuối cùng, và cũng là lời kinh cuối cùng, của toàn bộ Kinh Thánh là: Maranatha.  Vì thế ngày nay chúng ta cũng có thể ‘niệm’ lại lời ấy, bằng cách chỉ lặp đi lặp lại rất nhiều lần tiếng Maranatha. Và sau đây là phương thức để niệm.

 

Phát âm:

Âm ‘a’ trong Maranatha cần được phát âm từ bên trong, nghĩa là đọc như chữ ‘a’ trong ‘car’ (tiếng Anh), trong ‘pâte’ (tiếng Pháp) hoặc trong ‘ân’ (tiếng Việt). Hãy đọc theo nhịp thở của mình và dần dần tốc độ sẽ tự dộng chậm lại để đưa chúng ta và trạng thái bình tâm. Sự bình an dần dần sẽ lan tỏa thân thể và tâm trí chúng ta theo những lời lặp lại đó. Đến một lúc không cần phải lặp lại thành tiếng, và chúng ta có thể nghe mình lặp lại trong thinh lặng (!).

Tư thế để niệm:

Trong khi niệm, thì dĩ nhiên trí óc không được chạy theo những ý nghĩ trong đầu, vì thế cần phải giữ mình trong tư thế thoải mái nhất. Và tư thế tốt nhất có lẽ là ngồi xếp bằng trên một mặt phẳng tương đối cứng (trên sàn nhà hay trên giường cứng). Dĩ nhiên, ta cũng có thể quỳ, ngồi trên ghế, hoặc ngồi bó gối... miễn là tư thế ấy không làm cho mình mất thoải mái. Tư thế giúp ta dễ tập trung hơn. Và muốn cho ý nghĩ có chỗ để bám mà không chạy lung tung, thì ta lắng nghe tiếng vang của các âm Ma - Ra - Na - Tha. Ngoài ra ta cũng nên tập trung và lồng ngực hay vào điểm giữa hàng lông mày (gọi là huyệt ấn đường).

Lồng ngực:

Một điểm quan trọng để tập trung là lồng ngực, vì đấy là trung tâm của tình cảm và xúc cảm, cũng như của cảm nghiệm tâm linh. Tưởng tượng một khoảng trống nơi ấy, tương ứng với hơi thở trong phổi, và để ý rằng những tiếng niệm xuất phát và trở về đấy, theo nhịp thở.

Huyệt ấn đường:

Cũng có thể chú ý đến điểm giữa hai hàng lông mày, con mắt thứ ba, hay trung tâm của trí tuệ. Tập trung vào giữa điểm ấy, không lệch phải lệch trái, không lên cao xuống thấp. Không cần phải là một điểm nhỏ như đầu kim, nhưng một vùng ở khoảng ấy, và mỗi lần niệm thì tưởng tượng các âm Ma - Ra - Na - Tha đi ngang đấy theo hơi thở ra vào.

Nhịp thở:

Niệm là cầu nguyện trong Thần Khí, và một trong các điều kiện cơ bản là để lời niệm trôi theo khí, nghĩa là hơi thở. Có thể phát âm hoặc lắng nghe từng âm Ma - Ra - Na - Tha, được chia ra làm bốn phần, và mỗi phần được phát âm trong một nhịp thở.

- Hít vào: Ma

- Thở ra: Ra

- Hít vào: Na

- Thở ra: Tha (đọc Tha, gần như Ta với âm h thật nhỏ)

Trong quá trình hơi thở, ta thấy rằng khởi dầu mỗi âm là đường thở bị đóng lại rất nhanh hoặc bằng cặp môi đóng lại (Ma) hoặc bằng lưỡi đóng lên vòm miệng (Ra - Na - Tha), sau đó đường thở thông liên tục để cho âm ‘a’ di chuyển.

Khi khởi sự niệm Maranatha thì không cần phải kềm chế hơi thở, nhưng cứ thở theo nhịp điệu tự nhiên của mình. Dần dần, hơi thở sẽ chậm lại, và bình an sẽ đến mà không cần ta phải cố gắng gì cả.

