|
|
Số 79 Ngày 20-05-2006
Người Nữ Tì Của Thiên Chúa - ĐTC Gioan Phaolô II Hãy Yêu Thương Nhau - Lm. Vũ Xuân Hạnh Điều Răn Quan Trọng Nhất – Bill Peatman - Maranatha dịch Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J Da Vinci Code và Những Tiếng Nói Từ Vatican - Trần Duy Nhiên The Da Vinci Code – Cơn Hồng Thủy Định Cuốn Trôi Toà Nhà Giáo Hội? - Trần Mỹ Duyệt Da Vinci Code: Sự Lừa Dối Vĩ Đại - Sơ Lược và Vấn Đề Bóp Méo Lịch Sử - Đỗ Như Điện Niệm: Một Hình Thức Cầu Nguyện Bị Lãng Quên - Trần Duy Nhiên Bạn Thích Nhất Đoạn Phúc Âm Nào? Xác Tín - P.John Ceferino Ledesma, SBD, Thái Văn Hiến dịch Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả, Tuần này, có một biến cố điện ảnh mà cả thế giới đều để ý: Cuốn phim Da Vinci Code của đạo diễn Ron Howard, dựa theo cuốn sách cùng tên của Dan Brown, được trình chiếu ra mắt tại Cannes, Pháp Quốc hôm 17 tháng 5 vừa qua. Trong bài giảng ngày thứ sáu Tuần Thánh, trước sự hiện diện của Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI, cha Raneiro Cantalamessa đã nói về cuốn sách và cuốn phim ấy như sau: “Ngày nay, người ta bán Chúa, không phải để lấy 30 đồng bạc, mà để lấy bạc tỉ.” Quả thật, tác giả cuốn sách và nhà sản xuất cuốn phim chỉ ‘cần lấy bạc tỉ’ mà không thắc mắc gì đến sự thật lịch sử. Dĩ nhiên, vì muốn như thế nên Dan Brown không từ nan một ‘xảo thuật’ nào. Ông đem những tiểu xảo của một cuốn trinh thám, kích thích tò mò, cộng với việc bổ báng những điều linh thiêng nhất trong một tôn giáo, để thỏa mãn một thế hệ đầy ưu tư đối với sự linh thiêng nhưng lại nản lòng thối chí trước những điều phũ phàng của các tổ chức tôn giáo. Cần phải bôi nhọ tôn giáo. Nhưng phải chọn tôn giáo nào mà ông có thể bán được sách nhưng không bị giết chết, hoặc không bị săn đuổi mọi nơi. Và ông biết rằng tôn giáo duy nhất mà tín đồ không đối xử với ông một cách dã man, chính là Kitô giáo. Cuốn tiểu thuyết ‘lá cải’ đó đã thành công như thế là vì nó cho những người không biết gì về lịch sử có cảm giác là mình đã trở thành ‘con người hiểu biết!’ Như lời đức hồng y Paul Poupard: “Đối với những ai biết về lịch sử Giáo Hội thì đây không phải là lần đầu mà những hiện tượng như thế xảy ra, nhưng cái mới ở đây là nhờ sự dốt nát về tôn giáo, hay đúng hơn, sự dốt nát nói chung... Vì thiếu kiến thức căn bản, nên người ta khó mà phân biệt được đâu là chuyện bịa đặt, chuyện hư cấu, và việc xuyên tạc lịch sử và các giá trị mà Giáo Hội gìn giữ và đang sống.” Mọi sự hẳn cũng đã chìm xuống, vì sau một thời gian tung ra những điều giật gân để kiếm tiền, thì Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngài vẫn không hề suy suyển. Tuy nhiên, các nhà sản xuất phim lại muốn kiếm tiền một lần thứ hai, nên biến Chúa Kitô thành một ‘món hàng’ béo bở cho túi tiền của mình. Thế là nổi lên một chiến dịch quảng cáo. Và đồng thời những tiếng nói phẫn nộ cũng đã đáp lại để ‘tẩy chay’ cuốn phim kinh doanh sự dối trá kia. Dù sao thì cuốn phim cũng ra đời đúng như dự kiến! Sau buổi chiếu ra mắt tại Đại Hội Cannes, nhiều người đã bật cười: “Ầm ĩ lắm để rồi chẳng có gì...” như nhận xét của cơ quan Signis, hiệp hội Công giáo về Truyền Thông. Đây không phải là một tác phẩm điện ảnh lớn nhưng chỉ là một phim để cho quần chúng giải trí tiêu cơm. Nếu phần đầu cuốn phim còn hấp dẫn nhờ cái trò chơi cút bắt, thì phần sau, với lối giải thích rối rắm dông dài, đã làm cho những người thích xem phim phải nản lòng. Trong khi cuốn sách tạo cảm giác xác thực cho một số luận cứ đáng ngờ, thậm chí tào lao, thì cuốn phim cố gắng xoa dịu phản ứng của Kitô hữu. Những nhà biên soạn kịch bản đã thêm một số câu cho thấy rằng tất những luận cứ đều là giả thiết chứ không phải như lời khẳng định chắc nịch trong cuốn sách, liên quan đến thần tính của Chúa Giêsu, đến vị trí của Mađalêna hoặc thực chất của Hiệp Hội Opus Dei. Dù sao đi nữa, những hình thức quảng cáo cho cuốn sách và trước khi ra mắt cuốn phim đã làm cho nhiều người, cả Kitô hữu lẫn người chống Kitô giáo, đặt lại một vấn đề rất cũ và rất mới: Chúa Kitô là ai? Ngài là ai, đối với lịch sử và đối với bản thân tôi? Opus Dei, cộng đoàn từng bị Dan Brown biến thành tên ác thần trong cuốn sách của mình, đã lên tiếng như sau: “Những biến cố trong những tháng vừa qua đã thôi thúc tín hữu đào sâu đức tin Công Giáo của mình, để biết rõ hơn về Phúc Âm và về Giáo Hội, về lịch sử cũng như đời sống hiện nay của Giáo Hội. Giống như cách đây 20 thế kỷ, Chúa Giêsu từng là ‘một cớ vấp phạm và một điều điên rồ’ dưới mắt một số người. Tuy nhiên, có nhiều người - nhờ ân sủng chứ không phải nhờ công trạng của mình - đã tin rằng Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu Thế, đến để gieo rắc tình yêu. Đây là một biến cố đáng buồn, nhưng nhất thời và hôm nay đang tàn lụi. Kitô hữu luôn phản ứng trước những thái độ thiếu tôn trọng đối với mình bằng một thái độ ôn hòa, qua con đường đối thoại và tránh xung đột. Biến cố này cũng có thể giúp Kitô hữu