Số 80 Ngày 03-06-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Hoa Trái Của Ơn Chúa Thánh Thần -  Lm. Vũ Xuân Hạnh

Làm Sao Để Tiếp Xúc Với Thánh Thần? -Nguyễn Chính Kết

Làm Chứng Cho Chúa - Gm. Bùi Tuần

Dấu Lặng!  - Nguyễn Thế Bài

Sùng Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu – Fr. Thomas Tuý, OP

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Sức Mạnh Diệu Kỳ Của Một Bài Hát – Xuân Thái

Chuyện Máy Vi Tính - Trần Duy Nhiên

Xin Cho Con Trái Tim Của Chúa – Lm. Antôn NCS, SJ

nh An Giữa Chốn Phong Ba Thiên Phúc  

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

Chào các bạn tập thể lớp 7B, hôm nay là ngày cuối cùng 5 chúng tôi viết lại cho các bạn. Tôi rất buồn vì chúng tôi lại là những đứa con bất hiếu nhưng chúng tôi cũng khổ lắm... Chúng tôi rất nhớ 7B và mong các bạn hiểu cho chúng tôi.”

Đấy là lời để lại của 5 em nữ sinh lớp 7 đã tự trầm minh tập thể dưới dòng sông Thái Bình, tỉnh Hải Dương, ngày 24-5 vừa qua. Lý do các em đưa ra để đi đến một kết cục đau đớn như thế là: bị cha mẹ mắng. Những em bé này đã bị ảnh hưởng, lôi cuốn bởi một hình ảnh, đối xử nào về tình cha mẹ để phải quyên sinh vào tuổi 12, 13?

Biến cố đau lòng này không thể làm nhạt đi bản tin của ngày hôm trước trên báo Tuổi Trẻ. Trong số những người sống sót sau cơn bão Chanchu tại miền Trung Việt Nam, có một người đàn ông mở to đôi mắt như còn chưa hoàn hồn. Ông được đặt trên băng ca để đưa bệnh xá. Một cậu bé ở độ tuổi 12, 13 chui qua chân của người bảo vệ lao thẳng đến băng ca: “Ba ơi, con là Vinh nè. Ba ơi... con tưởng ba chết rồi...” Nghe tiếng nói, ông ngồi bật dậy, ôm con vào lòng: “Ba cũng tưởng không gặp mạ con bây. Rứa mạ con mô rồi?” “Sáng giờ tìm ba không thấy, mạ ngất xỉu rồi!” Nói đến đây, hai cha con ôm chầm lấy nhau mà khóc.

Năm cô bé tuổi còn đến trường, giận cha mẹ mình đến độ phải quyên sinh. Một cậu bé bằng tuổi các cô, khóc những giọt nước mắt vui mừng hạnh phúc khi thấy mình còn cha có mẹ. Thế đó, mỗi biến cố trên trần gian này đều mang một ý nghĩa rất khác và rất đậm sâu cho từng con người đón nhận nó.

Trận bão Chanchu xảy ra ngày 20-5 đã làm cho cậu bé hiểu được giá trị sự hiện diện quý báu và cần thiết của nghĩa mẹ tình cha, thì cũng đã để lại cho hơn 200 gia đình những vành tang đau đớn. Bàng hoàng vì những mất mát và nỗi đau tang tóc chưa kịp nguôi ngoai ở Việt Nam thì, ngày 27-5, ở Indonesia một trận động đất 6.3 độ Richter đã gây những thiệt hại kinh hoàng tại Java và Yogyakarta. Con số tử vong tăng theo từng ngày: 2300, 2700, 3200, 3500, 4200, 4700, 5000, 5600... Cho đến hôm nay (2-6), con số ghi nhận là 6234 người thiệt mạng, 46,000 người bị thương, 139,000 nhà cửa bị phá hủy và gần 500,000 đang thiếu lương thực và nước uống!

Tất cả những biến cố đó xảy ra vào ngày mà tại Hoa Kỳ người ta nghỉ lễ Memorial Day. Từ năm 1971, Quốc Hội Hoa Kỳ xác định rằng “Ngày Tưởng Niệm” được cử hành vào Chúa Nhật cuối cùng của tháng Năm. Rất nhiều người ở Hoa Kỳ thảnh thơi vui hưởng một cuối tuần 3 ngày mà không hề để ý rằng đó là ngày tưởng nhớ những quân nhân đã tử trận. Khởi đầu từ năm 1868, sau trận nội chiến Hoa Kỳ, các tiểu bang miền Bắc cử hành ngày tưởng niệm này, mà các tiểu bang miền Nam không hề công nhận. Mãi đến sau thế chiến thứ hai, thì toàn thể Hoa Kỳ mới dành ngày này để tưởng niệm các quân nhân đã tử trận trên chiến trường Âu Châu. Có lẽ bên ngoài nghĩa trang Arlington, ít người dân Hoa Kỳ tưởng nhớ đến những quân nhân Mỹ đã nằm xuống trên bao nhiêu chiến trường trong suốt 150 năm qua.

Có những biến cố trọng đại mà người ta vẫn còn giữ vững truyền thống như thế, mà ý nghĩa đã bị quên đi rồi. Sự sống, nỗi chết, tình yêu, oán hận... vẫn là những biến cố hiện thực từng ngày, và con người dễ quên đi chiều sâu của vận mệnh từng người và vận mệnh của nhân loại.

Về phần Giáo Hội, Đức Thánh Cha vừa trở lại Vatican sau chuyến đi thăm Ba Lan. Trong chuyến đi này, ngài đã đến ‘Tưởng Niệm’ những người đã chết tại trại tập trung Auschwitz, nơi mà số người Do Thái bị giết chết nhiều nhất và dã man nhất trong Thế Chiến thứ II. Sau khoảnh khắc thinh lặng khi đến viếng thăm và cầu nguyện tại lò giết người diệt chủng này, với giọng hơi nghẹn ngào, nhưng quả quyết, ngài nói:

Gần như không thể nào lên tiếng tại nơi kinh khiếp này, một nơi mà tội phạm đối với Thiên Chúa và với con người vượt mọi bạo tàn khác trong lịch sử - và đặc biệt là khó khăn và đau đớn cho một Kitô hữu, một giáo hoàng đến từ nước Đức...

Tại một nơi như thế này, ta không thể tìm lời nào để nói. Chỉ biết có im lặng, một sự im lặng sững sờ, một sự im lặng để nghe tiếng nói bên trong kêu lên cùng Thiên Chúa: Tại sao Chúa không lên tiếng? Vì sao Chúa có thể chịu được những điều như vậy?....

“Chúng ta không thể hiểu được mầu nhiệm của Thiên Chúa. Chúng ta chỉ thấy được vài mảng và hẳn là mình sẽ sai lầm nếu chúng ta muốn phê phán Thiên Chúa và lịch sử...

“Nhưng tiếng kêu lên với Chúa đồng thời phải là tiếng kêu đi sâu vào con tim của chính mình, hầu đánh thức sự hiện diện ẩn kín của Thiên Chúa, hầu cho sức mạnh mà Người đặt trong con tim chúng ta không bị che khuất và bóp nghẹt do bùn nhơ của ích kỷ, của sợ hãi loài người, của tinh thần dửng dưng và não trạng thời cơ...

“Chúng ta kêu lên với Chúa, hầu cho Người thôi thức nhân loại thống hối, và nhận ra rằng bạo lực không thể nào đem đến hòa bình mà chỉ gia tăng bao lực thôi. Đó là một guồng máy phá hủy, mà cuối cùng tất cả chúng ta cũng chỉ là những người bại trận!”

Tiếng kêu đó phải đi vào thẳm sâu ‘con tim’ của chính mình! Đức Giáo Hoàng đã nói như thế, khi Giáo Hội bước vào tháng 6 là tháng kính Trái Tim Cực Thánh của Chúa Giêsu. Trái tim của chúng ta có biến chuyển được chăng ấy là nhờ Trái Tim của Ngài. Từ thời Cựu Ước, tiên tri Edekiel đã nói lên lời cam kết tình yêu của Thiên Chúa: “Ta sẽ ban cho các ngươi quả tim mới, đặt giữa các ngươi một thần trí mới, cất khỏi xác các ngươi quả tim bằng đá và ban cho các ngươi quả tim bằng thịt.” (Ez 36, 26)

Phải biết được tình yêu của Trái Tim của Chúa Giêsu chịu lưỡi đòng đâm trên Thập Giá, thì con người mới hiểu chiều kích vô biên của Tình Yêu Thiên Chúa. Và Tình Yêu ấy là một tình yêu trao ban Thần Khí mới. Những ngày đầu tháng Thánh Tâm, cũng khởi sự trong tuần Cửu Nhật mừng Lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống, một Thần Khí thay thế con tim của nhân loại nói chung, và từng Kitô hữu nói riêng, bằng Tình-Yêu-Rất-Thánh.

Tuy nhiên, Thánh Thần có đến để mặc khải lại cho chúng ta Trái Tim chí thánh của Chúa Giêsu, nơi biểu hiện tình yêu Ba Ngôi, thì cũng không tác động gì nhiều đến tâm hồn chúng ta, nếu phần chúng ta, chúng ta không sẵn sàng đón nhận.

Vì thế Maranatha 80 đến với quý vị bằng những bài liên quan đến sức sống của Thánh Thần và Sức Mạnh của Thánh Tâm để giúp chúng ta cố gắng biến tháng này thành một tháng cảm nhận sâu xa Tình Yêu Ba Ngôi, từ đó chúng ta đặt lại đúng vị trí của Thánh Tâm trong đời sống của mình: đó là vị trí của Vua Đất Việt, vua cõi lòng mình, như bài hát thân quen mà ta đã thuộc nằm lòng:

     “Thánh Tâm Giêsu từ bi vô ngần,

      Không bao giờ chê chối lời ai nài van.

      Giờ này đoàn con dâng lên lời nguyện xin tha thiết.

      Thánh Tâm Giêsu làm Vua đất Việt muôn đời.”

 Trong niềm tin yêu đó, tín hữu vẫn phải đối diện với những đớn đau mất mát của kiếp người, lịch sử và nhân loại, và được mời gọi làm chứng cho một Tình-Yêu-Rất-Thánh, hẳn rất cần những giây phút “lặng”, và đó cũng là một hình thức cần thiết để nói lên lời khấn nguyện liên lỉ của chúng ta: Maranatha, lạy Chúa xin ngự đến!

MARANATHA

  

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 6 NĂM 2006

  Ý CHUNG: Cầu cho các gia đình Kitô giáo. Xin cho các gia đình Kitô giáo biết âu yếm đón nhận mỗi đứa con    sinh ra, và yêu thương đùm bọc những người bệnh tật, già yếu cần được chăm sóc.
   Ý TRUYỀN GIÁO: Cầu cho cuộc đối thoại liên tôn và việc hội nhập văn hoá của Tin Mừng. Xin cho các mục     tử và các tín hữu coi cuộc đối thoại liên tôn và việc hội nhập văn hoá của Tin Mừng là một việc phục vụ mỗi ngày để phát huy công cuộc loan báo Tin Mừng cho các dân tộc.

 

MỪNG KÍNH LỄ CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG

HOA TRÁI CỦA ƠN CHÚA THÁNH THẦN

  Lm. Vũ Xuân Hạnh

   Sau phục sinh, Chúa Kitô dạy các tông đồ ở lại Giêrusalem chờ đợi ơn Chúa Thánh Thần mà Chúa Kitô sẽ ban từ nơi Chúa Cha. Vâng theo lời căn dặn này, các tông đồ tụ họp tại nhà tiệc ly, sốt sắng lắng chìm trong cầu nguyện chờ đợi điều Chúa Kitô đã hứa.

  Bài đọc I của thánh lễ hôm nay, trích sách Công vụ Tông đồ cho thấy Chúa Kitô thực hiện lời hứa ấy: Vào ngày lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần ngự đến trên các tông đồ dưới hình lưỡi lửa. Nghĩa là trên đầu mỗi người hiện diện trong nhà tiệc ly hôm ấy, người ta  thấy xuất hiện một cái lưỡi bằng lửa cháy sáng. Lưỡi tượng trưng cho lời nói. Hình lưỡi có ý nhấn mạnh công tác truyền giáo của các môn đệ Chúa Kitô. Bởi khi thực hành công tác truyền giáo, các môn đệ nối tiếp sứ mạng của Chúa Kitô trong sự trợ lực và nâng đỡ lớn lao của Chúa Thánh Thần. Còn lửa tượng trưng cho tình yêu và lòng nhiệt thành. Các môn đệ Chúa Kitô sẽ là những người mang trong mình tình yêu của Thiên Chúa, họ hãy nhiệt thành suốt đời truyền bá Tin Mừng tình yêu của Chúa. Chính Chúa Thánh Thần là nguồn tác sinh tình yêu và lòng nhiệt thành này nơi các môn đệ của Chúa Kitô, để càng ngày các môn đệ càng hăng hái hơn trong trách vụ loan báo Tin Mừng của mình. Như vậy, hình lưỡi lửa trong ngày lễ Hiện Xuống, chính là hình ảnh của Chúa Thánh Thần gắn liền công tác truyền giáo của các môn đệ Chúa Kitô.

  Các môn đệ của Chúa cũng chính là chúng ta. Như các tông đồ xưa, ta nhận lãnh, cùng với ơn Chúa Thánh Thần là sứ mạng truyền giáo qua mọi thế hệ, trong mọi môi trường sống của ta.

  Hoa trái của ơn Chúa Thánh Thần được tuôn đổ trên Hội Thánh nhằm phục vụ công tác truyền giáo là rất nhiều. Ta thử liệt kê một vài trong số các hoa trái ấy.

  I. LÒNG CAN ĐẢM DẤN THÂN CHO TIN MỪNG

  Sau ngày Chúa Kitô bị giết, kể cả sau khi Người sống lại, các môn đệ của Chúa Kitô rất sợ hãi. Họ trở thành những kẻ bạc nhược, mất hết can đảm, mất hết ý chí vươn lên. Ngay cả khi ở trong nhà, họ vẫn đóng kín cửa. Thánh Gioan nói rõ, họ đóng kín cửa nhà vì sợ người Do thái.” (Ga 20, 20). Như vậy các tông đồ không còn một chút can đảm nào.

  Ngày Chúa Thánh Thần ngự đến, Người biến lòng các môn đệ nên dũng cảm phi thường. Từ những kẻ chỉ biết sợ, sau khi lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần, ngay lập tức, các ông mở toan cửa nhà, lên tiếng tuyên xưng đức tin Chúa Phục sinh bằng mọi ngôn ngữ, không một chút sợ hãi. Cũng bắt đầu từ ngày đó, các môn đệ quyết tâm sống chết cho Tin Mừng mà mình lãnh nhận. Các ngài tỏa ra khắp thế giới làm cho niềm tin vào Chúa Phục sinh lan rộng không ngừng. Như vậy, chính ngày Chúa Thánh Thần ngự đến là cột mốc đánh dấu thời gian lòng can đảm bùng lên mạnh mẽ nơi Hội Thánh Chúa Kitô.

  Lòng can đảm đó cần thiết cho mỗi chúng ta là những Kitô hữu khi nối tiếp sứ mạng các tông đồ. Ta cũng phải lên đường truyền giáo. Cuộc lên đường của ta là đời sống mỗi ngày trong trách nhiệm sống đức tin, sống tình yêu thương, sống ơn hiệp nhất để làm chứng cho Tin Mừng của Chúa. Lòng can đảm đó càng cần thiết khi ta quyết giữ lòng mình sốt sắng, mến yêu Chúa, lo tuân giữ luật Chúa giữa một thế giới nhiều cám dỗ, nhiều đau khổ mà nhân loại gây ra cho nhau. Như các tông đồ xưa, ta sốt sắng cầu nguyện cùng Chúa Thánh Thần, mở lòng đón nhận Chúa Thánh Thần, xin Người ban cho ta lòng can đảm, để ta dấn thân cho Tin Mừng suốt đời ta.

  II. BÌNH AN TRONG TÂM HỒN

  Mỗi lần Chúa Phục sinh hiện ra, Người đều thổi hơi ban Chúa Thánh Thần cùng lúc trao bình an cho các môn đệ. Chẳng hạn, bài Tin Mừng trong lễ Chúa Thánh Thần, có đến hai lần Chúa Phục sinh trao bình an: “Bình an cho anh em,” rồi lại:“Bình an cho anh em! Như Cha đã sai Thầy,Thầy cũng sai anh em.” Dù vậy, lòng các môn đệ chưa thật sự chín mùi, chưa có sự chuẩn bị, chưa hề có lòng ao ước để ơn bình an phục sinh của Chúa Kitô sinh hiệu lực. Đúng hơn, các ông chưa có tâm tình cầu nguyện đủ. Ngược lại, bao nhiêu tác động của cuộc thương khó, bao nhiêu nỗi khiếp hãi vẫn chưa phai, cuộc sống đầy chao đảo, lòng rối bời, dẫn tới việc các tông đồ không có bình an, không chút yên lòng. Ơn bình an Phục sinh chưa phục sinh trong lòng các môn đệ của Chúa.

  Chúa Thánh Thần làm cho ơn bình an phục sinh của Chúa Kitô nên hiệu lực nơi tâm hồn các tông đồ. Ngày ngự đến, Người biến đổi một trăm tám mươi độ tâm hồn những kẻ đầy hoang mang, chết khiếp, thành can đảm phi thường. Chính sự can đảm ấy, bày tỏ hết sức tỏ tường những tâm hồn giờ đây đã chất chứa bình an. Nhờ bình an thẳm sâu trong nội tâm, các tông đồ, cũng như lớp lớp môn đệ Chúa Kitô trong suốt dòng lịch sử đã hiêng ngang, bất khuất, bất chấp mọi lao lung, mọi cực hình, người đời dành cho mình.

  Bình an nội tâm là ơn cần thiết vô cùng cho mỗi chúng ta hôm nay. Bởi hơn bao giờ hết, thời đại chúng ta là thời đại đang diễn ra quá nhiều những hỗn tạp, có sức làm chao đảo ngay cả những người được coi là vững vàng nhất. Đức Bênêđictô XVI coi đó là “tình trạng trẻ thơ trong đức tin” (Hồng y Ratzinger - Bài giảng trong thánh lễ khai mạc Mật viện 18.4.2005). “Trẻ thơ” là do lòng người quá yếu đuối, không kiên định, không dứt khoát, lại để mình nghiêng ngã, “trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý.” (Eph 4, 14).

  Ơn Chúa Thánh Thần sẽ làm cho ta bình an nội tâm. Có bình an, ta đủ sức chống chọi mọi làn gió thổi ngoài Tin Mừng Chúa Kitô, ngoài sức hấp dẫn của Thánh Thần của Người. Những làn gió đang tác động mạnh mẽ trong thời đại là, “Từ Mác Xít tới chủ nghĩa tự do, tới mức chủ nghĩa tự do phóng túng; từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá nhân; từ chủ nghĩa vô thần tới chủ nghĩa duy huyền bí tôn giáo mơ hồ; từ chủ nghĩa vô tín đến chủ nghĩa hỗn tạp…Nhiều giáo phái mới được đẻ ra mỗi ngày và sẽ xảy ra điều mà thánh Phaolô đã nói về sự lường gạt con người và sự tinh quái nhắm lôi kéo con người đến chỗ lầm lạc (Ep 4, 14). Có một đức tin rõ ràng, theo kinh Tin Kính của Hội Thánh, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín…” (Hồng y Ratzinger - Bài giảng trong thánh lễ khai mạc Mật viện 18.4.2005).

  Hãy mở lòng đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, nhờ đó ơn bình an phục sinh của Chúa Kitô có sức lớn mạnh trong tâm hồn ta. Có bình an tâm hồn nhờ ơn Chúa Thánh Thần, ta sẽ kiên định đến cùng Chúa trong đức tin, trong lòng mến, trông sự cậy trông nơi tình yêu của Đấng Phục sinh. Nguyện cho bình an của Đấng Phục Sinh ngự trị trong lòng chúng ta. Nguyện cho ân sủng tuyệt đối là chính Chúa Thánh Thần và bình an của Người sống mã trong lòng Kitô hữu. Nguyện cho mỗi Kitô hữu “chân cứng đá mềm” để xứng đáng hưởng nhờ bình an phục sinh và hăng hái trao ban bình an mà mình được lãnh nhận.

  III. ƠN THA THỨ

  Thiên Chúa là tác nhân của ơn tha thứ. Nhưng ơn tha thứ cần đến sự cứu độ của Chúa Kitô và ơn Thánh Thần của Người. Trong công thức giải tội, Hội Thánh bày tỏ niềm xác tín tình yêu Ba Ngôi, mà Chúa Thánh Thần là ơn ban cần thiết hết sức để thanh tẩy tâm hồn hối nhân: “Thiên Chúa là Cha hay thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của Con Chúa mà giao hòa thế gian với Chúa và BAN THÁNH THẦN ĐỂ THA TỘI. Xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh ban cho con ơn tha thứ và bình an. Vậy cha tha tội cho con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.”

  Chính bài Tin Mừng lễ Chúa Thánh Thần hôm nay, Chúa Kitô càng cho thấy rõ hoa trái của ơn tha thứ phát sinh nhờ Chúa Thánh Thần: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”

  Cũng từ việc Đấng Phục sinh trao ban Thánh Thần để Hội Thánh thực hành sứ mạng tha thứ cho nhân loại, chúng ta biết được, từ nay, Chúa Kitô Phục sinh sẽ hoạt động trong Hội Thánh, trong từng con người nhờ quyền năng Thánh Thần của Người.

  Từ nay, Hội Thánh hoạt động trong ơn Chúa Thánh Thần, rộng rãi trao ban nguồn ơn cứu độ của Thiên Chúa cho nhân loại. Vì thế, từ ngày Chúa Kitô vinh quang bên Chúa Cha, bất cứ ai tin nơi Chúa Kitô, rộng lòng đón nhận Thánh Thần nhờ tham dự vào đời sống của Hội Thánh, sẽ được Chúa Thánh Thần ngự đến và được Người lôi cuốn tiến về phía Thiên Chúa như đích đến cuối cùng của đời mình.

*****

  Trên đây là những hoa trái trong rất nhiều hoa trái do ơn Chúa Thánh Thần. Nhưng không phải tự nhiên mà lòng ta có thể hưởng nhờ. Bởi ngày xưa, các tông đồ chỉ có thể làm trổ sinh ơn Chúa Thánh Thần sau khi các ông đã có một quá trình chìm lắng trong cầu nguyện. Cũng vậy, chỉ có một bí quyết cho chúng ta được hưởng nhờ hồng ân Chúa Thánh Thần đó là sự cầu nguyện liên lỷ, thâm sâu và xác tín.

  Sách Công vụ Tông đồ từng ghi nhận sự hiện diện của Đức Maria nơi tông đồ đoàn khi họ cầu nguyện tại nhà tiệc ly, sau khi Chúa Kitô về trời. Ngày nay, ta cũng cậy nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ để làm phát sinh hoa trái của ơn Chúa Thánh Thần trong tâm hồn ta. Cậy nhờ Đức Mẹ, không chỉ vì Đức Mẹ xứng đáng dâng lời cầu nguyện hơn ta, mà còn vì Đức Mẹ cảm nghiệm thâm sâu về Chúa Thánh Thần qua cả một chiều dài của đời sống kết hiệp cùng Chúa Kitô trong suốt cuộc đời của Mẹ. Hơn nữa, Mẹ đã nhận được chính Chúa Thánh Thần là quà tặng của Thiên Chúa trao ban, để từ nơi Mẹ, Chúa Kitô nhập thể làm người. Ngày nay, Chúa Thánh Thần đến trong trần gian, là một cuộc nhập thể mới của Thiên Chúa. Nếu lần nhập thễ trước, Thiên Chúa cần đến Mẹ, thì cuộc nhập thể mới, nhờ Thánh Thần, chắc Chúa cũng cần sự cộng tác cách nào đó của Mẹ. Hiểu như thế, ta thấy, cách nào đó, Đức Mẹ cũng là trung gian của ơn Chúa Thánh Thần.

Với vai trò thật lớn lao của Đức Mẹ như thế, càng khiến chúng ta phó thác cho lời chuyển cầu của Đức Mẹ trong việc hưởng nhờ hoa trái của ơn Chúa Thánh Thần trong suốt đời ta. Như vậy sự cầu nguyện của ta và công nghiệp của Đức Mẹ sẽ là bí quyết chắc chắn dẫn ta đến cùng Thiên Chúa, hưởng nhờ hoa trái của ơn Chúa Thánh Thần và ngày càng xứng đáng là Con Thiên Chúa

 Trở về mục lục >>

 

 

Làm sao đỂ tiẾp xúc vỚi Thánh ThẦn?

Nguyễn Chính Kết

1. Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ, nhưng… bị quên lãng

Từ khi Giáo Hội khai sinh, vai trò và hoạt động của Thánh Thần mới được chú ý tới nhiều, qua sự ý thức và nhấn mạnh của Giáo Hội, đặc biệt của Đức Giêsu, của các tông đồ. Trước khi về trời, Đức Giêsu đã hứa ban Đấng Bảo Trợ, An Ủi cho Giáo Hội: «Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.» (Ga 14,16). Và Đấng Bảo Trợ ấy chính là Thánh Thần: «Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.» (Ga 14,26). Đức Giêsu đã ra đi để giao nhân loại và Giáo Hội lại cho Thánh Thần: «Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em.» (Ga 15,26). Chính vì thế, hiện nay chúng ta đang sống trong thời hoạt động của Thánh Thần, Ngài đang hoạt động mạnh mẽ trong Giáo Hội và trong chính tâm hồn ta. Nhưng ta ít chú ý tới Ngài. Chúng ta thường quan tâm đến Chúa Cha, nhất là Đức Giêsu. Vì thế, Thánh Thần trở thành vị Thiên Chúa bị quên lãng. Do đó, chúng ta ít hợp tác với Thánh Thần, và Thánh Thần không biến đổi ta một cách hữu hiệu được. Vì dù hoạt động mạnh mẽ thế nào, Thánh Thần vẫn luôn tôn trọng tự do của con người. Thánh Thần luôn mời gọi, nhưng con người vẫn có thể làm ngơ vì không quan tâm, hoặc từ chối lời mời gọi đó. Chính vì thế, công việc của Thánh Thần thật hết sức khó khăn.

2. Kế hoạch của Thiên Chúa

Thánh Thần là Đấng tiếp tục công trình của Đức Giêsu trong thế giới và Giáo Hội. Ngài luôn luôn thúc đẩy sự đổi mới trong Giáo Hội, để Giáo Hội ảnh hưởng tốt đến thế giới. Nhưng để được làm điều ấy, Thánh Thần luôn luôn phải hoạt động trong mỗi cá nhân. Cá nhân có thay đổi thì Giáo Hội mới thay đổi, cá nhân có nên thánh thì Giáo Hội mới thánh thiện. Tất cả mọi sự đều bắt đầu từ những cá nhân, và lan truyền từ cá nhân này sang cá nhân khác. Kế hoạch của Thiên Chúa để xây dựng Nước Trời là chiến lược «men trong bột» (x. Mt 13,33), «muối ướp đời» (x. Mt 5,13) hay «đèn sáng cho trần gian.» (x. Mt 5,14). Men là một chất có hoạt tính, có khả năng biến đổi chất bột tiếp xúc với mình trở nên giống như mình. Mất hoạt tính này, men không còn là men nữa, nó trở thành một thứ bột vô dụng. Muối hay đèn cũng có hoạt tính tương tự. Một hình ảnh khác là lửa, nhưng lửa có tác dụng lan truyền mạnh mẽ và nhanh chóng. Chính vì thế, Thánh Thần khi hiện xuống trên các tông đồ đã lấy hình lưỡi lửa làm biểu trưng cho mình.

Trong quá trình phát triển từ xưa đến nay, Giáo Hội vẫn theo chiến lược «men trong bột», nhưng phải nói rằng Giáo Hội đã phát triển theo chiều rộng nhiều hơn chiều sâu. Nội dung lan truyền chủ yếu là danh nghĩa, hình thức tôn giáo bên ngoài, hơn là đích thực sống tinh thần Tin Mừng bên trong. Biết bao Kitô hữu chỉ giữ đạo theo tập tục (siêng năng đọc kinh, dâng lễ, chịu các bí tích), nói chung là chuộng những thực hành thấy được, và lấy đó làm đủ, mà ít sống đạo, ít đi vào chiều sâu tâm linh, ít khi thật sự gặp gỡ Thiên Chúa. Việc thờ phượng Thiên Chúa chưa đúng với tinh thần «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật.» (Ga 4,24), mà còn mang nặng tính thể lý, bên ngoài, nên còn nhiều tính giả dối, không trung thực (ngoài và trong khác nhau). Vì thế, Giáo Hội dường như không còn phát triển mạnh như những thế kỷ trước nữa, thậm chí dừng lại hoặc sút giảm về mặt tỷ lệ dân số (mặc dù số lượng vẫn tăng theo đà phát triển dân số).

Chiến lược «men trong bột» đòi hỏi phải có những cá nhân thật tốt, thật nhiệt thành. Những cá nhân tốt ấy sẽ ảnh hưởng tốt sang những cá nhân khác bằng gương sáng, bằng những hoạt động nhiệt thành và tích cực, biến họ nên tốt, nên nhiệt thành như mình. Nhờ đó, những cá nhân tốt càng ngày càng được nhân lên. Càng nhiều cá nhân tốt thì Nước Trời càng phát triển, càng lớn mạnh. Nhưng ai sẽ là men đây? Thánh Thần luôn mời gọi chúng ta trở nên «men», không chỉ là «men» mà còn là «men tốt». Mỗi khi lắng đọng tâm hồn lại, chúng ta đều nghe thấy tiếng Ngài mời gọi.

3. Làm sao trở thành men tốt?

Trong chiến lược phát triển Nước Trời, «men trong bột» phải có một «hoạt tính» rất mạnh, nghĩa là có khả năng biến đổi người khác nên tốt và nhiệt thành giống như mình. Như vậy, chính mình phải là người tốt và nhiệt thành đã, chính mình phải thật sự sống tinh thần Tin Mừng đã. Muốn thế, ta phải tiếp xúc với Thánh Thần, nguồn phát sinh «hoạt tính» ấy. Nhưng làm sao tiếp xúc với Thánh Thần? Bằng cách kêu cầu Ngài với những kinh hay những bài ca về Thánh Thần chăng? Phải nói đó là những cách thấp nhất để tiếp xúc với Thánh Thần, thường chỉ dành cho những người chưa thể cầu nguyện tự phát hay chưa biết cách cầu nguyện. Muốn có một đời sống nội tâm thật sự, muốn tiến triển trên đường tâm linh, ta cần tiếp xúc với Thánh Thần một cách thật sự và hữu hiệu.

4. Làm sao để tiếp xúc với Thánh Thần thật sự và hữu hiệu?

Muốn tiếp xúc với Ngài, trước hết phải biết Ngài ở đâu, bản chất của Ngài thế nào. Thánh Thần là thần khí (=spirit=tinh thần), hiện diện khắp nơi, tràn đầy trong vũ trụ, trong không gian và thời gian. Chúng ta có tinh thần, và tinh thần của ta cũng là thần khí. Một cách nào đó, tinh thần của ta phần nào đồng bản chất với Thánh Thần. Chính vì thế, muốn gặp gỡ Thánh Thần, phải gặp bằng chính thần khí hay tinh thần của ta. Đức Giêsu đã nhắc nhở: «Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.» (Ga 4,24). Nếu ngày xưa thánh Phaolô nói: «Chúng ta, những người thờ phượng Thiên Chúa nhờ Thần Khí của Người, mới thật là những người được cắt bì.» (Pl 3,3), thì ngày nay ta cũng có thể nói: chỉ những ai thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí mới là người Kitô hữu đích thực. Đó là những người thờ phượng Thiên Chúa bằng tinh thần, bằng tâm hồn, bằng ý thức và bằng tình yêu, bằng việc thật sự gặp gỡ và sống trong Thánh Thần, chứ không phải chỉ bằng những nghi thức bề ngoài, dù những nghi thức này lắm khi cũng cần thiết. Thờ phượng Thiên Chúa bên ngoài mà không có bên trong là thờ phượng trong giả dối, không phải là trong chân lý.

Thánh Thần tuy tràn lan trong vũ trụ, nhưng lại hiện diện «đặc sệt» và tràn đầy nhất trong tâm hồn ta: «Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?» (1Cr 3,16); «Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần mà chính Thiên Chúa đã ban cho anh em.» (1Cr 6,19). Vì thế, muốn gặp gỡ Thánh Thần, không gì tốt hơn là gặp Ngài trong chính bản thân mình, bằng tinh thần của mình. Việc gặp gỡ Ngài rất dễ dàng: chỉ cần hồi tâm lại, ý thức Ngài đang hiện diện ngay trong bản thân mình, và muốn được tan hòa vào trong Ngài. Điều quan trọng trong việc gặp gỡ Thánh Thần là những ý thức và tâm tình có thực bên trong, chứ không phải là những lời cầu nguyện phát biểu ra, dù là phát biểu trong tâm trí. Tuy nhiên, nếu những lời ấy tự nhiên bộc phát ra từ đáy lòng, thì cũng là điều rất tốt. Tuyệt đối không nên sáng tác ra bất kỳ lời nào khi không có những tâm tình đích thực bên trong, vì cầu nguyện như thế là thờ phượng trong giả dối. Lời bộc phát ra phải luôn luôn phù hợp với tâm tình có thực bên trong mới là thờ phượng trong chân lý.

5. Ý thức và tâm tình phải có khi tiếp xúc với Thánh Thần

Khi hồi tâm để tiếp xúc với Thánh Thần, ngoài việc ý thức sự hiện diện thật sự của Ngài trong tâm hồn ta, ta nên ý thức rằng Ngài là nguồn sức mạnh, nguồn yêu thương của ta. Hãy giục lòng tin tưởng rằng: nếu năng tiếp xúc với Ngài thì sức mạnh và khả năng yêu thương vô biên của Ngài sẽ truyền sang ta, như năng lượng từ dòng điện truyền sang dụng cụ điện, làm dụng cụ ấy hoạt động. Thường xuyên tiếp xúc với Ngài như vậy, nội lực và tình thương của ta ngày càng tăng lên một cách cảm nghiệm được.

Ngoài ra, ta cần tan hòa trong Thánh Thần bằng tâm tình «tự hủy» (kenosis), «tự sát tế» của Đức Giêsu. Nghĩa là có sự quyết tâm muốn quên mình, xóa bỏ mình trước Thiên Chúa và tha nhân, không tự coi bản thân mình, ý riêng của mình, và những gì của mình là quan trọng. Tâm tình ta cần có là: «Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi» (Ga 3,30), nhỏ đi chừng nào tốt chừng nấy.

Song song với tâm tình «tự hủy» cần phải có là tâm tình «vị tha». Nghĩa là có sự quyết tâm sống cho Thiên Chúa và tha nhân, đặc biệt sẵn sàng làm tất cả những gì Thánh Thần đề nghị để gieo tình thương và hạnh phúc nơi nơi, cho tất cả mọi người chung quanh ta.

Và cuối cùng là lắng nghe tiếng của Thánh Thần vang dội trong lòng mình. Tiếng của Ngài ngày càng trở nên rõ ràng và mạnh mẽ nếu ta luôn luôn quảng đại đáp lại lời mời gọi của Ngài. Tiếng của Ngài sẽ dần dần yếu đi nếu ta bỏ lơ hay không đáp lại lời mời gọi ấy.

Thường xuyên gặp gỡ Ngài như thế, chắc chắn cuộc đời ta sẽ biến đổi và trở nên men tốt, muối tốt và ánh sáng rực rỡ cho xã hội, Giáo Hội và đặc biệt cho môi trường chung quanh ta. Và đó chính là cách ta «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật»

 Trở về mục lục >>

 

š¶›

Làm ChỨng Cho Chúa

 Gm. Bùi Tuần

Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại lời Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho các môn đệ.

Đọc lời nào tôi cũng cảm thấy rất ngọt ngào, nhưng có một câu đã làm cho tôi suy nghĩ, đó là lời Chúa Giêsu nói với Chúa Cha: “Cũng như Cha đã sai Con vào thế gian, thì Con cũng sai chúng vào thế gian.” (Ga 17,17-23)

Câu ấy làm cho tôi hiểu rằng: Chúa Kitô đã sai tôi vào thế gian. Chúa Kitô cũng đã sai anh chị em vào thế gian. Chúng ta, tất cả được Chúa Kitô sai đi vào thế gian, để làm chứng cho Chúa. Được sai đi để làm chứng cho Chúa, đó là điều chắc rồi, đó là điều rõ rồi. Nhưng có một điều xem ra chưa rõ, có một điều xem ra chưa chắc đối với chúng ta đó là cách làm chứng cho Chúa.

Chúng ta phải làm chứng cho Chúa thế nào đây tại nước Việt Nam hôm nay, tại địa phương chúng ta đang sống? Bởi vì, khi nói đến những cách làm chứng cho Chúa, chúng ta thấy có nhiều cách khác nhau. Thí dụ: Sự chúng ta sốt sắng đi chịu các phép Bí Tích, năng đọc kinh xem lễ. Sự chúng ta góp phần vào việc xây dựng nhà thờ, cơ sở nhà Chúa. Sự chúng ta hợp nhất với nhau, dưới sự lãnh đạo của cha xứ của mình, sự chúng ta biết giúp những người nghèo khó bệnh tật... Những cách đó đúng là làm chứng cho Chúa.

Riêng tôi, tôi còn thấy một cách nữa, có nhiều khả năng làm chứng cho Chúa, mà hiện nay xem ra ít được nhắc tới. Cách đó là thinh lặng để cầu nguyện, thinh lặng để suy gẫm, thinh lặng để học hành, và nhất là thinh lặng để chu toàn công việc bổn phận của mình. Sở dĩ hôm nay tôi nhắc lại cách làm chứng đó, bởi vì cách đó đã lôi cuốn tôi nhiều nhất. Trong chuyến đi các nước ngoài tháng qua, cái đã làm cho tôi xúc động nhiều nhất, cái đã lôi cuốn tâm hồn tôi mạnh nhất, cái còn ghi lại trong tôi sâu đậm nhất, không phải là những cuộc rước linh đình, cũng không phải là những cuộc lễ tưng bừng, mà chính là những hình ảnh của những con người thinh lặng: Thinh lặng cầu nguyện, thinh lặng suy nghĩ, thinh lặng học hành, thinh lặng chu toàn bổn phận của mình.

Tôi còn nhớ rất rõ những đám đông người, đứng thinh lặng trước hang đá Đức Mẹ Lộ Đức. Tôi không thấy họ đọc kinh gì, nhưng mắt họ nhìn lên tượng Đức Mẹ với cái nhìn đăm chiêu suy nghĩ, với một thái độ cầu nguyện.

Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh những người thanh niên, những cô thiếu nữ, tay cầm tràng hạt đứng dựa vào những gốc cây, bên hang đá Lộ Đức và cầu nguyện âm thầm.

Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh những vợ chồng trẻ, quỳ thinh lặng cầu nguyện trước mộ thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu.

Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh những giáo dân âm thầm chia sẻ Lời Chúa, hợp từng nhóm nhỏ để cầu nguyện chung với nhau trong những căn nhà chật chội vắng vẻ.

Hình ảnh tôi nhớ nhất, là hình ảnh Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong những lần tôi được đồng tế với Ngài tại nhà cầu nguyện riêng. Tuy bao giờ cũng có nhiều linh mục, tu sĩ, giáo dân tham dự, nhưng tôi thấy không bao giờ Đức Thánh Cha đã giảng, mà Ngài cũng chẳng nói lời gì trước lễ, trong thánh lễ và sau lễ. Trái lại, trước lễ, tôi thấy Đức Thánh Cha quỳ thinh lặng rất lâu để suy gẫm. Sau khi đọc Phúc Âm, tôi lại thấy Đức Thánh Cha ngồi và suy gẫm rất lâu. Sau khi rước Mình Máu Thánh rồi, Đức Thánh Cha lại quỳ xuống, cảm ơn Chúa rất lâu trong thinh lặng. Và sau lễ, khi đã cởi y phục thánh lễ, Đức Thánh Cha lại quỳ cám ơn Chúa rất lâu trong thinh lặng.

Sự thinh lặng cầu nguyện và suy gẫm của Đức Thánh Cha, chính là một bài giảng rất hùng hồn. Nó khuyên bảo tôi hãy bắt chước Ngài, để cầu nguyện, để suy nghĩ. Và, đó là một hình ảnh rất đẹp, tôi không bao giờ quên được.

Cũng nhờ những kinh nghiệm bản thân ấy, tôi càng hiểu lý do tại sao trong lịch sử Hội Thánh có những vị đã bỏ thế gian, đi tìm những nơi thanh vắng để cầu nguyện, để học hành. Tuy vậy, biết bao nhiêu ngàn người đã tìm đến các Ngài.

Cũng tháng trước đây, tôi lên núi Casinô bên nước Ý, để viếng mộ thánh Bênêdictô, Đấng sáng lập dòng, những thế kỷ đầu Hội Thánh. Ngài đã bỏ thế gian, tránh xa người ta, tìm lên núi vắng, để cầu nguyện, để tu hành, để học hành, để nghiên cứu về Chúa và về Hội Thánh. Ấy thế, mà biết bao nhiêu ngàn người vẫn tìm đến Ngài, chỉ muốn được nhìn thấy Ngài cầu nguyện, học hành. Và cho đến hôm nay, người ta vẫn tuôn đến nơi đó, để nhìn khuôn mặt của một người sống thinh lặng, một người đã cầu nguyện suốt đời, một người do tâm hồn suy gẫm, cầu nguyện, đã là một nguồn mạch soi sáng hướng dẫn nền văn hóa Âu Châu. Đúng, là hình ảnh người thinh lặng cầu nguyện, suy gẫm, có một vẻ đẹp tuyệt vời, có một sức mạnh hùng hồn, lôi cuốn người ta. Nhất là trong khi tâm hồn người ta khát khao một cái gì sâu thẳm, một cái gì trong sáng, một cái gì linh thiêng mà người ta không gặp được trong cõi trần này.

Cũng qua những kinh nghiệm bản thân đó, và cũng qua những gương lành tôi nhìn thấy đó, mà tôi càng ngày càng hiểu hơn: Vì sao trong Phúc Âm, chúng ta thấy Chúa Giêsu, Đức Mẹ, thánh Giuse cũng đã chọn nhiều thời gian thinh lặng như những cách để làm chứng cho Thiên Chúa.

Đọc Phúc Âm chúng ta thấy, thánh Giuse hầu như thinh lặng. Đức Mẹ thì nói rất ít. Còn Chúa Giêsu thì nói không bao nhiêu mà chỉ làm nhiều. Nhất là một số việc mà sau này các sách bàn tới về Chúa Kitô, thì chính Đức Kitô thì không nói gì. Thí dụ: Sự Ngài giáng sinh tại Bêlem. Thí dụ: Sự Ngài sống 30 năm ẩn dật ở Nagiarét. Thí dụ: Sự Ngài chịu nạn, chịu chết trên núi Golgotha. Thí dụ: Sự Ngài sống lại trong thinh lặng...

Như vậy, chúng ta thấy rằng: Có một cách để làm chứng cho Chúa, đẹp lòng Chúa, mà có sức biến đổi nhân loại, đó là sự con người ta biết trở về thinh lặng để cầu nguyện, để suy gẫm, để học hành, để chu toàn bổn phận của mình một cách chu đáo.

Tôi nghĩ rằng, anh chị em cũng đã có kinh nghiệm ấy phần nào: Khi trong thinh lặng, chúng ta cảm thấy tâm hồn mở ra về phía Chúa, dễ gặp được Chúa. Và khi tâm hồn thinh lặng, chúng ta cũng dễ gặp được chính mình. Và khi tâm hồn thinh lặng, chúng ta vẫn gặp được tha nhân một cách trung thực, trong khiêm tốn và trong bác ái quảng đại bao dung.

Anh chị em thân mến,

Khi tôi nhìn thấy họ đạo Hải Châu của anh chị em đây, là một họ đạo tương đối khiêm tốn về nhiều mặt, về tinh thần cũng như về vật chất, thì tôi nghĩ ngay rằng: Anh chị em vẫn có nhiều khả năng làm chứng cho Chúa, vẫn có nhiều khả năng làm đẹp lòng Chúa, vẫn có nhiều khả năng có một sức mạnh truyền giáo, nhất là gây ảnh hưởng tốt cho con em của mình. Đó là, chúng ta biết lợi dụng hoàn cảnh để đi sâu vào đời sống nội tâm: Thinh lặng cầu nguyện, thinh lặng suy gẫm, thinh lặng chu toàn bổn phận của mình một cách chu đáo. Tôi nghĩ rằng, trong một thời buổi có quá nhiều lời, thì sự thinh lặng trong Chúa vẫn là một giá trị rất đáng quý và sẽ là một cách làm chứng rất hùng hồn cho Chúa. Bởi vì, Thiên Chúa là Đấng thinh lặng, nhưng đầy sức sống, nhất là Chúa Thánh Linh, Ngài đến với những linh hồn chuẩn bị trong thinh lặng. Chỉ trong thinh lặng, chúng ta mới đón nhận được ơn Chúa Thánh Thần.

Chính vì vậy, điều tôi cầu nguyện cho anh chị em hôm nay, nhất là cho các con em chịu phép Thêm Sức bây giờ, là hãy bắt chước gương Chúa Kitô, Đức Mẹ, thánh Giuse, các thánh, Đức Giáo Hoàng, để giữ linh hồn mình thinh lặng, bình an, biết lợi dụng cảnh sống hôm nay, mặt dù có thiếu thốn, để làm cho tâm hồn nội tâm của mình thêm phong phú. Phong phú nhất, quý giá nhất, là nhờ thinh lặng, ta có Chúa trong lòng ta.

Lạy Chúa, xin ở lại với tâm hồn chúng con, xin giữ tâm hồn chúng con được thinh lặng trong thánh ý Chúa. Amen

 Trở về mục lục >>

 

š¶›

DẤU LẶNG!

CVK Nguyễn Thế Bài

Dấu lặng là những ký hiệu cho biết phải ngưng, không diễn tấu âm thanh trong một thời gian nào đó. Các dấu lặng trong thời gian tương ứng với dạng dấu nhạc nào, thì cũng có tên gọi tương tự. Như vậy, trong âm nhạc, dấu lặng không phải là chấm dứt bản nhạc, mà chỉ là ngưng nghỉ một thời gian, rồi tiếp tục. Dấu lặng cần thiết cho mỗi bản nhạc, dù đó là một đoản khúc hay một trường ca, dù là nhạc hành khúc hay nhạc tình cảm. Không có dấu lặng, bản nhạc sẽ mất đi tính mềm mại, làm hụt hơi người hát và gây mệt mỏi cho người nghe. Nhưng như thế cũng có nghĩa là nó không cho phép người hát được ngưng ngang, bỏ dở hoặc kết thúc tại đó. Bản nhạc không chấm dứt ở dấu lặng.

Cuộc đời không chấm dứt ở những ngưng nghỉ cần thiết, vô tình hay hữu ý, chủ động hay bị ép buộc. Lịch sử Giáo Hội cũng không phải là ngoại lệ. Đã có một “dấu lặng” to lớn từ khi Thầy lên trời: lo lắng, hoang mang và cả sợ hãi nữa. Các môn đệ lần đầu tiên thấy mình bé nhỏ, thấy chỗ đứng không thể thiếu được của Thầy trong suy nghĩ và hành động của mỗi người, thấy cô đơn và nhất là chẳng biết phải làm gì, nói gì, phải bắt đầu từ đâu. “Dấu lặng” mười ngày là cần thiết, để các môn đệ tẩy xóa những gì tồn đọng trong các Ngài: kiêu căng, ích kỷ, ganh tị, oán hận,... và để cho cõi lòng trống trải hoàn toàn, sự trống trải cần thiết để đón nhận Ơn Thánh Linh đến, không chỉ đổi mới, mà biến cải cả cuộc đời của các Ngài.

Nếu được dùng phép ẩn dụ, ta có thể so sánh “dấu lặng” trong đời sống Giáo Hội với khởi đầu như một ngôi nhà mà nội thất và trang thiết bị vừa cũ vừa lỗi thời, lắm thứ đã bị hư hao. “Dấu lặng” là thời gian cần thiết, để dọn dẹp và loại bỏ tất cả, để chủ nhân mới – Đức Thánh Linh – trang bị những thứ mới mẻ, có công năng thích hợp và từ đó, Người sẽ không ngừng can tân, để Ngôi Nhà Giáo Hội luôn đáp ứng với mọi thời đại, mọi tình huống. Và hôm nay, ngày lễ Ngũ Tuần, chính là sự đổi mới lần đầu to tát nhất, quan trọng nhất và nhất là còn lạ lùng, bỡ ngỡ đối với các môn đệ. Và nếu để ý bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta sẽ thấy Chúa Giê-su chỉ “thổi Thần Khí” lên các môn đệ, sau khi ban bình an. Cho nên “dấu lặng” còn được hiểu là thời gian cần thiết, để các môn đệ tìm lại được an bình trong tâm hồn, sau khi đã phá dỡ những tồn đọng, quét dọn sạch sẽ cõi lòng và chính với bình an Chúa Ki-tô ban cho, mà mỗi môn đệ tiếp nhận Ơn Thánh Linh.

Nếu trong âm nhạc không có những dấu lặng, dấu nghỉ, thì đó là một tai họa. Đám đông và sự ồn ào không phải luôn luôn là đại diện của sự sống. Thất tình nẩy sinh từ cuộc mưu sinh cơm-gạo-áo-tiền luôn là những áp lực, là cho ta lắm khi dù ý thức sự cần kíp của một “dấu lặng”, mà vẫn không thể tìm ra được một khoảng thời gian ngưng nghỉ, để rồi căng thẳng, trầm uất từ cuộc sống, từ lo âu, bận rộn đã làm cho chúng ta không còn cả thời giờ và tâm trí nhìn lại linh hồn mình, đi tìm những giá trị to lớn và cần thiết còn hơn cả cơm áo. Chúng ta không có nỗi một chút an bình, thì làm sao có thể đón nhận Ơn Thánh Linh ! Nhưng làm sao có được an bình, khi Ngôi Nhà Linh Hồn ta chật chội và bộn bề đủ thứ lỉnh kỉnh, vô dụng, kể cả có hại, mà ta vẫn khư khư giữ riệt?

Biết mình như thế, hẳn chúng ta phải hiểu tha nhân, để tôn trọng những “dấu lặng” nơi anh em, chí ít cũng đừng tạo thêm những bức bối, bức xúc cho anh em, khuấy động sự bình an mà họ đang có hoặc đang tìm đền. Đừng để “dấu lặng” lẽ ra an bình thư thái của anh em, bị biến thành “dấu lặng” đầy nước mắt, xót xa.

Trong đời sống đạo đức cũng chẳng khác gì: sự thiếu an bình nơi chúng ta ảnh hưởng không nhỏ đến mọi người, nhất là các đồng đạo kề gần chúng ta. Hãy cứ tưởng tượng một người ở trong tầm âm thanh của những chiếc loa cực mạnh suốt ngày ông ổng những điệu nhạc nghịch nhĩ, dù có bịt tai nhắm mắt, cũng chẳng thể nào tìm được bình an. Nếu chúng ta – Ki-tô hữu – mà cuộc sống đầy dẫy những ích kỷ, bất công, sa đọa, kiêu căng, thì suốt đời chỉ làm vẫn đục cuộc sống và an bình của người khác.

Thêm một khía cạnh nữa của truyền giáo: đem an bình của Chúa Ki-tô đến cho tha nhân, bằng cách giúp họ chỉnh sửa, dọn dẹp tâm hồn, nghĩa là giúp anh em tạo ra được “dấu lặng,” để sẵn sàng tiếp nhận Ơn Thánh Linh, không phải chỉ đến trong ngày Ngũ Tuần, ngày khai sinh Giáo Hội, mà đến từng giây phút trong cuộc đời mỗi người, miễn là họ thành tâm thiện chí ước ao và vui mừng đón nhận Người. Thánh Linh là Đấng đổi mới. Tế bào sinh vật không ngừng đổi mới, để thay thế những tế bào hư hao bị đào thải và duy trì bảo toàn sự sống. Không có Ơn Thánh Linh không ngừng canh tân, thì linh hồn chúng ta, Đức Tin chúng ta mau chóng khô héo, tàn lụi, diệt vong 

Tìm Đáp Số Tình Yêu, số 155  

Trở về mục lục >>

š¶›

 

Kính nhớ Thánh Tâm Chúa Giêsu là kính nhớ Tình Thương của Thiên Chúa. Tình Thương Cứu Độ của Thiên Chúa được tỏ bày ra nơi con người Đức Giêsu và nhất là trong cái chết trên thập giá vì tội lỗi loài người.

Thánh Tâm đã bị đâm thâu là hình ảnh rõ rệt nhất, là tiếng nói mạnh nhất về Tình Thương của Thiên Chúa đối với chúng ta và là một bằng chứng không thể chối cãi được của Tình Thương lạ lùng ấy.

 

š¶›

SÙNG KÍNH THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

Fr. Thomas Túy, O.P.

Vần đề của chúng ta là lý thuyết nhiều quá, mà thực hành chẳng được bao nhiêu. Điều đó phải chăng là phí uổng thời gian ? Đúng lý chúng ta nên thực hành nhiều hơn. Hôm nay, lễ kính Trái tim Chúa, chúng ta nên nhìn lại vấn đề. Đức Giáo Hoàng Piô IX nói: “Hội thánh và xã hội chẳng có hy vọng nào khác, ngòai hy vọng vào Trái Tim Chúa. Đấng sẽ chữa lành phong hóa xấu xa của thế gian.” Đức Leo XIII thêm: “Chính trong Trái Tim cực thánh Chúa Giêsu mà chúng ta đặt hy vọng. Chúng ta khẩn xin Ngài và chờ đợi Ngài ban ơn cứu độ.” Phần Chúa Giêsu, Ngài nói với bà thánh Magarita Maria Alacoque: “Trái Tim Ta sẽ hiển trị, hiển trị bất chấp địa ngục….hiển trị bất chấp những kẻ chống đối….hiển trị bằng quyền năng vô hạn của Thánh Tâm Ta trong sự huy hoàng của tình yêu Thiên Chúa.”

Vậy thì trước những thảm cảnh hiện nay của thế giới chúng ta không có quyền buông tay thất vọng. Ngược lại phải biết trông cậy vào Trái tim Chúa và nỗ lực xây dựng một niềm tin cho chính bản thân, cho gia đình, xã hội và thế giới. Liệu công việc này có thể thực hiện được không ? Cha Timothy Radcliffe, cựu bề trên tổng quyền dòng Đa Minh trả lời là được. Và Ngài đưa ra một hình ảnh rất đẹp : Chị dòng nhỏ bé hát thánh ca dưới chân cây nến Phục sinh. Không phải dì chẳng biết đến những khó khăn của cuộc đời dì và của thế giới, nhưng niềm hy vọng đặt vào Chúa Phục sinh lớn lao đến độ nó khiến dì bật lên tiếng hát. Chỉ khi nào dì thôi hát thánh ca, lúc ấy chúng ta mới được phép thất vọng. Dì là biểu tượng cụ thể của niềm hy vọng Kytô giáo. Niềm hy vọng và tin tưởng này không bao giờ bị dập tắt, bởi nó là niềm hy vọng vào Chúa Phục sinh. Thánh tâm Chúa là nguồn mạch và máng chảy ơn cứu độ thế giới, là biểu tượng vĩ đại của Tình Yêu đã ban Con Một cho thế gian. (Ga 3, 16)

Phong trào tôn sùng Trái tim Chúa Giêsu đặt nền tảng trên niềm tin tưởng và hy vọng ấy. Từ thuở đời đời, Thiên Chúa đã quyết định đặt Trái tim Chúa Giêsu làm trung tâm điểm vũ trụ, mọi trái tim sẽ bị thu hút vào tâm điểm này, giống như mặt trời thu hút các hành tinh và các ngôi sao xoay quanh nó. Không vật nào chống lại được. nếu chống lại là chống lại sự sống và tồn tại của chính bản thân. Trái tim Chúa là đầu mối mọi quan hệ tình yêu: Thiên Chúa yêu nhân loại, nhân loại yêu thương nhau, cha mẹ yêu thương con cái, vợ chồng liên kết với nhau. Cho nên chúng ta phải học cho được thói quen chiêm ngắm Thánh Tâm này. Kinh thánh Cựu và Tân ước đều có trung tâm là Chúa Giêsu, như vậy Trái tim Chúa cũng là đề tài của mọi suy tư đạo đức và thần học. Có rất nhiều linh hồn, hội đoàn, giáo xứ đã đựơc lợi ích thiêng liêng nhờ lòng tôn sùng Trái tim Chúa. Chính Chúa Giêsu cũng ao ước điều đó: “Ta mang lửa xuống thế gian và không muốn gì hơn cho lửa đó cháy lên.” Lửa Ngài nói ở đây,chính là lửa tình yêu của Ngài. Nói cách khác là Trái tim cực trọng của Đấng Cứu Thế. Chẳng phải đến thời bà thánh Magarita Maria Alacoque (thế kỷ 17) phong trào tôn sùng Trái tim Chúa mới khởi sự. Nó đã tồn tại từ lâu, từ thời thánh Bonaventura (thế kỷ 13), thánh Albetô cả, thánh Gertruđê, thánh Catarina thành Sienna, chân phước Henri Susô, thánh Phêrô Canisiô, thánh Phanxicô Salesiô, thánh Gioan Euđé. Bà thánh Magarita Maria Alacoque là người có công nhiều nhất trong việc truyền bá lòng đạo đức này. Nhiều lần Chúa đã hiện ra với bà và ước ao người ta tôn sùng Trái tim Ngài: “Trái tim cực thánh của Ta, yêu mến loài người biết bao, đến nỗi không thể kìm hãm được nữa. Nó cháy lửa bác ái đối với mọi linh hồn. Con phải phổ biến tình yêu này bằng nhiều phương tiện. Con phải tỏ rõ cho mọi người kho tàng quý báu mà Cha sẽ cho con hay. Nó chứa đựng toàn thể ơn thánh hóa, ơn cứu chuộc để kéo các linh hồn ra khỏi vực thẳm hư mất đời đời.”

Xin đừng lý thuyết nhiều quá. Phong trào tôn sùng Trái tim Chúa là việc đạo đức thực hành, cần được phổ biến trong hàng giáo sĩ, giáo dân, các gia đình, đoàn thể, tới hang cùng ngõ hẻm. Đức Giáo Hòang Piô XII viết: “Chúa Cứu Thế đã nói với thánh nữ Magarita Maria Alacoque rằng Ngài dành sự sùng kính này như  là cố gắng cuối cùng của tình yêu mà Ngài muốn ưu ái những linh hồn của thế kỷ sau cùng này. Hãy truyền bá lòng sùng kính Thánh tâm. Nó là việc dạy dỗ người ta sự dịu ngọt và khiêm nhường, góp phần xây dựng hòa bình thế giới. Ngày nay, hơn bao giờ hết, thế giới đang có nhu cầu về công lý, hòa bình và bác ái. Nhưng đa phần nhân lọai tìm kiếm luống công, ngoại trừ nơi nguồn mạch chân thật là Trái tim cực thánh Chúa Giêsu.” Lý thuyết suông sẽ đưa người ta đến cằn cỗi và vô sinh. Các giáo sư uyên bác chỉ nói về tôn giáo, mà chẳng làm chi cả, đời sống vẫn tầm thường như bao người khác. Nhưng một linh hồn yêu mến với một chút hiểu biết sẽ bay bổng trên đường thiêng liêng. Giống như chiếc thuyền chèo, di chuyển nặng nề chậm chạp, nhưng nếu có cánh buồm căng gió, nó sẽ lướt nhanh trên mặt nước siêu nhiên. Gió ở đây là ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần. Kiến thức của lòng yêu mến là cánh cửa  đưa người ta vào cõi thiên thu với những chân trời mới rộng thênh thang, lạ lùng và sáng láng. Hiểu biết với lòng mến yêu đưa linh hồn vào những thực hành nhân đức, vào nguồn khôn ngoan và thông tuệ. Kinh thánh nói: “Ai yêu mến Thiên Chúa, thì được Người biết đến.” (1Cor 8, 3). Biết đến để ban ơn và dẫn dắt trên con đường nên thánh. Hiện nay Giáo hội có ba vị tiến sĩ phụ nữ chưa học hết lớp một. Có vị hình như không biết đọc, biết viết. Vì trong hạnh không thấy nói đến đi nhà trường. Ba vị tiến sĩ đó là: Catarina thành Sienna, Têresa Avila và Terêsa Hài Đồng Giêsu. Ngoài ra trong lịch sử thời cổ, có bà thánh Catarina Alexandria, thông thái khôn ngoan hơn các triết gia đương thời. Cuộc đối đáp với bà làm họ phải cúi mặt xấu hổ. Sự thông tuệ đó là do thực hành các nhân đức và được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, giống như cánh buồm căng gió.

Tôi biết một cha xứ đạo mạo kia, mỗi lần về thăm nhà dòng, câu duy nhất ngài nói: “Nhà mình toàn giám đốc, thông thái quá. Còn đây chỉ là ông cha xứ quèn.” Anh em nghe lời tưởng Ngài khen, mát lòng hả dạ. Nhưng thóang một cái cha xứ biến đâu mất, chẳng để ai hỏi lại  ý Ngài muốn ám chỉ điều chi ? Kẻ thì bảo Ngài thật lòng khen, người khác cho là mỉa mai chê bai. Tôi phân vân không biết đứng về phía ý kiến nào ? Cuối cùng quyết định cả hai, vừa khen vừa chê. Thật tình, nhiều anh em có bằng cấp cao, du học nước ngoài nhiều năm. Nhưng nếp sống chẳng hơn ai. Cũng đầy dẫy tính hư tật xấu, nhà lầu xe hơi tiện nghi đắt tiền. Làm sao gọi được là khổ chế, ăn chay đền tội ? Mãi sau này tôi mới ngộ ra: Theo triết học, có hai loại trí khôn, đúng hơn bộ óc người ta có hai mặt: Mặt lý thuyết và mặt thực hành. Mặt lý thuyết thu tích kiến thức, mặt thực hành hướng dẫn cuộc sống. Học hỏi nhiều, biết nhiều chưa chắc đã là người đạo đức, tốt lành. Ngược lại, người tốt lành đạo đức chưa hẳn đã thông minh, uyên bác. Thánh Thomas tiến sĩ phân tích vấn đề này thấu đáo, tôi miễn bàn ở đây. Điều muốn nói là kẻ tội lỗi vẫn thông minh như thường. Học tốt, hiểu sâu, nhưng không biết trình bày về nhân đức. Có hỏi, họ chỉ ấp úng những tư tưởng mông lung, lộn xộn. Tội lỗi đã làm hư hỏng phần thực hành. Kẻ bê tha, suy tư theo nếp sống của mình. Ngược lại, người nhân đức tốt lành có thể là chậm hiểu, không học hành giỏi giang, nhưng nhờ Thánh Thần hướng dẫn họ rất nhạy bén về luân lý, phân biệt chính xác các trường hợp tội phúc. Trí khôn còn nguyên vẹn cả hai mặt. Thí dụ cụ thể: Kẻ rượu chè say sưa không  tư vấn cho ai về các nhân đức được. mặc dầu có lúc họ rất khôn ngoan. Người ly dị không thể dạy dỗ đôi vợ chồng còn chung sống. Đúng như lời Chúa Giêsu phán: “Kẻ mù lòa dắt nhau, cả hai đều rơi xuống hố.”(Mt 15, 14). Cho nên chẳng lạ gì học giỏi tài cao mà nếp sống vẫn không khả quan hơn. Câu nói “Sai thì sửa, nhưng sửa rồi vẫn cứ sai” có thể hiểu được. và cũng nên rộng lượng tha thứ cho những kẻ lầm lỗi. Đó là thường tình của con người.

Nhưng không vì thế mà thôi cố gắng cải thiện nếp sống. Người đạo đức chân thật, nói về chân lý tốt hơn. Họ có Thánh Thần hướng dẫn, văn chương Kinh thánh gọi là lòng đầy Thần khí Đức Kitô. Những kẻ thiếu Thần khí, tư vấn chẳng ra làm sao. Các linh mục bê bối giảng giải chán ngấy, không có nội dung. Các thánh hướng dẫn linh hồn người ta rất hay, rất sốt sắng. Bởi chưng những linh hồn đạo đức tập trung vào Thiên Chúa. Họ chẳng có mục tiêu nào khác ngoài Thiên Chúa, nguồn vui, nguồn thông tuệ của lòng mình. Người kém nhân đức còn nhiều mục tiêu khác: tiền tài, sắc dục, danh vọng….. cho nên tâm hồn bị phân tán và nhìn sự vật theo những quan điểm thế tục. Ngược lại kẻ nhân đức không có quan điểm nào nữa ngoài quan điểm cứu rỗi của Thiên Chúa. Cho nên họ thường bị thiên hạ hiểu lầm, ghen ghét, tẩy chay, loại trừ. Chúng ta hãy coi gương sáng nơi các thánh. Trước hết Đức Giêsu trong vườn cây dầu: “Lạy Cha, xin theo ý Cha, đừng theo ý Con.” Đức Maria nói với sứ thần Gabriel: “Xin thực hiện nơi tôi theo như lời Ngài nói.” Thánh Phaolô trên đường đi Đamát: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm chi ?”. tất cả đều chứng tỏ các tâm hồn ấy không lợi dụng Đức Chúa Trời, mà là thuận theo ý Ngài. Họ vẫn sống bình thường, lao động bình thường, nhưng mọi sự được thực hiện trong ý muốn của Thiên Chúa. Giây phút hiện tại đựơc sử dụng như tôi tớ của vĩnh hằng.

Đây là tâm tình chúng ta phải có đối với Trái tim Chúa Giêsu, một đại dương của lòng yêu mến. Tháng này là tháng Trái tim, đừng bỏ lỡ cơ hội, nhưng hãy tập trung tâm hồn vào nguồn mạch yêu thương và nhân đức. Chiêm ngắm Trái tim Ngài, chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui và hy vọng. Rồi đây toàn thể loài người sẽ nhìn xem Đấng mà họ đã đâm thâu qua (Ga 19, 37). Thờ lạy và ngợi khen nguồn mạch yêu thương đã đổ hết máu mình để cứu độ nhân loại. Chúng ta không được phép thất vọng. Uy quyền vô biên Thánh Tâm Chúa sẽ cứu thế giới 

 Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_79)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

*****

10. Ba Má Tôi Cãi Nhau Hằng Ngày

 

"Nhờ tin vào Thiên Chúa, tôi đã dần dần hiểu được ý nghĩa cuộc đời, dù phải nếm qua nhiều thử thách và đau khổ". Vô Danh (Ðài Loan)

 

Tôi lớn lên trong một gia đình bất hạnh, vì má tôi không bao giờ bỏ qua cho ba tôi về bất cứ hành tung lớn nhỏ nào của ông. Nhà ở của chúng tôi biến thành một bãi chiến trường của ba má tôi và tôi đã không nhận ra được mấy tình yêu từ họ.

Bởi ngày nào hai ông bà cũng lo nhiếc mắng nhau nên các công việc nhà bị bỏ mặc. Vì thế ngay từ khi lên tám tuổi, tôi đã phải oằn vai gánh vác mọi công chuyện trong nhà. Nhận thấy ba tôi có chút tình cảm thiên về tôi là má tôi liền trút lên tôi sự quạu cọ của bà. Không bao giờ tôi được bà khen về sự đảm đang của mình, cũng chẳng bao giờ bà chia sẻ cho tôi một món ăn ngon. Ðiều khắc nghiệt nhất là má tôi không cho phép tôi dùng xà bông để giặt quần áo cho ba tôi. Và vì thế áo quần của ba tôi chóng bẩn và cũ. Ông đã tặng tôi hai bạt tai vì cho rằng tôi đã cẩ