Niệm trong thinh lặng:

 Sau một thời gian cầu nguyện bằng phương thức này, ta sẽ dần dần không cần đọc lên thành tiếng mà cảm thấy âm ấy vang lên trong thinh lặng, đồng thời dễ dàng đi vào chiều kích linh thiêng hơn. Không cần phải đếm lời niệm, nhưng trong thời gian đầu, nếu  muốn có một cách để ấn định thời gian và đỡ chia trí, thì cầm một tràng hạt Mân Côi và lần theo từng tiếng. Như vậy sau một tràng hạt 50 lần, ta biết được số thời gian mình dành cho mỗi lần niệm. Cũng phải chú ý rằng hơi thở sẽ chậm dần theo thời gian, và nếu thấy không đủ thì giờ thì không cần kéo dài đến 50 lần, chứ không nên thở nhanh để cho đủ 50 lần mình ấn định trước, vì như thế thì lợi ích của việc niệm Maranatha không còn nữa.

Chuẩn bị cho suy ngắm, hay chiêm ngắm:

Niệm Maranatha tự nó đã là một phương thức cầu nguyện rất có giá trị trong truyền thống Giáo Hội, và nếu ta bỏ ra nửa giờ mỗi ngày để cầu nguyện bằng cách niệm Maranatha thì cũng đủ để được Chúa Thánh Thần nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện của mình rồi. Tuy nhiên, vì sống trong thế kỷ khoa học và trí tuệ nên rất nhiều người trong chúng ta khó lòng chấp nhận con đường phi khoa học của lối cầu nguyện ‘thần bí’ này. Vì thế ta có thể bắt đầu cảm nghiệm sự ích lợi của lời niệm Maranatha như một bước đầu để cho ta bình tâm đi vào việc suy ngắm hay chiêm ngắm.

Trong ngôn ngữ Việt Nam, khi dịch tiếng meditation và contemplation, thì cha ông ta không đơn thuần dịch là ‘suy tư’ và ‘ngắm nhìn,’ nhưng lại dịch là ‘suy niệm’ và ‘chiêm niệm.’ Thế nhưng trên thực tế, hầu hết chúng ta chỉ suy nghĩ và chiêm ngắm chứ không bao giờ ‘niệm’ cả. Hẳn cha ông chúng ta từng có kinh nghiệm rằng muốn ‘suy nghĩ’ hay ‘chiêm ngắm’ về Lời Chúa thì cần phải ‘niệm’ trước đã.

Vì thế, để cho những giờ suy niệm hay chiêm niệm được hiệu quả hơn, có lẽ nên khởi đầu giờ ấy bằng 5 -10 phút niệm Maranatha. Sau 5 phút ấy, ta sẽ bình tâm hơn để lắng nghe Tiếng Chúa, và rồi sẽ thấy rằng tư tưởng và cảm nhận của mình về lời Chúa sắc bén và thâm thúy hơn là nếu mình thiếu chuẩn bị bằng 5 phút ‘niệm’ Maranatha

Cầu chúc các bạn có những giây phút “niệm” thật sâu để gặp gỡ Thiên Chúa và gặp lại chính mình

 

 

                                                                                                                          Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

MẸ TÔI

LTS: Một độc giả trung thành đã gửi cho Maranatha câu chuyện sau đây. Không biết đây là chuyện thật của người viết hay là một sáng tác. Tuy nhiên, Maranatha cũng chuyển đến quý vị để nhớ Mẹ chúng ta, người Mẹ trên trời và người Mẹ ở trần gian ... Bởi vì, tuy bằng một cách khác, Người Mẹ của chúng ta cũng từng hành động tương tự như người Mẹ trong câu chuyện dưới đây, để cho con mình có thể nhìn thẳng vào Tình Yêu và Chân Lý.

 

Suốt thời thơ ấu và cả khi lớn lên, lúc nào tôi cũng ghét mẹ tôi. Lý do chính có lẽ vì bà chỉ có một con mắt. Bà là đầu đề để bạn bè trong lớp chế giễu, châm chọc tôi.

     Mẹ tôi làm nghề nấu ăn để nuôi tôi ăn học. Một lần bà đến trường để kiếm tôi làm tôi phát ngượng. Sao bà lại có thể làm như thế với tôi? Tôi lơ bà đi, ném cho bà một cái nhìn đầy căm ghét rồi chạy biến. Ngày hôm sau, một trong những đứa bạn học trong lớp la lên: "Ê, tao thấy rồi. Mẹ mày chỉ có một mắt!".

     Tôi xấu hổ chỉ muốn chôn mình xuống đất. Tôi chỉ muốn bà biến mất khỏi cuộc đời tôi. Ngày hôm đó đi học về tôi nói thẳng với bà: "Mẹ chỉ muốn biến con thành trò cười!". Mẹ tôi không nói gì. Còn tôi, tôi chẳng để ý gì đến những lời nói đó, vì lúc ấy lòng tôi tràn đầy giận dữ. Tôi chẳng để ý gì đến cảm xúc của mẹ. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi nhà, không còn liên hệ gì với mẹ tôi. Vì thế tôi cố gắng học hành thật chăm chỉ, và sau cùng, tôi có được một học bổng để đi học ở Singapore.