suy nghĩ nghiêm túc đến thái độ sống đức tin của mình, để rồi từ đó, chúng ta cũng biết thông cảm và tôn trọng người khác.” Trong chiều hướng đó, Maranatha kỳ này dành một số trang liên quan đến hiện tượng Da Vinci Code. Tuy nhiên, giữa một khối lượng lớn thông tin về cuốn sách và cuốn phim bôi đen Giáo Hội đó, thì một tin nhỏ mà không ai chú ý, được đăng trên báo Tuổi Trẻ, lại chiếu rọi một tia sáng mạnh mẽ hơn bao nhiêu lời bôi nhọ kia: “Ngày 13 tháng 5, Sơ Theresa Phạm, nữ tu Việt Nam thuộc dòng Đa Minh, vừa được Tổng thống Hoa Kỳ George Bush vinh danh và trao tặng giải thưởng phục vụ tình nguyện vì những đóng góp của Sơ trong việc giúp đỡ nhiều người dân trong cơn bão Katrina và Rita vừa qua.” Vâng, trong khi bao nhiêu người trên thế gian này xôn xao vì có một cuốn sách cho rằng người nữ không có chỗ đứng trong Giáo Hội, thì một người nữ lại được nhà cầm quyền vinh danh vì đã phục vụ như Chúa Kitô. Chính hàng vạn người như thế đã âm thầm vẽ lại trước thế gian gương mặt đích thực của Chúa Kitô và của Giáo Hội Ngài. Và chính hình ảnh bé nhỏ ấy đã nhắc nhở chúng ta rằng niềm vui của Mùa Phục Sinh vẫn rộn ràng và tháng hoa Đức Mẹ vẫn rực rỡ thắm tươi. Vì thế, Maranatha_79 cũng không thể không nói đến tình yêu lớn lao của Đấng Phục Sinh với lời dặn dò của Ngài cho các môn đệ và cho chúng ta; thêm vào đó, sự hiện diện và vai trò của Mẹ Maria trong đời sống Giáo Hội và đời sống từng người tín hữu cũng được đặc biệt nhắc đến trong số này. Tất cả những điều ấy được gói lại trong tâm tình cầu nguyện. Đặc biệt, trong số này, xin gửi đến quý độc giả một phương thức cầu nguyện của Giáo Hội mà nhiều người lãng quên, một lời cầu được lặp đi lặp lại mãi trên trang báo nhỏ này, đó là cầu nguyện với lời “Maranatha, Lạy Chúa, xin ngự đến!’ MARANATHA
¶ (Lc 1, 39-42) Đức Gioan Phaolô II: 4-9-1996 - Maranatha dịch Các bạn thân mến, 1. Lời của Đức Maria trong ngày Truyền Tin: “Tôi là tôi tớ của Thiên Chúa; xin thành sự nơi tôi theo lời Ngài” (Lc 1,38) cho ta thấy rõ một thái độ độc đáo của tình thần tôn giáo Do Thái. Vào thời kỳ khởi đầu Giao Ước, khi đáp lại tiếng gọi của Chúa, ông Môsê đã xưng mình là tôi tớ (x. Xh 4, 10; 14, 31). Khởi đầu Giao Ước Mới, Đức Maria cũng đáp lại với Thiên Chúa bằng thái độ phục tùng và phó thác một cách có ý thức đối với Thánh Ý Nguời, qua đó cho thấy rằng Mẹ sẵn sàng làm ‘tôi tớ của Chúa’. Trong Cựu Ước, danh vị ‘tôi tớ’ của Thiên Chúa bao gồm tất cả những ai được kêu gọi thực thi một nhiệm vụ cho dân được chọn: Abraham (St 26,24), Isaac (St 24,14), Giacob (Xh 32, 13), Giôsuê (Gs 24,29) David (2 Sm 7,8) v.v. Các tiên tri và tư tế, những nguời được trao phó nhiệm vụ giáo dục dân chúng để trung thành phục vụ Thiên Chúa, cũng là các tôi tớ. Sách tiên tri Isaia ca tụng tinh thần vâng phục của ‘Người tôi tớ đau khổ,’ một gương mẫu cho lòng trung tín với Thiên Chúa, với hy vọng chuộc tội cho muôn dân (x. Is 42, 53). Một số phụ nữ cũng nêu gương trung thành, chẳng hạn nữ hoàng Esther, trước khi cầu xin cứu vớt người Do Thái, cũng đã dâng lên Thiên Chúa lời nguyện, bằng cách tự xưng nhiều lần là ‘nữ tì của Ngài.’ (Et 4,17). 2. Khi tự xưng là ‘nữ tì của Thiên Chúa,’ Đức Maria, đầng ‘đầy ân phúc,’ sẵn sàng hiến thân để thực hiện một cách trọn vẹn công việc mà Thiên Chúa chờ đợi nơi dân Người. Những lời “tôi là tôi tớ của Thiên Chúa” loan báo Đấng sau này sẽ tự nói về mình: “Con Người không đến để được hầu hạ mà để hầu hạ và thí mạng sống mình để làm giá chuộc muôn dân.” (Mc 10, 45; x. Mt 20,28). Như thế, Chúa Thánh Thần đã thực hiện giữa Mẹ và Con một sự hoà nhịp nội tâm, giúp Đức Mẹ chu toàn vai trò làm mẹ của Chúa Giêsu, bằng cách đồng hành với Mẹ trong sứ mạng làm tôi tớ. Trong cuộc đời Chúa Giêsu, ý muốn phục vụ là một điều thường xuyên và đáng ngạc nhiên: thật vậy, với tư cách là Con Thiên Chúa, hẳn Ngài có quyền chính đáng để được phục vụ. Và khi tự xưng là ‘Con (loài) Người’, một danh vị mà sách Daniel từng khẳng định: “Mọi dân tộc, mọi quốc gia và mọi miệng lưỡi sẽ phục vụ Người” (Dn 7,14), hẳn Ngài có thể cho mình cái quyền thống trị kẻ khác. Trái lại, đi ngược với não trạng của thời ngài, thể hiện qua khát vọng của các môn đệ muốn Ngài giữ một vai trò hàng đầu (x. Mc 9,34) và qua sự phản đối của Phêrô khi Ngài rửa chân ông (Ga 13,6), Chúa Giêsu không muốn được hầu hạ, mà lại muốn hầu hạ cho đến độ trao ban trọn vẹn mạng sống mình để hoàn tất công trình cứu chuộc. 