     Sau đó, tôi lập gia đình, mua nhà và có mấy đứa con. Vợ tôi là con nhà gia thế, tôi giấu nàng về bà mẹ của mình, chỉ nói mình mồ côi từ nhỏ. Tôi hài lòng với cuộc sống, với vợ con và những tiện nghi vật chất tôi có được ở Singapore. Tôi mua cho mẹ một căn nhà nhỏ, thỉnh thoảng lén vợ gởi một ít tiền về biếu bà, tự nhủ thế là đầy đủ bổn phận. Tôi buộc mẹ không được liên hệ gì với tôi.

     Một ngày kia, mẹ bất chợt đến thăm. Nhiều năm rồi bà không gặp tôi, thậm chí bà cũng chưa bao giờ nhìn thấy các cháu. Khi thấy một bà già trông có vẻ lam lũ đứng trước cửa, mấy đứa con tôi có đứa cười nhạo, có đứa hoảng sợ. Tôi vừa giận vừa lo vợ tôi biết chuyên, hét lên: "Sao bà dám đến đây làm con tôi sợ thế? Đi khỏi đây ngay!". Mẹ tôi chỉ nhỏ nhẹ trả lời "Ồ, xin lỗi, tôi nhầm địa chỉ!" và lặng lẽ quay đi. Tôi không thèm liên lạc với bà trong suốt một thời gian dài. Hồi nhỏ, mẹ đã làm con bị chúng bạn trêu chọc nhục nhã, bây giờ mẹ còn định phá hỏng cuộc sống đang có của con hay sao?

     Một hôm, nhận được một lá thư mời họp mặt của trường cũ gởi đến tận nhà, tôi nói dối vợ là phải đi công tác. Sau buổi họp mặt, tôi ghé qua căn nhà của mẹ, vì tò mò hơn là muốn thăm mẹ. Mấy người hàng xóm nói rằng mẹ tôi đã mất vài ngày trước đó và do không có thân nhân, sở an sinh xã hội đã lo mai táng chu đáo. Tôi không nhỏ được lấy một giọt nước mắt. Họ trao lại cho tôi một lá thư mẹ để lại cho tôi:

     "Con yêu quý,

     Lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con. Mẹ xin lỗi về việc đã dám qua Singapore bất ngờ và làm cho các cháu phải sợ hãi. Mẹ rất vui khi nghe nói con sắp về trường tham dự buổi họp mặt, nhưng mẹ sợ mẹ không bước nổi ra khỏi giường để đến đó nhìn con. Mẹ ân hận vì đã làm con xấu hổ với bạn bè trong suốt thời gian con đi học ở đây.  Con biết không, hồi con còn nhỏ xíu, con bị tai nạn và hỏng mất một bên mắt. Mẹ không thể ngồi yên nhìn con lớn lên mà chỉ có một mắt, nên mẹ đã cho con con mắt của mẹ. Mẹ đã bán tất cả những gì mẹ có để bác sĩ có thể thay mắt cho con, nhưng chưa bao giờ mẹ hối hận về việc đó. Mẹ rất hãnh diện vì con đã nên người, và mẹ kiêu hãnh vì những gì mẹ đã làm được cho con. Con đã nhìn thấy cả một thế giới mới, bằng con mắt của mẹ, thay cho mẹ...

     Mẹ yêu con lắm,

     Mẹ..." 

                                                                                                                                Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

BẠN THÍCH NHẤT ĐOẠN PHÚC ÂM NÀO?

 

  Làm thế nào mà chọn được MỘT đoạn duy nhất thôi ?

   Tùy theo tình huống, tâm tình, nhu cầu, thì tôi sẽ chọn một dụ ngôn, một hành vi hoặc một lời nói nào đó đánh động tôi, an ủi tôi hay kêu mời tôi. Hoặc giả, nếu hỏi rằng tôi thích tác giả Phúc Âm nào nhất thì ít ra cũng chỉ loại có ba vị thôi. Như thể thì còn dễ. Nhưng hỏi như thế thì quả là khó mà trả lời.

   Vậy thì theo đầu óc nhỏ bé của tôi, tôi nghĩ rằng mình tôi sẽ chọn một đoạn mà thiếu đi thì sẽ chẳng có gì xảy ra cả. Hoặc là ta vẫn còn lẩn quẩn trong Cựu Ước, vào thời trước Chúa Kitô. Đoạn văn mà tôi chọn ấy là đoạn Truyền Tin, trong Luca, chương 1, từ câu 26 trở đi.

   Ta bị choáng ngợp vì lòng tôn trọng của Thiên Chúa đối với thọ tạo của Người, và vì lòng cậy trông của Đức Maria, tinh thần phó thác trọn vẹn của Mẹ vào bàn tay Thiên Chúa. Làm thế nào mà Người lại có cái ý định lạ lùng là đến trần gian này để nói cho chúng ta biết rằng Người yêu thương chúng ta? Phải là điên, phải yêu đến điên cuồng mới hành động một cách tào lao như thế. Và tôi cũng khâm phục sự đón nhận vô điều kiện của Đức Mẹ đối với chương trình của Thiên Chúa dành cho mình. Mẹ không thắc mắc gì đến phản ứng của người chung quanh, đến nỗi đau của chàng Giuse, đến hậu quả tai hại mà tình trạng mang thai ngoài hôn nhân đem đến cho Mẹ. Mẹ chỉ nói “xin vâng.” Chỉ thế thôi, nhẹ nhàng và dứt khoát. Tôi không dám tưởng tượng xem mình sẽ phản ứng thế nào giả như năm 15, 16 tuổi, tôi... “Phúc cho kẻ đã tin,” đó là lời mà Người Con sẽ nói về Mẹ mình sau này. Và qua đó, tôi cũng vui mừng vì thấy Thiên Chúa biết rằng đức tin vào Người không phải là chuyện đương nhiên, không phải là chuyện dễ dàng.

   Qua đoạn này, Đấng Tạo Dựng và kẻ thọ tạo đều làm cho tôi hân hoan. Đấy là cũng là đoạn đầu tiên mà tôi chọn để chia sẻ, khi tôi bắt đầu mở được cái cổ họng từng bóp nghẹt tôi trong gần 70 năm khiến tôi không thể nói gì được với Chúa... như một đứa bé nói với Cha mình.

   Thế thì đoạn ấy cũng đáng cho tôi thích chứ, phải không nào? 

 Trở về mục lục >>

 

š¶›

XÁC TÍN

P.John Ceferino LEDESMA, SBD - Thái Văn Hiến trích dịch

 

    Một bệnh nhân, sau khi trả tiền và rời phòng khám, bỗng quay lại tìm viên bác sĩ. Anh ta nói: “Thưa bác sĩ, tôi rất sợ chết. Xin hãy nói cho tôi biết những gì sẽ xảy ra sau khi chết?” Bác sĩ thản nhiên đáp, “Tôi không biết.” “Ông không biết ư? một tín đồ Kitô giáo như ông mà lại không biết điều gì sẽ xảy ra sau khi chết sao?”

    Viên bác sĩ, chẳng nói chẳng rằng, đặt tay vào nắm đấm cánh cửa mà từ bên sau đang vẳng ra những tiếng cào cấu lẫn với những tiếng rên ư ử; đúng lúc cánh cửa vừa hé mở, một con chó lao vào và cuống quýt nhảy bổ lên người ông ta một cách đầy thích thú.

    Bấy giờ, quay sang thân chủ của mình, viên bác sĩ nói: “Ông có để ý thấy con chó này không? Mới trước đây ít phút nó không hề có mặt trong căn phòng này. Nó không biết trong đây có những gì. Nó không biết một thứ gì khác ngoại trừ chủ của nó đang ở đây, vậy mà khi cánh cửa vừa được mở ra nó đã lao vào không chút sợ sệt. Tôi cũng có biết chút đỉnh gì đó bên kia cái chết, song có một điều tôi biết rõ nhất, tôi biết Chủ của tôi đang ở nơi ấy, vậy là đủ. Và khi cánh cửa vừa mở ra, tôi sẽ lao vào, chẳng những không chút sợ hãi, mà là hết sức sung sướng.” 