3. Khi nghe Thiên thần loan báo, dù ý thức về địa vị cao sang mà mình được cắt đặt, thì Đức Mẹ cũng vẫn hồn nhiên tuyên bố rằng mình là “nữ tì của Thiên Chúa.” Với thái độ hiến thân để hầu hạ này, Mẹ đã cũng đã bao gồm luôn việc phục vụ cho tha nhân, như ta thấy ở tương quan giữa biến cố Truyền Tin và Đi Viếng: Khi Thiên thần cho biết rằng bà Êlisabet đang cưu mang một người con, Đức Mẹ ‘vội vã’ lên đường (Lc 1,39) để sang Giuđê mà giúp đỡ chị của mình chuẩn bị ngày khai hoa nở nhụy, với thái độ luôn luôn sẵn sàng. Qua đó, Mẹ đã đề ra cho Kitô hữu mọi thời đại một mẫu gương phục vụ tuyệt hảo. Những tiếng “Xin thành sự nơi tôi theo lời ngài” (Lc 1, 38), cho thấy rằng ‘người nữ tì của Thiên Chúa’ hoàn toàn vâng phục Thánh Ý Chúa. Thể liên tiếp (subjunctive) của từ ‘genoito’ ‘xin thành sự,’ ‘hãy xảy ra,’ mà thánh Luca dùng, nói lên chẳng những sự ưng thuận mà còn là tinh thần lãnh trách nhiệm đối với kế hoạch của Thiên Chúa, một kế hoạch mà Mẹ xem là của mình qua việc sử dụng mọi tiềm năng của bản thân mình. 4. Khi đối diện với Thánh Ý Chúa, Đức Mẹ đã thực thi trước và biến thái độ của Chúa Giêsu thành chọn lựa của mình; mà theo thư Do Thái, Chúa Giêsu đã nói khi nhập thế: “Cha đã không ưa hy tế và lễ vật, nhưng Cha đã ban cho con một thân xác... Vậy thì Con nói: Này con đây, lạy Cha, Con đến để làm theo ý Cha.” (Dt 10, 5-6: Tv 40, 7-9). Vả lại, tinh thần vâng phục của Đức Mẹ thể hiện và tiên báo cho tinh thần vâng phục mà Chúa Giêsu đã bộc lộ trong đời sống công khai và cho đến Núi Sọ. Chúa Kitô sẽ nói: ‘Lương thực của Thầy là làm theo ý của Đấng sai phái Thầy.’ (Ga 4,35). Cùng thể thức ấy, Đức Mẹ đã xem Thánh Ý Chúa Cha là nguyên tắc xuyên suốt cuộc đời Mẹ, và tìm ra nơi ấy sự mạnh cần thiết để chu toàn sứ mạng được giao. Nếu vào lúc Truyền Tin, Đức Mẹ chưa biết đến những hy sinh liên quan đến sứ mạng của Chúa Kitô, thì lời tiên tri của ông Ximêôn đã hé cho Mẹ thấy số phận bi thảm của Con mình (x. Lc 2, 34-35). Đức Mẹ kết hiệp vào vận mệnh đó bằng cách tham dự sâu xa. Qua sự vâng phục hoàn toàn đối với Thánh Ý Chúa, Đức Mẹ sẵn sàng đón nhận tất cả những gì mà Tình Yêu Thiên Chúa phóng chiếu vào cuộc đời của Mẹ, kể cả ‘lưỡi gươm’ xuyên thâu tâm hồn mình● ¶ CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH NĂM B Lm. Vũ Xuân Hạnh Cuộc sống cần tình yêu. Nhân loại cần tình yêu. Mỗi người sống trong cuộc đời này đều cần tình yêu. Bạn và tôi cũng thế: rất cần tình yêu. Có thể nói, tình yêu là lẽ sống, là niềm hạnh phúc, là sự bình an của tất cả mọi người, không trừ ai. Vì tình yêu quan trọng đến thế, cho nên trước khi rời bỏ thế gian, trước lúc chia tay các tông đồ, những người được Chúa Giêsu yêu thương nhiều, Người đã không để lại một tài sản nào, không trối trăn một kho tàng vật chất lớn lao nào, nhưng chỉ để lại lời di chúc ngắn ngủi, qua đó gởi gắm một tâm tư quí báu: “Các con hãy yêu thương nhau.” Nhờ các con yêu thương nhau, mà tình yêu ấy trở thành dấu chỉ để “mọi người nhận biết các con là môn đệ Thầy.” Năm 1999, báo Tuổi Trẻ mở một cuộc thi viết mang tên: “Viết về cha tôi.” Trong cuộc thi này có rất nhiều người con viết về cha mình. Tuy có những người cha không làm tròn bổn phận làm cha, để lại sự u uất, có lúc là tất cả nỗi thèm khát tình cha của những đứa con. Nhưng những câu chuyện về những người cha thiếu trách nhiệm không nhiều. Độc giả cảm thấy vui vì những bài viết ca tụng người cha nhiều hơn. Những đứa con ca tụng cha mình, bởi cha nó yêu thương nó. Sau cuộc thi “Viết về cha tôi” đó, báo Tuổi Trẻ đã gom những bài viết hay thành cuốn sách với tựa đề: “Cao hơn đỉnh Thái.” Trong đó tác giả Nguyên Hương kể về kỷ niệm thời chiến tranh của mình. Giữa lúc bom đạn khói lửa như mưa của tháng 3.1975, để cứu lấy mạng sống của chính mình, gia đình phải chạy loạn. Có lẽ lúc bấy giờ Nguyên Hương chỉ mới là chú bé 12 hay 13 tuổi gì đó, cũng theo gia đình chạy loạn vào chùa. Trong chùa có vô số người chạy giặc. Sân chùa lớn là thế, bỗng chốc trở thành cả sân người. Ai cũng lộ rõ nét hồi hộp lo sợ trên gương mặt mình. Bom đạn như mưa, ai mà không sợ. Hình như nỗi hoảng sợ khiến con người ta ít nói hơn. Cả sân người đông đúc nhưng tiếng ồn ào không lớn, chỉ nghe như tiếng rì rào của gió. Giữa lúc mọi người đang nơm nớp sợ hãi, bỗng nhiên tiếng khóc của một đứa bé trên tay một người mẹ trẻ ré lên xé không gian. Tiếng khóc ré đòi sữa của đứa bé bất chấp tiếng đạn réo ngang trời và khói xám mịt mù. Bên cạnh người mẹ trẻ ấy là người cha của đứa bé cũng còn trẻ lắm, đang cố gắng đổ từng muỗng sữa vào miệng con. Người cha đã toát cả mồ hôi mà đứa bé vẫn không chịu uống một giọt nào. Bao nhiêu sữa đổ vào lại trào ra đầy mặt, chảy xuống cổ. Nó nhất định không chịu uống sữa bằng cách đổ từng muỗng vào miệng, chỉ đòi cho được cái chai và núm cao su mà nó vẫn thường mút, vì vội chạy nên cha mẹ của nó đã bỏ quên ở nhà. Tiếng khóc đòi hỏi rất quyền hành, càng lúc càng lớn. Một lúc sau, đứa trẻ đã hết hơi để khóc. Thấy con mình càng lúc càng tái đi vì đói và khóc, người mẹ cũng khóc theo. Thấy vậy, người cha đứng bật dậy, nói với vợ: “Để anh về lấy chai sữa cho con.” Người cha cúi xuống hôn con, rồi nắm tay vợ. Biết đâu đây là lần cuối cùng, anh nựng con, vì ngoài kia, tiếng đạn vẫn cứ réo ngang réo dọc. Người vợ nước mắt chảy dài thương chồng. Chị ôm chân chồng, miệng lắp bắp: “Lỡ có gì…” Nhưng người chồng gỡ tay vợ ra. Anh chạy đi trong làn đạn mịt mù, ai nhìn thấy cũng thương tâm, hồi hộp