(Trích dịch tài liệu giảng dạy của P.John Ceferino LEDESMA, sdb

 

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

 

HIỆP THÔNG

            Chân thành cám ơn linh mục Nguyễn Ngọc Sơn, Tổng Thư Ký HĐGMVN đã chuyển thư của Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt cho Maranatha báo tin về tình hình sức khoẻ của Đức Hồng Y Phaolô Maria Phạm Đình Tụng. Trong thư, ĐTGM Giuse cho biết, “...sau một tháng điều trị tại bệnh viện vì một cơn tai biến mạch máu não nhẹ... Ngày 15-05-2006, vì không thể phục hồi cơ ngực, các bác sĩ đã tiến hành phẫu thuật mở khí quản. Hiện nay Ngài còn rất mệt. Vẫn phải ăn uống qua đường truyền thẳng vào dạ dày. Trong suốt thời gian điều trị, tuy thân xác bị đau đớn, nhưng tâm hồn Ngài luôn bình an. Ngài chịu đựng những cơn đau với một ý chí mạnh mẽ khiến các y bác sĩ hết sức khâm phục. Các linh mục, tu sĩ, giáo dân Giáo phận Hà nội luôn đồng hành với Ngài trong lời cầu nguyện, thường xuyên thăm viếng và làm tất cả những gì có thể...”

 

            Maranatha xin thông báo cùng quý độc giả để cùng hiệp thông cầu nguyện xin Ân Sủng và Bình An của Đức Kitô Phục Sinh đặc biệt thêm sức cho Đức Hồng Y trong những ngày này ...

 

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC


 

Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Francis Khúc, Đỗ Trân Duy, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Lữ Giang, Thái Văn Hiến, Sứ Mệnh Giáo Dân, Kim Nhung, Dương Phú Cường, Đinh Văn Huấn, Nguyễn Tiến Đức, Trọng Phan, Nguyễn Quý Lan,  Lê Công Đức, Trịnh Phạm Hoàng, Joseph Hoàng Thái, Tâm Lưu, Têrêxa, Maranatha OP, Con Chiên Nhỏ, Hữu Trí, Lm. Nguyễn Ngọc Sơn,...

 

     Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha Nguyện xin Chúa chúc lành. 

            Trân trọng,

            MARANATHA

š¶›

 

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong 2 tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

 

v      Tiến Đức đã nhận được Maranatha 78. Chân thành cám ơn. Nguyễn Tiến Đức.

Cám ơn anh Tiến Đức rất nhiều vì đã thường xuyên tin cho biết. Nguyện xin Chúa chúc lành cho anh luôn.

v      Xin Quý Vị gửi Báo Maranatha đến địa chỉ sau cho Soeur Thanh. Xin cảm tạ quý vị. Peace, Trọng Phan.

Cám ơn anh đã giới thiệu báo. Tên và địa chỉ của Sơ Thanh dã được ghi vào danh sách gửi báo.

v      Kính gởi ban biên tập MARANATHA, Để góp phần trong tầm nhìn rộng hơn về Thiên Chúa, để góp  phần giải quyết một ít gì khổ đau của nhân loại, để người nghèo có một chút sự giúp đỡ khi lâm cảnh bệnh tật, để người cứng lòng phải suy nghĩ một chút khi nhìn ngắm cảnh thiên nhiên, để ai đó có đủ Duyên nhận ra Ngài trong mê muội tăm tối. Xin kính gởi Ban Biên Tập bài viết “Thuốc Gần Người – quà tặng tình yêu Thiên Chúa.” Kính chúc Ban Biên Tập an bình khi loan báo Tin Mừng cho thế gian. Kính chúc được tràn đầy Thần Khí trong hy vọng, trong tình thương trong ủi an. Xin cám ơn. Thân ái kính chào BBT, Dương Phú Cường.

Cám ơn anh đã gửi bài và chia sẻ tâm tình. Bài dài nên cần thời gian, mong anh thông cảm. Nguyện chúc Ân Sủng và Bình An.

v      Lâu nay chúng con sử dụng tài liệu của MARANATHA để post lên trang ngọn nến nhỏ…những tư liệu thật hay và hữu ích. Nhưng chúng con có thể đề nghị Cha và BBT cho chúng con nhận bài sớm hơn được không? Khoảng ngày thứ năm để chúng con kịp chuẩn bị cho ngày Chúa Nhật hàng tuần. Con xin cám ơn và xin Chúa Đức Mẹ ban xuống cho cha và BBT nhiều ơn lành. Lê Công Đức.

Chúc mừng anh Đức và Ngọn Nến Nhỏ trong mục vụ rất tốt đẹp. Ghi nhận đề nghị của anh, và đó cũng là mong muốn của Ban Biên Tập, nhưng vì hoàn cảnh và thì giờ quá eo hẹp, mong bạn thông cảm. Sẽ cố gắng nhiều hơn để phát hành sớm hơn hầu phục vụ độc giả.