lo lắng cho anh.” Mọi người chờ đợi, chờ đợi. Rất lâu, rất lâu sau. Thật may mắn, anh đã trở lại: Và chai sữa trên tay! Tác giả kết luận bằng một câu thật ý nghĩa: “Người cha có còn nhớ lúc liều mình chạy về phía khói lửa hay đã lãng quên như bao điều cha mẹ đã quên mình cho con được bình yên.” Cuộc đời có rất nhiều thứ tình yêu: tình yêu đôi lứa, tình yêu bạn bè, tình yêu đồng đội, tình yêu của anh chị em một nhà và câu chuyện trên đây là tình yêu của cha mẹ với con cái. Tất cả những tình yêu đó đều cao đẹp, đều phù hợp ý Chúa. Vì yêu thương là điều Chúa dạy, hơn nữa đó là lệnh truyền của Chúa: “Thầy truyền cho các con điều này là: các con hãy yêu mến nhau,” vì thế không ai có quyền từ chối yêu thương, càng không có quyền thù nghịch anh chị em mình. Có yêu nhau thật lòng, người ta mới có thể sống cho nhau, chết vì nhau. Vì yêu con, người cha trong câu chuyện bên trên đã quên cả mạng sống của mình. Nhưng đâu phải chỉ có tình yêu cha mẹ với con cái mới huyền nhiệm như thế, tất cả chúng ta đều có thể làm gì đó để gọi là yêu thương đối với anh chị em mình. Thử tưởng tượng, một thế giới không có tình yêu, không ai yêu ai, thì thế giới sẽ kinh khủng biết chừng nào. Bởi đi tới đâu, ta cũng chỉ thấy thù hận, bạo động, diệt chủng. Hãy yêu thương, hãy trao tặng cho nhau tình yêu thật lòng để cuộc đời đáng yêu và đáng sống. Tình yêu sẽ làm cho cả người đang yêu lẫn người được yêu bình an và hạnh phúc. Mỗi thánh lễ đều là một cử hành về Tình Yêu lớn lao vô bờ, không phải giữa những con người mà là Thiên Chúa đối với con người. Dâng thánh lễ Chúa nhật thứ VI phục sinh hôm nay, xin cho bạn và tôi gặp lại chính mình là kẻ đã được Chúa yêu, để càng ngày càng ý thức hơn tình yêu bản thân với anh chị em xung quanh. Và xin Chúa luôn thanh luyện tình yêu trong ta để từng lúc, ta biết chân thành yêu Chúa nhiều hơn và yêu người như yêu Chúa, yêu người như Chúa yêu ta
¶
Thiên Chúa muốn chúng
Cũng tương tự như thế, nền văn hóa Công giáo thường đề cao sức mạnh của sự đau khổ đem lại sự cứu rỗi. Hẳn nhiên tất cả chúng ta đều lỗi phạm, và chúng ta phải có trách nhiệm phục vụ Thiên Chúa và nhân loại. Tất cả chúng ta đều chịu đau khổ, và chúng ta an ủi bằng cách cho rằng theo Chúa là Đấng đã chịu đau khổ vì chúng ta. Nhưng chúng ta cũng được kêu gọi để hưởng hạnh phúc với Ngài, và để cảm nghiệm được niềm vui đi cùng ơn cứu độ. Trong bài Phúc Âm của chúa nhật tuần này, Chúa Giêsu đã giới thiệu một mệnh lệnh trọng tâm của sứ vụ Ngài và Giáo Hội được xây dựng qua Danh Ngài: “Đây là lệnh truyền của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Chúa Giêsu đã cũng đã chỉ ra rằng: “Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.”
Chúng ta hãy nhìn thẳng vào vấn
đề. Chúa Giêsu đã không phán bảo rằng: “Đây là lệnh truyền của
Ta: Hãy nhớ tội lỗi các ngươi đã làm như Ta phải nhắc nhở cho
các ngươi Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta hãy yêu thương nhau. Và Ngài cũng nói những điều như thế để chúng ta có niềm hạnh phúc tuyệt vời mà không ai có thể cướp mất được. Thiên Chúa muốn chúng ta được hạnh phúc. Như thế không có nghĩa rằng Thiên Chúa muốn cho chúng ta tất cả những gì chúng ta yêu cầu đòi hỏi, như Ngài cũng sẽ chẳng làm hư chúng ta giống như những bậc cha mẹ luời biếng. Thiên Chúa muốn chúng ta cảm nghiệm niềm vui, một niềm vui trọn vẹn. Vì thế mà tại sao chúng ta được kêu gọi để sám hối về những lỗi phạm của mình. Vì thế cho nên vì sao chúng ta được kêu gọi sống điều răn quan trọng nhất là – yêu thương nhau như Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta. Yêu thương và vui mừng. Đó là tất cả đặc tính và là trọng tâm của đức tin Kitô giáo. Thật là dễ dàng để đánh mất sự hiểu biết về những nhân đức này nếu chúng ta chỉ nghe nói về các Kitô hữu qua các phương tiện truyền thông. Người ta nói chúng ta chỉ quan tâm đến các đề nghị đưa ra bầu cử và luật pháp liên bang, và về các chính sách xem xét hành vi người khác. Có lẽ một số người trong chúng ta cảm nghiệm đức tin trong những từ ngữ này. Nhưng tôi thì chưa hề gặp được người như thế. Hầu như những người tôi biết muốn theo Chúa Giêsu, chỉ muốn điều mà Chúa Giêsu nói trong Phúc Âm hôm nay: Yêu thương và Vui mừng. Hẳn nhiên, tất cả chúng ta đều bị lạc hướng bởi truyền thống trong chính Giáo Hội của mình, và cũng vậy, chúng ta thường vẫn chú trọng nhiều hơn vào những lầm lỗi, thất bại hơn là dừng lại và chú tâm đến tình yêu của Chúa và mục đích Chúa muốn cho đời chúng ta. Ngài chết đi cho chúng ta được sống, chứ không phải để chúng ta chết hàng ngàn lần vì những dày vò và tự trừng phạt mình mỗi ngày. Chúng ta được kêu gọi đón nhận trách nhiệm về những vấp ngã và yếu đuối của mình. Và chắc chắn chúng ta đôi khi phải được học đau khổ như Đức Kitô cũng đã chịu đau khổ…. Nhưng trên hết và cần thiết hơn cả là chúng ta được kêu gọi để yêu thương nhau và để cảm nghiệm và chia sẻ tình yêu và niềm vui của Đấng đã phục sinh. Alleluia!
¶
Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay(tiếp theo Maranatha_77) Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.********** Lời Tự Thú của một Người Chồng - Victor Stanley Basnayake (Malaysia) “Vợ chồng tôi như chó với mèo.” Góp gió thành bão. Chuyện nhỏ mà nhiều sẽ trở thành to, lời cay mà nhiều đủ nát tâm hồn. Tôi đã cầu xin Chúa giúp tôi chấm dứt cái tình trạng nầy. Một hôm, chúng tôi có nguy cơ lại "lấn chiếm," tôi tự bảo mình phải giữ sự yên lặng rồi sau đó tôi ôm lấy nàng và nói: "Anh yêu em." Hành động đó đã có tác dụng: bằng nhiều cách nàng tỏ ra hơi tiếc, và tôi cũng thế. Thiên Chúa từ bi đã ban sự thuận hòa một cách dễ dãi làm sao: Chỉ với ba tiếng: “Anh yêu em” ngắn ngủi. Ðã từ lâu rồi tôi cố gặp gỡ Ðức Kitô nơi người khác, nhưng hầu hết là tôi nổi đóa với họ. Mỗi khi nói về người khác, dường như tôi chỉ thấy các khuyết điểm của họ, hầu như tôi không thể chịu được. Tôi đã cầu nguyện rất nhiều để thoát khỏi tình trạng đó. Rồi lần kia, tôi bỗng nẩy ra ý nghĩ: "Vì sao Ðức Giêsu lại chọn một cái chuồng bò để sinh ra nhỉ?" Những câu trả lời thông thường đại loại "vì Ðức Giêsu khiêm nhường" đã không làm tôi thỏa mãn. Rồi tôi đã được soi sáng để thấy rằng: vì đó là chỗ cư ngụ của Người, mọi người là đền thờ của Thiên Chúa. Thế mà tôi đã cả gan nói xấu đền thờ Thiên Chúa: Ðiều quan trọng là tôn thờ Chúa Giêsu, chứ đừng bận tâm về tình trạng của chuồng bò. Ba nhà đạo sĩ đã chẳng làm thế đó sao: Bây giờ tôi đã dễ dàng yêu mọi người vì biết rằng Chúa Giêsu sống trong họ. Xin ngợi khen Ngài. "Nếu hạt giống mà không thối đi, thì nó không thể sinh bông trái.” Tôi bắt đầu hiểu rằng mình là hạt giống và tự hỏi một hạt giống đã phát triển và sinh bông trái bằng cách nào. Trước hết nó được gieo xuống, rồi phải chấp nhận nứt ra, phải hấp thụ nước và nắng ấm. Khi ấy và chỉ khi ấy nó mới có thể lớn lên thành cây và tiếp tục cần đến nước và ánh sáng để sinh quả. Tôi cũng thế. Tôi phải nứt ra cái vỏ tội lỗi của mình, mở lòng đón nhận ân sủng và tình yêu Thiên Chúa, chỉ khi ấy tôi mới có thể lớn lên và được biến đổi để sinh nhiều hoa quả. Chúa đã dạy tôi như thế. Vốn là một người làm vườn, tôi đã có dịp quan sát một số cây lớn bị làm chết nghẹt. Ðó là những cây đại thụ tưởng chừng như bộ rễ của chúng không quan trọng. Nhưng bỗng nhiên bộ rễ lớn phình ra và rốt cuộc đã rút sự sống ra khỏi những cây này để cuối cùng chúng chết tiệt. Tôi cũng vậy. Nếu tôi dung dưỡng những thói xấu nơi mình, chẳng bao lâu sự sống của tôi sẽ bị nghẹt và tôi sẽ chết. Thường xuyên giải phóng mình ra khỏi những tôi nhẹ, nhờ các bí tích, để giữ mình trong tình trạng an toàn thật quan trọng biết bao: Tôi cố gắng đi xưng tội ít nhất một lần mỗi tháng để nhổ hết những tội nầy. Có lần tôi chạy đến tòa giải tội để xưng một tội thiếu thành thật mà mình đã phạm, nhưng tôi đã trình bày một cách rất chung chung. Nghĩa là tôi đã không cởi mở trong việc xưng tội mình. Ðiều nầy làm tôi bất an mãi cho tới khi tôi dứt khoát xưng tội một cách đơn sơ cởi mở. Cần phải đơn sơ như một đứa trẻ để nói: "Con đã làm chuyện đó, con xin lỗi." Ôi tình yêu Thiên Chúa thật tràn trào trên chúng ta. Người ta cảm thấy rất tự do, rất sung sướng, và tâm hồn họ không còn dính bén tội đó nữa. Xin tạ ơn Chúa. Mỗi khi muốn rót đầy một chai nước, tôi thấy không phải là một chuyện dễ, vì không khí bên trong chai sẽ tạo ra một sức đề kháng. Tôi cũng thế: Tôi muốn mình đầy tràn tình yêu và ân sủng Chúa nhưng tình yêu đối với các của cải thế gian và sự dễ dãi đối với chính mình... đã đề kháng lại. Càng sớm dốc sạch các thứ hão huyền nầy và những thú vui mau qua tôi càng sớm mở lòng ra được để đong đầy tình yêu và ân sủng Chúa. Hạnh phúc thật sự không nằm nơi của cải vật chất, nhưng nơi tình yêu của Thiên Chúa. Nếu tôi chiếm được Người là tôi đã chiếm được tất cả. Tôi thường nói "đây là vợ của tôi,","con cái" "của tôi" tài sản "của tôi.. Của tôi, của tôi: tôi tự hỏi: Có thật đó là của mình? Và tôi nhận ra ngay rằng mình không hề là chủ. Tôi không có quyền trên họ. Vậy chứ tôi sở hữu cái gì? Chỉ có các bổn phận. Mọi sự đều thuộc về Thiên Chúa. Tôi chỉ là một người quản lý các tài sản của Người và vì thế tôi có những trách nhiệm, những bổn phận đối với các phần việc của mình... vợ con, và các của cải của tôi sẽ được điều đó khi chu toàn các bổn phận của mình. Người ta không chiếm hữu được gì vĩnh viễn dưới gầm trời này, chỉ có Thiên Chúa mới trường cửu. Hãy chiếm hữu Ngài: Tại sao tôi vấp ngã? Vì:
1. Tôi xao
nhãng cầu nguyện. Nếu như mọi thứ nơi tôi đều hoàn hảo thì chắc tôi là một người máy. (Còn tiếp)
¶ VÀ NHỮNG TIẾNG NÓI TỪ VATICAN Trần Duy Nhiên tổng hợp Ngày 16-3-2005, trong một cuộc phỏng vấn của tờ nhật báo “Il Giornale” tại Milan, Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, Tổng Giám mục Genoa, nhấn mạnh rằng cuốn tiểu thuyết của Dan Brown, The Da Vinci Code, ‘nhằm gạt bỏ Giáo Hội và lịch sử Giáo Hội bằng cách tung ra những điều bẩn thỉu phi lý.” Trước đó, chưa bao giờ một giới chức Công Giáo ở phẩm trật của ngài đã lên tiếng về cuốn sách nói trên. Có lẽ thấy rằng cuốn sách đó - một cuốn tiểu thuyết giải trí thuần túy, gây tò mò để câu khách - nêu những giả thuyết ‘buồn cuời’ quá về Chúa Kitô và về Giáo Hội, nên Tòa Thánh không muốn trở thành ‘buồn cười’ khi phải nói đi nói lại về cuốn sách ấy (và lại gián tiếp gây thêm tò mò, nghĩa là quảng cáo để tác giả và nhà xuất bản kiếm thêm lợi nhuận trên cuốn sách đó!) Tuy nhiên, quá nhiều người, kể cả một số tín hữu Công Giáo, bị tung hỏa mù; cho nên, ngoài việc mua sách để đóng góp thêm cho túi tiền của nhà xuất bản và tác giả, họ còn bị chới với trước những luận điệu ‘nói láo như thật.’ Trước thực tế đó, Đức Hồng Y buộc phải lên tiếng cảnh báo. Ngài nói: “Ta có thể thấy cuốn sách này có mặt khắp nơi, và nguy cơ là có nhiều người đọc sách đó rồi nghĩ rằng những chuyện ‘cổ tích’ đó là chuyện thật. Tôi nghĩ rằng chúng ta có bổn phận phải làm rõ vấn đề để lột mặt nạ những lời dối trá bần tiện đó!” Dan Brown bảo rằng Holy Graal không phải là cái Chén Thánh được Chúa Kitô dùng trong bữa Tiệc Ly, nghĩa là trong bữa ăn cuối cùng Ngài dùng với các tông đồ, nhưng đấy là dòng dõi con cháu của bản thân Ngài. Đối với Đức Hồng Y Bertone, ý tưởng này không gì khác hơn là một ‘suy nghĩ đồi bại’ (perversion): “Giống như thể ta trở lại với những bài đả kích Giáo Hội và hàng giáo phẩm vào thập niên 1800.” Sở dĩ có cuộc phỏng vấn này, ấy là vì ngày hôm trước, 15-3-2005, ngài đã lên tiếng trên Radio Vatican để mạnh mẽ phê phán cuốn tiểu thuyết ấy. Tuy lời phát biểu của Đức Hồng Y không được xem như là tiếng nói chính thức của Tòa Thánh, nhưng thế giá và uy tín của ngài đủ đảm bảo cho chúng ta xem những nhận định hôm ấy phản ảnh lập trường của Giáo Hội. Quả thật, trước khi được bổ nhiệm Tổng Giám Mục Genoa, ĐHY Bertone từng là thư ký - nghĩa là nhân vật số hai - tại Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, cạnh vị chủ tịch là ĐHY Joseph Ratzinger, hiện nay là Giáo Hoàng Bênêđitô XVI. Ngài cũng đã từng được xem là một trong các hồng y có khả năng kế vị Đức Gioan Phaolô II. Ngài nhận định rằng: “Lời dụ dỗ quan trọng hay tệ hại nhất, ấy là gợi ý rằng người ta không thể làm một người của thời đại nếu chưa đọc cuốn ‘Da Vinci Code.’ Từ đó, cái khẩu hiệu được tung ra trong các trường học, ấy là cần phải đọc cuốn sách này mới hiểu được lịch sử và thấy rõ mọi trò đánh tráo mà Giáo Hội đã thực hiện trong quá trình lịch sử. Đây quả là một sự kiện đau đớn và tàn bạo. Chúng tôi nhận thức được tốc độ mà sách ấy được phổ biến trong các trường học và vì thế chúng tôi đã đề ra một cách thức suy nghĩ và đối diện công khai và dứt khoát với hiện tượng này.” Đức Hồng Y thẳng thắn nói rằng trong cuốn sách đó có nhiều ‘sai lạc.’ Ngài giải thích như sau: “Cuốn sách khẳng định cái gọi là ‘xóa bỏ’ hình ảnh người nữ trong các tường thuật Phúc Âm và trong đời sống Giáo Hội. Không có gì sai cho bằng! ... Ta biết rằng trong Phúc Âm thì Đức Mẹ, gương mặt Người Nữ tiêu biểu, có một chỗ đứng trỗi vượt. Đức Mẹ, Mẹ Chúa Giêsu, cùng với nhóm người nữ trong các tường thuật Tân Ước, nghĩa là trong các sách Phúc Âm, có một đời sống thiêng liêng tương đương với Nhóm Mười Hai Tông Đồ. Ta cũng thấy nhắc đến các nữ trợ tá (mà tiếng Việt ngày nay dịch là ‘phó tế’) trong Giáo Hội tiên khởi: do đó, thật là sai lầm khi cần phải tìm lại một Maria Mađalêna ‘chịu chơi’ - không biết phải gọi thế nào cho đúng cách diễn tả của Dan Brown - mới tìm lại được sự hiện hiện của người nữ! Một yếu tố khác - yếu tố sai lạc nhất - ấy là phủ nhận cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu: các tường thuật Phúc Âm về cuộc Thương Khó của Đức Kitô là những tường thuật tỉ mỉ, rõ ràng, và trung thực đến độ Mel Gibson phải nói lên tiếng nói ‘hãi hùng nền tảng’ qua cuốn phim ‘Thương Khó’ (The Passion of Christ). Đấy không phải là tiếng ‘hãi hùng nền tảng’, mà là một mô tả chính xác, đúng như các tường thuật Phúc Âm. Cái chết của Đức Giêsu đã được chứng minh một cách không thể phủ nhận được, cũng như sự phục sinh của Ngài. Cuốn sách kia (The Da Vinci Code) đầy dẫy những lời bịa đặt dối trá!” Thế như vì sao cuốn sách lại thành công như vậy? Trả lời cho câu hỏi này, Đức Hồng Y nói: “Tôi nghĩ rằng có một chiến lược đằng sau việc phổ biến cái lâu đài của những lời dối trá này, đặc biệt - không còn nghi ngờ gì nữa - là sau biến cố Năm Thánh. Chắc chắn là Giáo Hội, cùng với Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đã có một tác động mạnh đối với nhân loại hiện nay, và điều này đã làm cho nhiều người lo ngại. Chiến lược phát hành đã gây một phong trào xâm nhập thị trường rất rộng lớn, ngay cả tận những nhà sách Công giáo, và tôi đã phàn nàn vì có nhiều nhà sách Công giáo mua sách này hàng chồng, chỉ vì lý do lợi nhuận... Ngoài ra, còn có một sách lược nói khích: bạn chưa phải là một Kitô hữu trưởng thành nếu bạn chưa đọc cuốn sách ấy. Vì thế, đây là lời kêu gọi của tôi: Đừng đọc cuốn sách đó, và nhất là đừng mua cuốn sách đó!” Radio Vatican hỏi: - Theo nhà xã hội học Philip Jenkins, sự thành công của cuốn sách này xuất phát ở sự kiện là chủ nghĩa chống Công giáo là ‘định kiến cuối cùng mà người ta còn chấp nhận.’ Đức Hồng Y nghĩ thế nào? Ngài trả lời: - Đúng vậy! Có một định kiến chống Công Giáo. Tôi tự hỏi: nếu người ta viết một cuốn sách với đầy dẫy dối trá như thế về Đức Phật, Đức Mahomet, hoặc giả nếu người ta phát hành một cuốn sách bóp méo lịch sử về biến cố Shoah (cuộc diệt chủng của Hitler đối với người Do Thái), thì chuyện gì sẽ xảy ra? Thế mà người ta lại viết một cuốn tiểu thuyết bóp méo sự kiện lịch sử, hoặc nói xấu, hoặc bôi nhọ một nhân vật lịch sử có uy tín và thế giá trong lịch sử Giáo Hội, và lịch sử nhân loại! Một năm sau, ngày 28-4-2006, trước sự kiện là cuốn Phim Da Vinci Code sắp được tung ra, Đức cha Angelo Amato, đương kim thư ký Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin thay Đức Hồng Y Bertone, đã kêu gọi mọi người tẩy chay cuốn phim đó. Ngài tuyên bố: “Tôi mong rằng anh chị em sẽ tẩy chay cuốn phim này” bởi vì nó đầy dẫy “những lời nhục mạ, vu cáo, sai lầm lịch sử và thần học liên quan đến Chúa Giêsu, đến Phúc Âm và đến Giáo Hội”. Những xúc phạm này, “nếu xảy ra đối với kinh Coran hay biến cố Shoah, thì sẽ gây ra một sự nổi dậy khắp nơi trên thế giới. Thế nhưng, vì nó nhắm đến Giáo Hội công giáo, nên không bị trừng phạt!” Ngài cũng nói rằng: “Đối với những trường hợp này, Kitô hữu nên nhạy cảm để phủ nhận những lời dối trá và bôi nhọ một cách vô tội vạ kia.” Và ngài cũng nhắc rằng năm 1988, phim “Cơn Cám Dỗ Cuối Cùng” (The Last Temptation of Christ) của Martin Scorsese, theo tiểu thuyết cùng tên của Nikos Kazantzakis, ‘đã bị tẩy chay một cách xứng đáng’ và đã thua lỗ mọi mặt, kể cả về mặt tài chánh. Riêng Opus Dei thì không kêu gọi tẩy chay gì cả, có lẽ vì không muốn gián tiếp quảng cáo cho phim này như trường hợp phim ‘Cuộc Thương Khó Chúa Kitô’ (The Passion of Christ) của Mel Gibson. Tuy nhiên, Hội đã yêu cầu Hãng Sony nói rõ ở đầu phim rằng đây chỉ là một tác phẩm hư cấu (fiction). Cho đến giờ, Sony chưa trả lời yêu cầu trên. Opus Dei lên tiếng như sau: “Da Vinci Code bóp méo hình ảnh của Giáo Hội Công Giáo. Việc truyền bá cuốn sách cũng như cuốn phim là một cơ hội để Giáo Hội bộc lộ chân tính. Trong Thông Điệp Deus Caritas Est, (Thiên Chúa Là Tình yêu) Đức Bênêđitô XVI nhấn mạnh rằng bác ái là một nét chủ yếu của Giáo Hội: Như vậy, tình yêu chính là lối phục vụ mà Giáo Hội thực hiện để đáp ứng với những đau khổ và những nhu cầu, kể cả vật chất, của con người. Ngài cũng nhắc đi nhắc lại về Lòng Thương Xót Chúa và nếu ta muốn giải độc hữu hiệu thì phải trình bày gương mặt trung thực của Thiên Chúa và Con của Người.”
¶ The Da Vinci Code CƠN HỒNG THỦY ĐỊNH CUỐN TRÔI TÒA NHÀ GIÁO HỘI?!!! Trần Mỹ Duyệt I. BIỂN BẰNG NỔI SÓNG Ngày 17 tháng 5 năm 2006, phim Da Vinci Code mang cùng tựa đề với cuốn tiểu thuyết của Dan Brown sẽ được trình chiếu tại Cannes, và sau đó được tung ra thị trường. Tại Hoa Kỳ những quảng cáo rầm rộ đã được thấy trên mọi nẻo đường, và ước tính có khoảng 10 triệu người sẽ đi xem phim này, một con số tương đương với người đã mua và đọc cuốn tiểu thuyết đó. Nội dung cuốn tiểu thuyết được tóm gọn lại như sau: Chúa Giêsu không sống đời độc thân như Kitô hữu trải qua hơn 2000 năm vẫn tin tưởng. Trên thực tế, Ngài đã có vợ, và người vợ ấy chính là Maria Mađalêna. · Trước khi tắt thở trên thập giá, Chúa Giêsu đã giao phó nhiệm vụ điều hành Giáo Hội của Ngài cho Maria Mađalêna. · Tông Đồ đoàn sau đó đã tìm cách giết Maria Mađalêna khiến nàng phải chạy trốn qua Pháp trong khi mang trong bụng đứa con gái của Chúa Giêsu và của nàng. Phêrô trong thời gian làm thủ lãnh Giáo Hội đã cố gắng loại bỏ địa vị của Maria Mađalêna và không bao giờ đề cập đến nàng vì muốn dành quyền độc tôn nam giới. · Giáo Hội Công Giáo tìm mọi cách che đậy bí mật cuộc tình giữa Chúa Giêsu và Maria Mađalêna cũng như ý muốn của Chúa Giêsu khi trao quyền lãnh đạo Giáo Hội của mình cho Maria Mađalêna. Những người được trao cho nhiệm vụ tìm kiếm và thủ tiêu miêu duệ của Chúa Giêsu là tu hội Opus Dei, một tổ chức Công Giáo được Thánh Josemaria Escriva sáng lập năm 1928 tại Tây Ban Nha. · Người biết được những bí mật về thân thế và gia cảnh Chúa Giêsu cũng như cuộc tình giữa Ngài và Maria Mađalêna là Leonardo Da Vinci (1452-1519). Ông đã dấu bí mật này trong tác phẩm Bữa Tiệc Ly khi vẽ Thánh Gioan với hình dạng và ngón tay thon thả như đàn bà. Ông có ý ám chỉ rằng Gioan đấy là hiện thân của Maria Mađalêna. Ngoài ra, trong bữa Tiệc Ly hôm ấy Da Vinci không vẽ chén thánh, cũng ngầm ý rằng Maria Mađalêna chính là chén thánh, vì nàng đang mang trong dạ mình hạt máu là mầm sống của Chúa Giêsu. Để làm cho sống động và thêm phần hấp dẫn câu truyện, Dan Brown đã đưa vào cốt truyện những màn đấu trí, những pha rượt bắt, những mật mã và các lối giải mã, những thủ thuật của ngành gián điệp, và hàng loạt những hành động do trí tưởng tượng của ông. Nhất là đưa câu truyện vào những thời điểm và địa điểm có tích cách lịch sử như việc trở lại Công Giáo của Hoàng Đế Constantine, Công Đồng Nicarea năm 325, Tu Hội Opus Dei. Hoặc những tổ chức do ông tưởng tuợng như hội kín Priory of Sion nhằm bảo vệ sự thật về cuộc hôn nhân giữa Chúa Giêsu và Maria Mađalêna. Thật ra, một cuốn tiểu thuyết viết về một cuộc tình mùi mẫn, một cuộc rượt bắt, hoặc giải thoát con tim nghẹt thở như thế, hoặc bất cứ một câu truyện tình nào khác, thì dù có hấp dẫn, mê ly, rùng rợn đến đâu đi nữa cũng chỉ được một số ít người đọc. Và đọc rồi cũng quăng bào sọt rác, hay để đâu đó trên tủ sách. Nó cũng chẳng được ai nhắc tới, hay tranh cãi, bởi đó chỉ là “tiểu thuyết,” mà ai cũng hiểu rằng tiểu thuyết là sản phẩm do trí tưởng tượng của tiểu thuyết gia. Nhưng cuốn tiểu thuyết Dan Vinci Code của Dan Brown đã không chỉ bao gồm những yếu tố tâm lý, tình cảm, xã hội, chính trị, hoặc những cảnh gợi cảm, ướt át của một chuyện tình. Nó cũng không chỉ bao gồm những pha rượt bắt, theo dõi, thủ tiêu, và những cuộc đấu trí nẩy lửa giữa các nhân vật trong câu truyện. Điểm hấp dẫn và thu hút nổi cộm ở tác phẩm và cuốn phim này là viết và diễn tả về một đời sống tình ái và cuộc đời của Giêsu Nazareth – Thiên Chúa Nhập Thể, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ Nhân Loại. Điểm được nhận ra rõ ràng nhất là vì Đức Giêsu đã thiết lập Giáo Hội, và sinh hoạt Giáo Hội này không chỉ giải thoát con người khỏi vòng u minh của nếp sống lần than vật chất, mà là đường đưa chúng ta về Thiên Đàng. Nó hoàn toàn trái ngược lại với quan niệm và lối sống tự nhiên của con người, của thế gian, vốn hằng bị những đa mê, dục vọng, lối sống buông thả, Satan và đồ đệ của chúng đã bủa vây và mê hoặc. Cuộc chiến âm thầm nhưng rất sôi động giữa “sống và chết,” giữa “thiện và ác” ấy không ngừng lại ở cái chết của Chúa Giêsu trên thập tự, mà nó vẫn kéo dài cho đến ngày tận thế, lúc âm ỷ, lúc bùng nổ. Tụ điểm quyền lực mà Satan và thế giới đen tối căm thù, ghen tỵ, và tìm cách tấn công là Giáo Hội của Chúa Kitô – được gán cho cái tên là trung tâm quyền lực Vatican - và các tín hữu Công Giáo. Chính ở điểm này, mà tác phẩm Da Vinci Code được nhiều người “tò mò” tìm đọc, cũng như phim này sẽ được nhiều người “hăm hở” đón xem. Giáo Hội Công Giáo, hoặc các giáo phái khác có muốn ngăn cản thì cũng không được, vì: Tôi cần phải đọc tiểu thuyết này để hiểu xem Giêsu đã yêu Maria Mađalêna như thế nào. Họ tỏ tình ra sao? Sinh hoạt tình ái của họ làm sao? Đứa con gái trong bụng Maria Mađalêna ấy tên gì và sau này ra sao? Và hiện nay hậu duệ của Giêsu và Maria Mađalêna ở đâu, và có những ai? · Tôi phải đi xem phim để nhìn xem cách thức tỏ tình, những màn âu yếm, ân ái và cách thức cư xử của Giêsu đối với Maria Mađalêna như thế nào? Giêsu nói gì với nàng trên thập giá. Nàng phải lao đao, chạy trốn tập đoàn Tông Đồ tìm cách giết hại như thế nào? · Nhưng nhất là, tôi muốn đọc, và xem để hiểu tại sao Vatican, tại sao người Công Giáo lại yêu, lại mến, lại tôn thờ một con người trần tục và không khác gì chúng ta vậy? II. CƠN HỒNG THỦY THỜI ĐẠI Cơn sóng dữ Da Vinci Code đã trở thành một trận hồng thủy nguy hiểm với sức cuốn trôi nhiều sinh linh qua cái nhìn tâm linh và của Giáo Hội Công Giáo. Nó càng trở thành hung hãn hơn khi dựa vào kỹ thuật tân kỳ của ngành điện ảnh, sự khai thác của báo chí và truyền thông; đặc biệt là dựa vào quyền tự do ngôn luận của những quốc gia tôn thờ tự do cách quá trớn. Nó còn được sự tiếp tay của làn sóng duy vật và hưởng thụ. Ba cứ điểm hay tiền đồn bảo vệ niềm tin và sinh hoạt Giáo Hội Công Giáo đã và đang bị cơn hồng thủy này quét qua, đó là: 1) Niềm tin nơi Đức Kitô. 2) Vai trò ơn gọi trong Giáo Hội. 3) Nữ quyền trong Giáo Hội. Đây là 3 điểm nóng đang làm cho thế giới duy vật, vô thần, và vật chất ngày nay không thể hiểu và cũng không muốn hiểu. Bởi vì nó hoàn toàn xa lạ với trí khôn, và suy tư của con người thời đại. Ba đợt sóng ngầm này mới là những sức mạnh khiến có thể làm sụp đổ tòa nhà Giáo Hội. Và chắc chắn ở trong ba đợt sóng ngầm ấy có mặt của Satan và bè lũ chúng. 1. Niềm tin nơi Đức Kitô: Tính độc hại và nguy hiểm của cuốn tiểu thuyết Da Vinci Code là ở chỗ nhằm triệt tiêu và phá bỏ niềm tin vào Đức Kitô. Đây là điều mà tác giả của nó đã cố gắng thuyết phục độc giả bằng cách trưng dẫn những bằng cớ cho hay Đức Giêsu cũng chỉ là một thanh niên như mọi thanh niên, là một người đàn ông như mọi đàn ông. Và qua con người tự nhiên ấy, Giêsu cũng có người yêu, cũng có vợ và trước khi chết vợ cũng đang mang thai. Theo tác giả của cuốn tiểu thuyết này, thì cho đến Công Đồng Nicea năm 325, dưới sức ép của Constantine, các nghị phụ mới thừa nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Cái thâm hiểm của vấn đề là tác giả không hô hào và bắt buộc một ai bỏ đạo, chối bỏ tin nhận Đức Kitô là Chúa Cứu Thế, mà chỉ là đặt lại vấn đề cho có tính lịch sử, hợp với suy luận và sự thật. Mà tính lịch sử, suy luận và sự thật lại bị tác giả quảng diễn sai lạc. Chúa Giêsu đã có vợ và con. Vậy thì việc Ngài chết trên thập giá có phải là một sự thật không? Maria Mađalêna có bằng lòng cho Chúa chết như vậy không? Chết để làm gì? Chết cho ai? Làm sao nàng lại có thể để cho Chúa Giêsu xẻ thịt mình và lấy máu mình nuôi sống nhân loại? Tóm lại, nếu đó chỉ là những điều mà Giáo Hội Công Giáo phỉnh gạt, che dấu, và bôi bác thì “có ích gì cho niềm tin” của con người. Và con người có buộc phải tin nhận một điều mà xưa rầy vẫn được coi là thánh thiện, là cần thiết cho phần rỗi và ơn cứu độ của con người. Ở đây Dan Brown đã tỏ ra bén nhậy và bắt kịp với những thao thức của con người thời đại, một nhân loại đang bị hoang mang và lo lắng. Một nhân loại đang bị giằng co với ảnh hưởng giữa ảnh hưởng của nền văn hóa sự chết và niềm tin vào Đức Kitô tử giá và phục sinh. 2. Ơn gọi tu trì và tận hiến: Qua việc chứng tỏ Chúa Giêsu không phải là một người độc thân, vậy thì những môn đệ của Ngài có cần phải sống đời độc thân như hiện nay không? Nếu có thì sao? Và nếu không thì sao? Có lẽ tác giả muốn nhấn mạnh vào vết đau nhức nhối của Giáo Hội, đặc biệt là Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ qua biến cố khủng hoảng tình dục nơi một số giáo phẩm, linh mục và tu sĩ. Tác giả cũng như muốn xoáy vào bản năng dục vọng tự nhiên, khi thức tỉnh những đòi hỏi cuộc sống đồng tính nơi hàng giáo sỹ và tu sĩ. Ngoài ra, nếu đời sống độc thân không là một điều cần thiết nữa, thì đã đến lúc Giáo Hội phải đặt lại cái nhìn về đời sống và giá trị ơn gọi tu trì. Các đòi hỏi gần đây của những linh mục ủng hộ đồng tính và hôn nhân đồng tính, cũng như những người đồng tính muốn làm linh mục. Và đặc biệt là sự yếu đuối của một số giám mục, linh mục và tu sĩ đã khiến cho điều mà Dan Brown suy diễn trở thành dễ chấp nhận. 3. Nữ quyền trong Giáo Hội: Ngoài việc tấn công trực diện vào thành trì đức tin và ơn gọi của Giáo Hội, tác giả Dan Brown còn nhắm tới một đề tài hết sức bén nhậy mà có lẽ tác giả cho là Giáo Hội không muốn trực diện, đó là sự bình quyền nam nữ. Theo tác giả, Thánh Phêrô trong những năm đầu của Giáo Hội đã cố gắng không đả động gì đến Maria Mađalêna vì một mục đích độc tôn vai trò của nam giới. Nhưng ngày nay thì cơn sốt bình quyền và bình đẳng trong phẩm trật Giáo Hội đã khiến Giáo Hội hết sức khó xử. Nữ quyền trong Giáo Hội. Đây là điều mà có lẽ Dan Brown muốn khai thác triệt để hầu tạo s |