Kính gửi BBT Maranatha VN, Trân trọng cám ơn Quý Vị đã gửi số báo 78 cho tôi. Xin Chúa ban tràn đầy Hồng Ân trên Quý Vị và gia đình. Tâm Lưu.

Cám ơn quý vị  đã tin cho biết và cám ơn vì đã cầu nguyện cho Maranatha, cũng xin Hồng Ân Chúa ở cùng.

v      Cám ơn quý vị đã gửi bài. Quý Lan.

Cám ơn anh đã tin cho biết. Bình An Chúa ở cùng.

v      Kính chào Ban Biên Tập báo Maranatha, Đã bao lâu nay con vẫn được quý bạn gửi báo cho đọc đều đều, con rất vui và tìm được những điều bổ ích để trau dồi kiến thức trong học tập cũng như trong đời sống hàng ngày. Con xin hết lòng cám ơn quý Bạn. Xin quý Bạn gửi báo cho nguời em là một chủng sinh theo địa chỉ sau… Trịnh Phạm Hoàng.

Hân hạnh gửi báo đến người em của anh để có thể đóng góp thêm vào hành trang tận hiến. Cám ơn anh rất nhiều đã đón nhận Maranatha và giới thiệu cho thân nhân.

v      Xin vui lòng chia sẻ cho tôi báo Maranatha. Chân thành cám ơn. Maranatha, O.P.

Xin cám ơn đã ghi danh nhận báo. Đó là niềm vui của chung vì được chia sẻ ..

v      Kính chào Quý Báo! Qua nhiều người giới thiệu về trang web Maranatha, con thấy có nhiều bài rất hay, rất có ý nghĩa đối với con và cũng với một số người khác. Vậy con kính xin Quý Báo thường xuyên gởi bài cho con qua địa chỉ…Con xin chân thành cám ơn và chúc Quý Báo ngày càng một phát triển hơn, đa dạng hơn về các bài chia sẻ, suy niệm…Thân ái, Joseph Hoàng Thái.

Rất vui khi nhận thư bạn với những tâm tình và lời khích lệ. Uớc mong bài vở của Maranatha có được chút nào để cùng với bạn sống đức tin và tình yêu mỗi ngày…Tên và địa chỉ của bạn đã vào danh sách gửi báo.

v      Con là một tu sĩ ở miền truyền giáo, nay muốn học hỏi, nghiên cứu thêm hầu phục vụ tốt hơn qua báo Maranatha. Kính xin quý báo cho con được nhận ở địa chỉ : ...Rất mong được giúp đỡ. Xin chân thành cảm ơn. Têrêxa.

Xin Chúa chúc lành cho Sơ trong công việc truyền giáo hiện nay. Ước gì Maranatha được luôn đồng hành với Sơ trong phục vụ và nghiên cứu. Xin gửi đến với Sơ cũng như những anh chị em ở nơi xa đó tình thương mến và lời cầu nguyện của Maranatha.

v      MARANATHA quí mến, Một trích đoạn ngắn nhưng khá thú vị, cho thấy một khía cạnh độc đáo của niềm tin Kitô giáo chúng ta. Mong chúc vạn sự an lành trong tình Chúa yêu thương.  Thái Văn Hiến - Quảng Thuận.

Cám ơn anh thật nhiều vì tình thân thương và bài vở đã dành cho Maranatha. Chỉ vài dòng như thế đã là quý lắm. Cầu chúc sức khoẻ cho anh, hy vọng đã thuyên giảm rồi để tiếp tục phục vụ. Mong bài.

v      Kính gởi quý anh chị ban điều hành báo Maranatha, vừa qua em được thầy Nguyễn Tiến Đức gởi một số bài trong Maranatha số 76. Nội dung  báo giúp ích rất nhiều cho em trong quá trình học hiện nay. Vì thế em rất mong được nhận báo từ nơi các anh chị. Xin vui lòng gởi đến theo địa chỉ mail…Xin chân thành tri ân. Em, Hữu Trí.

Thầy Nguyễn Tiến Đức vẫn thường xuyên liên lạc với Maranatha...lại còn giới thiệu cho bạn nữa. Thật quý hóa quá! Xin cám ơn Thầy Đức và cám ơn bạn cũng đã đón nhận Maranatha. Rất vui lòng gửi báo đến Hữu Trí. Chúc an vui luôn trong Chúa, nhé.

                                                                                                                             Trở về mục lục >>

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn