|
|
Số 81
Ta Là Ánh Sáng – Lm. Nguyễn Công Đoan, SJ Xã Hội Tính Nơi Cung Lòng Ba Ngôi - Lm. Vũ Xuân Hạnh Mọi Giải Đáp Đều Nằm Trong Mình và Máu Thánh Chúa Kitô - Đỗ Trân Duy Cuộc Đời Thanh Vắng - Gm. Bùi Tuần Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J. Một Vài Nhận Định và Suy Tư về Nghi Thức Thánh Lễ Mới - Joseph Nguyễn An Tình Yêu Là Một Đòi Hỏi Gắt Gao – Phúc Âm Thứ V Lời Cầu Nguyện Của Cha Mẹ - Sưu Tầm Viết Về Cha Tôi – Lưu Trọng Tuấn Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả,
Sau một thời gian Thầy trò gần gũi nhau, họ bắt đầu cảm nghiệm được thế nào là lòng yêu mến thực sự, với một tình yêu không hướng về mình, mà hướng về tha nhân qua lời dạy và gương sống của Thầy và là Chúa của họ. Đến đây, Ngài dạy họ yêu thương ở cấp bậc thứ hai: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”(Mt 25, 40). Phải yêu thương anh em mình, như chính họ là Chúa! Tình yêu này bắt đầu là một tình yêu vô vị lợi: Phải gần gũi với Thầy Chí Thánh một thời gian dài mới có thể thực thi cách yêu thương như thế này. Lời giáo huấn này có thể hiểu được rằng: Hãy yêu thương nhau như Mình yêu Chúa. Nhưng đó cũng là một tình thương cần phải vượt qua. Đến ngày cuối cùng trong cuộc đời trần thế, khi các môn đệ đã cảm nhận được rằng tình yêu của họ đối với Thầy thì không thể nào ví bằng. Lúc bấy giờ ngài mới dạy họ thực thi một tình yêu giải phóng: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 15,12). Đó là lời trối trăn của Chúa, và cũng là lời dạy dỗ cuối cùng của Chúa Giêsu đối với những kẻ đã được Ngài chiếm hữu hoàn toàn. Và tình yêu mà Chúa muốn cho môn đệ Chúa thể hiện ấy là: Hãy yêu thương nhau như Chúa yêu Mình. Tuy nhiên, Tình Yêu vô biên của Thiên Chúa cũng chưa được biểu lộ đầy đủ qua một tình yêu cao độ như thế. Thánh Gioan đã viết rằng Chúa Giêsu “vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Ngài yêu thương họ đến cùng…,” tuy nhiên Ngài biết rằng họ không thể nào hiểu được tình yêu Thiên Chúa, dù Ngài có diễn đạt tình yêu ấy bằng ngôn ngữ nào đi nữa. Ví dụ: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy.” (Ga 15,9). Vì thế, Ngài chỉ biết cầu nguyện để họ cảm nhận và thực thi một Tình Yêu Nên Một: “xin cho họ được nên một như Cha và Con là một.” (Ga 17,22). Lời cầu xin này là gì nếu không phải là thao thức sâu xa nhất của Chúa Giêsu đối với những người ‘thuộc về Ngài: Hãy yêu thương nhau như Chúa yêu Chúa! Yêu thương nhau như Chúa yêu Chúa! Đó là điều mà mọi Kitô hữu được mời gọi suốt cuộc đời mình, và qua đó được trở nên trọn lành ‘như Cha là Đấng Trọn Lành.’ Đó cũng là một hình thức Mặc Khải Tình Yêu biến Hai Ngôi Vị thành Một trong Thần Khí, mà sau này Giáo Hội quảng diễn thành: Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Vâng, đã là mầu nhiệm thì không thể nào giải thích được. Mùa Phục Sinh, Kitô hữu hướng lòng về Ngôi Hai Cứu độ; sau lễ Hiện Xuống Dân Chúa chạy đến với Ngôi Ba Thánh Thần, thì tuần này, Giáo Hội muốn con cái mình tôn vinh Mầu Nhiệm Ba Ngôi, mà tiên vàn là Mầu Nhiệm của Chúa yêu Chúa, bằng một tình yêu Trở Nên Một và được biểu lộ trong Trái Tim Rất Thánh mà Giáo Hội mừng kính trong Tháng Thánh Tâm này. Rốt cục, khi mặc khải về Mầu Nhiệm Ba Ngôi, Chúa Giêsu không nhằm đòi hỏi môn đệ mình hiểu bản chất của Thiên Chúa, vì Ngài biết rằng họ không thể nào hiểu được, nhưng Ngài mong mỏi họ yêu nhau bằng Tình Yêu biến mọi Kitô hữu thành một... hầu cho ‘thế gian biết rằng Cha đã sai Con,’ hầu cho nhân loại hiểu rằng có một loại Tình Yêu xóa tan mọi khác biệt, để rồi đằng sau những cô đơn, đau đớn, bị bỏ rơi trên đồi Calvê, thì tự thâm sâu Tình Yêu vẫn lướt thắng mọi sự, vì Cha và Con là Một trong Thánh Thần. Theo chiều hướng Ba Ngôi là một mặc khải của Tình Yêu, Maranatha 81 xin gửi đến quý độc giả những tâm tình yêu thương nổi lên từ những môn đệ chịu cô đơn và bỏ rơi như Chúa Kitô trên thập giá, từ đó cảm nghiệm được lời dạy dỗ tối cao của Ngài: Các con hãy thương yêu nhau như Chúa yêu Chúa! Tình yêu đó, dù có vô biên, cũng cần được diễn đạt cách nào đó qua dấu chỉ để cho con người cảm nhận, mà Giáo Hội thường gọi là Bí Tích; và Bí Tích Tình Yêu chính là Bí Tích Thánh Thể. Vì thế, để cho các lời nguyện trong Thánh Lễ được tối ưu như mong muốn của hàng giáo phẩm Việt Nam qua bản dịch Nghi Thức Thánh Thể mới đây, và cũng là thao thức và mong mỏi của cộng đoàn dân Chúa, Maranatha cũng gửi đến quý vị một số suy nghĩ tâm tình của tín hữu Việt Nam, ước mong sao cho… Thánh Thể trở nên thực sự là ‘fons et culmen’ cho một đời sống đạo tràn đầy Tình Yêu, sự hiệp nhất và yêu thương của Chúa Ba Ngôi. Và nếu trong buổi tiệc ly, Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Cha cho môn đệ Ngài, là chúng ta đây, được làm Một với nhau như Thiên Chúa Ba Ngôi, thì chúng ta lại càng cần khấn nguyện lên với Ngài: Maranatha, lạy Chúa xin ngự đến! MARANATHA
"Ta Là Ánh Sáng..."(Ga 8,12)Lm. Nguyễn Công Ðoan, S.J.Bạn ơi, chỉ có Ngài dám nói câu đó, thế mà bạn có biết Ngài đã phải trả giá như thế nào để nói được câu đó không? Ngài đã bị thiêu đốt như thế nào để có thể là "ánh sáng soi cho thế gian?” Lửa nào đốt Ngài và đã đốt những gì trong Ngài, bạn biết chăng? "Trái Tim Ngài là lò lửa mến hằng cháy." Khi Ngài ra tay xua đuổi bọn con buôn làm ô uế nhà Cha Ngài, thì các môn đồ chợt nhớ lời Thánh Vịnh: "Lòng nhiệt thành vì Nhà Cha thiêu đốt tôi." Và khi bước vào cuộc đấu tay đôi quyết liệt với Satan, Ngài đã tuyên bố: "Nó không chống nổi Ta đâu, nhưng phải cho thế gian biết là Ta yêu mến Cha và hành động theo lệnh Cha." (Ga 14,30-31). Ngọn lửa ấy không chỉ đốt một khoảnh khắc thôi mà là suốt từ đầu đến cuối. Từ khi bước vào thế giới loài người như một bào thai trong bụng mẹ, Ngài đã thưa với Cha: "Này đây con xin đến để làm theo ý Cha," - và tiếng thưa của Mẹ: "Xin hãy cứ xảy ra cho tôi theo lời thần sứ" là tiếng vọng rõ nhất, hòa hợp nhất giữa Mẹ và con, giữa Thiên Chúa và con người. Cho tới lúc ngọn lửa sắp thiêu hết cuộc đời Ngài thì Ngài phải kêu lên: "Ta khát," để rồi sau đó Ngài có thể thỏa mãn và hãnh diện kêu lên: "Xong hết rồi," để gục đầu trao lại ngọn lửa ấy cho tất cả những ai muốn theo Ngài mà hiến thân cho lửa đốt để được chiếu sáng... Ngọn lửa ấy không chỉ đốt một phần thân thể Ngài, mà là đốt cả con người, cả mạng sống của Ngài: Bởi vì Cha muốn thế. "Sở dĩ Cha yêu mến Thầy, là vì Thầy hiến mạng sống để rồi nhận lại: không ai đoạt lấy mạng sống của Thầy được, Thầy tự hiến mạng sống đấy. Thầy có quyền hiến và có quyền lấy lại, đó là lệnh mà Thầy đã nhận tự Cha Thầy." Và ngọn lửa ấy đã đốt đến hơi thở cuối cùng của Ngài trên thập giá... Ngài đã cháy thành ánh sáng để tỏ cho thấy Ngài yêu mến Cha tới mức nào: "Ngài đã hạ mình vâng phục cho đến nỗi bằng lòng chết và chết trên thập giá." "Không có tình yêu nào lớn bằng..." Suốt cuộc đời làm người, Ngài không tìm gì khác ngoài vinh danh Cha và làm theo ý Cha, đến nỗi Ngài có thể nói: lương thực của Ta, đó là làm theo ý Cha Ta và hoàn thành công việc của Ngài. Trong ánh sáng của Ngài tỏ rõ Ngài hướng về Cha như thế nào thì đồng thời cũng phản chiếu cho chúng ta thấy Cha ở ngay trong Ngài: "Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha rồi," Ngài đã trả lời cho Philip như thế khi ông chẳng xin gì hơn là được Ngài tỏ cho biết Cha của Ngài. Bởi vì lời Ngài nói không phải của Ngài mà là của Cha. Việc Ngài làm không phải Ngài mà là Cha ở trong Ngài hành động: "Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy." Ở Ngài ta thấy được Thiên Chúa là Tình Yêu, bởi Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đem con một của mình mà cho thế gian, không phải để phán xét thế gian nhưng là để cứu thế gian. Ðó là khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa đã ngời sáng trên khuôn mặt và trong cuộc sống của Chúa Giêsu: "Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy yêu mến các con cũng như vậy." Lời ấy thật êm đềm và an ủi cho chúng ta biết mấy. Cha thì chưa ai thấy, ngoài Con ra. Chúng ta được biết Cha qua những gì Con cho biết. Và Chúa Giêsu con Thiên Chúa đã cho chúng ta biết không phải chỉ bằng lời nói mà bằng cả con người và cuộc sống, đến nỗi Ngài nói được: "Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha rồi." Ngọn lửa trong tim Chúa Cha đã cháy trong tim Chúa Giêsu để cho ta thấy dung nhan Thiên Chúa Tình Yêu. Và Tình Yêu ấy đã biến đổi chúng ta: "Hãy xem Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến thế nào, để chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, và quả thật chúng ta là như thế." Phải, tình yêu Thiên Chúa đã bộc lộ ra nơi Chúa Giêsu, đã tỏa sáng trong Chúa Giêsu không phải chỉ để cho chúng ta thấy, mà là cho chúng ta được đón nhận trong và nhờ Chúa Giêsu. Ngọn lửa đã thiêu đốt Ngài không chỉ hướng về Cha và bộc lộ Cha là Tình Yêu, mà còn hướng về chúng ta và bộc lộ cho chúng ta biết chúng ta là con cái yêu dấu của Thiên Chúa. Chúa Cha đã không đem Ngài làm quà tặng cho các thiên thần mà cho chúng ta, loài người trên hành tinh nhỏ này. Ngài đã nên một người trong chúng ta, ở giữa chúng ta, cùng chung huyết nhục với chúng ta: Ngài đã thành người anh em của chúng ta. Và thế là Ngài có thể nói thẳng với chúng ta rằng: "Chúa Cha yêu thương anh em." Và quả thế, Cha đã yêu thương chúng ta đến nỗi gởi Con của Ngài đến vói chúng ta, hiến mạng sống mình vì chúng ta để chúng ta được cùng với Ngài gọi Thiên Chúa là Cha: "Cha của Thầy cũng là Cha của anh em." Ngài đã bộc lộ tình yêu ấy theo kiểu một ông hoàng ban phát từ trên ngai cao. Ngài đã trở nên giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi. Ngài đã dãi dầu thử thách mọi bề như chúng ta, nhưng không phạm tội. Do việc Ngài đã dãi dầu thử thách, Ngài có thể cứu giúp những kẻ bị thử thách. Từ trong bụng mẹ, Ngài đã phải chịu nỗi gian truân do guồng máy cai trị đế quốc gây ra. Nhưng cũng chính nhờ thế mà Ngài đến được với những người nghèo nhất khi mở mắt chào đời và suốt cuộc đời Ngài sẽ ở giữa những người nghèo và đứng về phía họ với một tình thương khiến có lúc thân nhân tưởng Ngài hóa điên, vì không còn thì giờ ăn, nghỉ nữa. Có lần Ngài đưa môn đệ đi nghỉ mát, nhưng vừa tới nơi, thấy dân chúng, Ngài lại quên chương trình và bắt đầu giảng dạy, chữa bệnh cho họ... và Ngài đã tâm sự với môn đệ: "Thầy thương dân chúng, vì họ như đàn chiên không người chăn..." Cũng ngọn lửa ấy khiến Ngài thốt lên: "Thầy mang lửa đến thế gian và không mong gì hơn là thấy lửa ấy đã cháy lên! Thầy phải chịu một phép Rửa và Thầy khắc khoải biết chừng nào cho tới khi hoàn tất." (Lc 12,49-50). Ngài thao thức mong chờ giờ ấy đến, vì đó là giờ Ngài sẽ kéo theo tất cả lên với Ngài, giờ Ngài hiến mạng sống để cho đoàn chiên được sống và sống dồi dào hơn. Chính vì thế mà khi thấy giờ ấy đến gần, Ngài vừa rùng mình sợ hãi mà vừa reo vui mừng rỡ: "Giờ đã đến..." (Ga 12,23-28). Ðó là giờ ngọn lửa trong tim Ngài bừng sáng nhất, bởi vì là giờ Ngài bộc lộ đến cùng lòng yêu mến Cha: "Không có tình yêu nào lớn hơn bằng hiến mạng sống mình vì những người mình yêu mến." "Ngài đã yêu thương họ đến cùng..." Tình yêu ấy đã khiến Ngài cho hết, cho đến giọt máu và giọt nước cuối cùng còn đọng trong quả tim đã ngừng đập. Ngài đã nhờ ngọn giáo của tên lính độc ác để làm một điều mà người ta hay nói mà không làm được, đó là mở banh trái tim ra cho anh em của Ngài thấy Ngài yêu họ thế nào. Cùng với giọt máu, giọt nước cuối cùng ấy, Ngài đã cho anh em tất cả. Lớn hơn Ngài chỉ còn Chúa Cha, thế mà Ngài cũng cho luôn: "Cha của Thầy cũng là Cha của anh em" và: "những gì Thầy học biết ở Cha thì Thầy đã cho anh em biết hết." Thế mà Cha thì: "Không làm gì mà không dạy con," nên đến cuối cùng, Chúa Giêsu xin với Cha là: "Lạy Cha, con muốn rằng những người Cha đã ban cho con thì con ở đâu họ cũng được ở đó với con, để họ chiêm ngắm vinh quang Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu con từ trước khi tạo thành vũ trụ." Thế là ngọn lửa từ trái tim Thiên Chúa đã phóng Ngài xuống chia sẻ thân phận con người với chúng ta, đã thiêu đốt Ngài suốt đời, và khi kéo Ngài lên với Cha thì kéo theo tất cả chúng ta lên và cho chúng ta được chung phần với Ngài trong lòng Cha: "để tình Cha yêu con ở trong họ và con ở trong họ." "Con đã cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con."
¶ XÃ HỘI TÍNH NƠI CUNG LÒNG BA NGÔI Lm Vũ Xuân Hạnh Ai cũng đồng ý rằng, chân lý đức tin về Ba Ngôi là một chân lý lớn lao diệu vợi. Dù vậy, những tâm hồn có lòng yêu mến, có thiện chí, có sự kết hợp không ngừng với Thiên Chúa trong nỗ lực cầu nguyện, học hỏi và suy tư, vẫn cảm nghiệm một chân lý bền vững ngàn đời, đó là cảm nghiệm sâu lắng và nội tâm về tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi, một tình yêu mang bóng dáng “xã hội tính,” bởi đã không bao giờ khép kín nhưng trao ban, hiến dâng và cho đi. Hôm nay mừng mầu Nhiệm Ba Ngôi, chúng ta suy niệm đặc tính “xã hội” này nơi Thiên Chúa và nơi chúng ta. Từ đó, ta cảm nhận mạnh mẽ tình yêu của Chúa, rồi học lấy tấm gương của ông Môisen để sống suốt đời trung thành với tình yêu của Chúa. I. GIỐNG THIÊN CHÚA, LOÀI NGƯỜI LÀ LOÀI XÃ HỘI TÍNH. Chính tình yêu nơi cung lòng Thiên Chúa Ba Ngôi đã làm cho Thiên Chúa, dù duy nhất, vẫn thể hiện “xã hội tính” nơi chính mình. Bởi tình yêu luôn cần có đối tượng, tình yêu phải được dàn trải ra, đó mới là tình yêu. Nếu không, chỉ là một thứ ích kỷ, chỉ quy về chính bản thân mình, yêu chính mình mà thôi. Nơi cung lòng Thiên Chúa Ba Ngôi, tình yêu không ngừng trao ban cho nhau cách sung mãn: Cha hiệp nhất với Con, Thánh Thần là mạch sống bền chặt giữa Cha và Con. Ngay chính bản thân Thiên Chúa, dù là một, là duy nhất hoàn hảo tuyệt đối, vẫn là một bản thể biết san sẻ tình yêu, mang nơi mình tới Ba Ngôi vị. Cha trong Con, Con trong Cha. Tình yêu nơi Cha và Con làm phát sinh một Ngôi Vị tròn đầy, mang cùng bản tính như Cha và Con: Ngôi Thánh Thần. Chính vì thế, lời Tiền tụng lễ Chúa Ba Ngôi tuyên xưng: “Chúa là Thiên Chúa và chủ tể duy nhất, duy nhất không phải trong một Ngôi đơn độc, nhưng trong Ba Ngôi cùng một bản thể.”. Thiên Chúa duy nhất nhưng không đơn độc. Điều đó chứng tỏ nơi cung lòng Thiên Chúa có một đặc tính xã hội cách nào đó. Rồi khi sáng tạo loài người và thế giới, Thiên Chúa đã chia sẻ tình yêu nơi cung lòng Ba Ngôi ấy cho các thụ tạo mà Người dựng nên. Đặc biệt nơi loài người, chóp đỉnh của thụ tạo, Thiên Chúa Ba Ngôi đã đặt hình ảnh của mình trên và trong họ. Vì thế, khi nhân loại mang lấy chính hình ảnh Thiên Chúa, nhân loại cũng mang lấy đặc tính xã hội của Người. Nhưng không phải chỉ khi tạo dựng, Thiên Chúa mới trao ban chính mình. Người vẫn không ngừng trao ban chính mình. Người đặt để nơi nhân loại chính dấu ấn của Người cách hoàn hảo. Vì thế, qua hết thời gian này đến thời gian khác, tình yêu của Ba Ngôi trở thành nguồn gốc “xã hội tính” nơi nhân loại. Giống như việc người ta đọc thấy cuộc đời, cá tính, sự suy tư, vui buồn của một nhà văn trong tác phẩm mà ông viết từ chính đôi tay và khối óc của ông. Cũng vậy, nhân loại và vũ trụ là tác phẩm của Thiên Chúa tình yêu. Vì thế, ta có thể hiểu hình ảnh Thiên Chúa nơi loài người là bản sao chép từ chính tình yêu của Thiên Chúa. Có rất nhiều những dấu ấn của Thiên Chúa trên nhân loại. Một trong những dấu ấn ấy là xã hội tính nơi mỗi người chúng ta. Chúng ta đã kinh nghiệm nhiều về xã hội tính nơi chính mình, khi nhận ra mình không thể sống một mình, không thể có sự phát triển đúng nghĩa, không thể có khả năng nhận thức, khả năng tạo nhân cách, hoặc hiểu biết đầy đủ , nếu chỉ sống một mình. Nói ngắn gọn, loài người sẽ không là người nếu không có tương quan. Khám phá về xã hội tính nơi chính mình và nguồn gốc xã hội tính ấy phát xuất từ Thiên Chúa, ta đi tới một khám phá quan trọng hơn: Loài người không thể sống như chính họ là người, nếu Thiên Chúa không trao ban chính mình cho họ, nếu Người không đặt để hình ảnh của Người nơi tâm hồn của họ. Chính vì được hưởng nhờ chính Thiên Chúa, chúng ta đã và vẫn sống như chúng ta là người. II. MẪU GƯƠNG TRUNG THÀNH CỦA ÔNG MÔISEN Tấm gương của ông Môisen hoàn toàn để Chúa thu phục khi hiểu ra mình đang đối diện với Đấng Chí Thánh, Thần trên các thần, là bài học lớn để ta cũng biết noi gương ông, suốt đời đáp trả tình yêu diệu vợi của Thiên Chúa. Thánh Kinh kể, một ngày, khi ông Môisen đang chăn đàn vật tại núi Khorep, bỗng ông nhận thấy một quang cảnh hết sức lạ thường: bụi gai rực lửa, nhưng không bị thiêu rụi. Tò mò, ông chạy đến xem cho tường. Từ giữa bụi gai, có tiếng gọi đúng tên ông: “Môisen! Môisen!” Tiếng gọi ấy ra lệnh cho ông phải bỏ dép ra và không được đến gần, vì nơi ông đang đứng là nơi thánh. Tiếng nói ấy tự xưng là Thiên Chúa của tổ tiên ông. Ông sợ hãi che mặt, không dám diện kiến cùng sự uy nghi của Đức Chúa chí thánh của ông. Ông càng sợ hãi hơn khi Đức Chúa ngỏ lời sai ông đi giải thoát dân của Người ra khỏi cảnh lầm than nô lệ cho người Ai-cập. Dù biết mình yếu đuối, nhỏ nhoi, nhưng tin tưởng vào lời Chúa: “Ta sẽ ở với ngươi.” (Xh 3, 12), ông đã đáp trả bằng cả một đời trung thành, yêu mến, tùng phục, tôn thờ Đức Chúa của ông. Có thể nói, ông đã sống chết cho sứ mạng đã lãnh nhận vì lòng yêu mến Thiên Chúa và vì tình yêu của Người dành cho ông. Tuy nhiên, sứ mạng ấy không dễ chút nào. Biết bao lần Môisen như chẳng còn sức đâu mà chịu đựng lòng dân. Sự bội phản, thái độ thiếu tin tưởng vào Thiên Chúa, những lời kêu trách xúc phạm đến Chúa của dân, làm cho ông mệt mỏi, đuối sức. Đó là chưa kể 40 năm ròng rã sống trong sa mạc, không chịu nỗi sự khắc nghiệt của đời sống sa mạc, dân chúng trút lên ông những lời, những thái độ, hành động, suy nghĩ thù hằn của họ. Chính vì thế, dù là một nhà giải phóng dân tộc lừng danh, Môisen cũng đã từng quặn thắt tâm hồn, kêu than cùng Chúa và muốn chết đi: “Sao Ngài lại làm khổ tôi tớ Ngài? Tại sao con không đẹp lòng Ngài, khiến Ngài đặt gánh nặng tất cả dân này lên vai con? Có phải con đã cưu mang dân này đâu, có phải con sinh ra nó đâu? Một mình con không thể gánh cả dân này được nữa, vì nó nặng quá sức con. Nếu Ngài xử với con như vậy, thì thà giết con đi còn hơn.” (Ds 11, 12 tt). Học lấy mẫu gương của ông Môisen, nhận ra sự uy nghi cao cả của Chúa, ta hãy để Chúa làm chủ cuộc đời mình, và quyết tâm sống một đời trung thành với ơn Chúa ban. Ta hãy khiêm nhường đón nhận tất cả những nghịch cảnh xảy ra cho mình mà phó thác trong bàn tay quan phòng dìu dắt của Chúa. Chắc chắn cuộc đời sẽ không thiếu những nhức nhối, những thương đau, những oan khuất. Dù ta từ chối hay chấp nhận, cuộc đời vẫn cứ thế. Nhưng nếu trong đức tin và niềm phó thác, trước những nghịch cảnh, ta sẽ bình an hơn, bớt khổ sở hơn. Chúng ta luôn nhớ rằng, loài người đã được Chúa yêu thương. Những ai tin tưởng, khiêm tốn, vâng phục, sẽ là người thực sự hấp thụ tình yêu ấy. Bởi vậy, chúng ta hãy tập sống như thánh Phaolô dạy: “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu.” (1Tx 5, 18)
¶ MỌI GIẢI ĐÁP NẰM TRONG MÌNH VÀ MÁU ĐỨC GIÊSU Tổng hợp tư tưởng của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Giáo Hoàng Bênêđíc XVI ([1]) Đỗ Trân Duy Trong ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ 3, đức Gioan Phaolô II nhận định rằng khuynh hướng triết học hiện đại vẫn là cuộc tiếp nối chủ xướng của Descartes: con người là tâm điểm của vũ trụ. Đúng với nhận xét của Giáo Hoàng, chủ nghĩa duy lý càng ngày càng lan rộng trong mọi lãnh vực. Con người trở nên cực kỳ tự mãn với kiến thức của mình. Nền duy lý hiện đại cho rằng chính tư tưởng con người đặt tên cho thực tại để nó hiện hữu. Vì vậy, chỉ những gì phù hợp với tư tưởng con người chúng mới có ý nghĩa. Đối với họ, Thiên Chúa không có thật. Ý niệm Thiên Chúa chỉ thuần túy là một tư tưởng, hay một giả thuyết không thể kiểm chứng. Trong không khí cao ngạo ấy, một số học giả theo phương pháp phê bình sử học có vẻ đã làm chao đao khoa thần học Cứu Độ của Kitô giáo. Họ đưa ra những vấn nạn có sức lay chuyển đức tin, nơi cả những người ngoan đạo. Theo sát thời đại, Giáo Hội quan tâm đến những thách thức của tri thức hiện đại. Theo đức Bênêđíc XVI, truyền bá Phúc Âm cũng nhằm đào sâu sự hiểu biết chân lý được khám phá bởi lý trí. Giáo Hội muốn xác quyết không hề có sự cạnh tranh giữa lý trí và đức tin. Vào thập niên 60, học giả Bultmann cho rằng người ta thật sự không rõ Đức Giêsu đã chết thế nào. Người ta đành mở một cánh cửa cho giả thuyết có sự thất bại về cái chết ấy. Trong thập niên 70, Mainberger đã làm dân Âu Châu giật mình với câu nói thẳng thừng: “Đức Kitô đã chết vô ích.” (Christ died for nothing). Qua thập niên 80, Vittorio Messori, dựa vào thống kê về tình trạng tín đồ Công Giáo đang trên đường giảm thiểu, đặt nghi vấn Công Giáo có nguy cơ bị triệt tiêu. Kế đó một số người công giáo hâm nóng vấn đề với tranh luận về khóm từ “cho mọi người được tha tội.” Họ cho biết nguyên văn tiếng Hy Lạp và La Tinh trong lễ Misa là “cho nhiều người,” dịch thành “cho mọi người” là cố tình chuyển ý sai. Đó là một số nhận định tiêu biểu của thời đại mới. Chúng có chung một mối ngờ vực về giá trị cuộc tử nạn của Đức Giêsu. Theo đó, tất cả những gì Đức Giêsu đã làm, chẳng giúp ích gì cho tình trạng sa đọa của thế giới con người. Như chúng ta đã biết, phương pháp phê bình sử học không chấp nhận những hiện tượng tâm linh siêu việt, vì sử học không thể kiểm chứng chúng được. Bultmann, và nhóm của ông, chỉ coi Đức Giêsu là một đạo sư trình độ bình thường và có 12 môn đồ. Siêu tính Thánh và những phép lạ của Đức Giêsu đều bị họ loại bỏ. Bultmann lúng túng không tìm ra lý do tại sao Đức Giêsu bị giết. Người ta không bao giờ đóng đinh một vị thầy bình thường. Không những thế, trong hậu trường của cái chết lại qui tụ nhiều giới cấp xã hội đối nghịch: Do Thái và La Mã, người tin và kẻ chống. Nhóm Bultmann bắt buộc phải đề xuất một cơ sở sử liệu nào đó để có thể giải thích và chứng minh. Họ biện luận rằng những lời hô hào cải tạo xã hội của Đức Giêsu là nguyên nhân cái chết của Người. Lời kêu gọi không được dân hưởng ứng, mà người đề xướng thì bị giết, vậy là một việc làm thiếu hiệu quả, nếu không muốn nói là thất bại. Theo đức Bênêđíc XVI, khổ nạn Thập Tự Giá của Đức Giêsu vượt khỏi sự kiện bình thường, nên cũng không thể giải thích theo những tiêu chuẩn thông thường. Lời giải cho vấn nạn trên, và những chủ đề cùng loại, nằm trong biến cố bữa tiệc ly. Khi Đức Giêsu ban bánh và rượu, Người nói: “Đây là mình Ta,” và “Đây là máu Ta.” Khi tuyên bố như vậy, chính Đức Giêsu đã cho biết Người sẽ nhận cái chết và lý do tại sao phải như vậy. “Đây là mình tôi, đây là máu tôi” vốn là lời nguyện của dân Do Thái khi dâng lễ sát tế thú vật trong đền thờ. Khi Đức Giêsu nói câu này Người đã không dùng vật gì khác ngoài chính mình làm của lễ hy tế. Tuy căn phòng của bữa tiệc ly không phải là đền thờ, nhưng Tân Ước không cần đền thờ, vì Thiên Chúa và Chiên Con chính là đền thờ. Ngay lúc ấy Người đã khiến hằng vạn những vụ sát tế thú vật thời Cựu Ước, cùng tất cả những lễ sát tế trong lịch sử nhân loại đều trở thành vô nghĩa. Chúng không thể nâng con người lên gần Thiên Chúa. Chỉ qua Đức Giêsu, chúng ta mới nối kết được với Thiên Chúa tối cao. Bằng cái chết của Đức Giêsu, giao ước hứa ban trong Cựu Ước nay đã được hoàn thành. Hai câu nói thâm sâu đến mức không thể đo lường của Đức Giêsu là nền tảng của mầu nhiệm Thánh Thể, biểu hiệu muôn đời cốt tủy của Công Giáo. Từ câu nói ấy chúng ta rút ra mọi giải đáp về sự sống, bởi Thánh Thể là thực tại hiện diện của Thiên Chúa hằng sống. Cuộc tử nạn của Đức Giêsu làm tiêu tan sự hư nát, nỗi buồn tẻ, niềm vô vọng, và tội lỗi của thế giới. Tuy nhiên một nghi thức không tự dưng mà được lập ra và có thể tự đứng độc lập. Nó phải nối kết với một thực tại là cái nội dung của nó. Cũng như tấm ngân phiếu phải có tiền bảo chứng mới có giá trị. Thực tại, tức nội dung, của nghi thức “cho bánh và rượu” là “hiến tặng một tình yêu.” Thịt và máu không phải từ một xác chết nhưng là một tặng phẩm tình yêu của người còn sống. Đức Giêsu chỉ có thể nói “cho” khi Người thật sự cầm lấy mà cho. Vào lúc ấy Đức Giêsu chỉ có thể trao cho các Tông Đồ, những vị đại diện cho nhân loại. Nhưng sau Phục Sinh, tình yêu của Người đi vào vĩnh hằng, vì tình yêu này đã vượt thắng sự chết. Khi ấy ơn cứu độ có quyền lực “ban cho” mọi người. Sau Phục sinh, qua nhiệm tích Thánh Thể, Đức Giêsu hiến mình và máu để trao ban cho mọi người. Lời “cho” bánh và rượu là lời hiến tặng chính Người, và cũng là lời mời gọi chúng ta đi vào mầu nhiệm tình yêu của Người. Bultmann, và những người duy lý, muốn biết Đức Giêsu đã chết thế nào. Xin trả lời Đức Giêsu đã chuyển cuộc tử nạn thành một nghĩa cử tâm linh cho một xác quyết: tự-xé-nát-thân để tự-phân-phát tình yêu; đồng thời cũng là một động tác tôn vinh Thiên Chúa. Lời nói trong bữa tiệc ly nếu không có cái chết-cho-tình-yêu đi kèm, chẳng khác gì tấm ngân phiếu không tiền bảo chứng. Nhưng nếu cái chết không có di-ngôn-trao-ban đi kèm, cuộc tử nạn chỉ là bản án tử hình vô bổ. Cuộc hy tế là điểm cao nhất của tình yêu. Đó là ý nghĩa Đức Giêsu muốn chúng ta hiểu về cái chết của Người. Như vậy trong nhiệm tích Thánh Thể, cả ba thành tố: tình yêu, hiệp thông và phụng thờ Thiên Chúa quyện thành một. Suy ra khi chúng ta nhận lãnh Thánh Thể mà không có lòng mến Chúa yêu người, tự bản chất đã có sự tan vỡ, chúng ta sẽ không có sự hiệp thông. Chúng ta còn thấy điều này rất phù hợp với kỳ vọng của Cựu Ước. Đức Giêsu thêm vào một câu nói, lấy ý từ sách Isaia chương 53: đổ ra cho các ngươi và cho nhiều người. Những kiểu nói tương tự như thế vốn là lời tế tụng của dân Do Thái, trong thời kỳ lưu đày ở Babylon. Vào lúc đó đền thánh Giêrusalem không còn. Mọi phụng vụ trong đền thờ không còn. Để duy trì sự kết hợp liên tục với Thiên Chúa, dân Do Thái chấp nhận đau khổ như một phụng vụ mới. Nỗi đau khổ của họ được coi như là cuộc hiến tế để xám hối. Tuy lãnh chức nhiệm ấy, nhưng họ lại chưa bao giờ thực hiện được hoàn mỹ. Họ luôn luôn tỏ lộ sự vô ơn, lòng ích kỷ và tâm bất xứng. Vì vậy cùng lúc, tuy trong nỗi niềm hiến dâng nỗi đau khổ, họ vẫn mong đợi có một đấng sẽ đến thực hiện điều ấy một cách trọn vẹn. Đức Giêsu tự nói câu này, như vậy Người không nói cho mình, nhưng thay mặt cho toàn thể nhân loại. Nơi Người, nỗi mong đợi của Cựu Ước đã thành tựu. Mình và Máu là căn gốc của phép Thánh Thể. Nhưng chân lý Tân Ước cho biết chỉ có lời nói sẽ không đủ. Chỉ có cái chết sẽ không đủ. Có cả hai vẫn không đủ. Phải có Phục Sinh mới hoàn toàn đầy đủ cho nhiệm tích Thánh Thể (1Cor 15:14). Nhiều người chỉ có cái nhìn cục bộ hoặc nhắm vào lời nói, hoặc chú ý đến cái chết, hay nệ vào cách tường thuật dị biệt của kinh điển, nên không nắm vững vấn đề. Chẳng hạn một số người đã ngưng đọng tầm nhìn ở khái niệm “cho nhiều người.” Trong tiếng Hebrew, chữ “nhiều người” cũng đồng nghĩa với chữ “mọi người.” Như vậy không có vấn đề dịch sai nhưng tùy ở chỗ đứng của hướng nhìn. Cả hai công thức “nhiều người” và “mọi người” đều được dùng trong Kinh Thánh và truyền thống của Giáo hội. Sách lễ Latin và Tân Ước Hi Lạp đã dùng chữ “nhiều người.” Sách Tân Ước của những ngôn ngữ khác dùng chữ “mọi người.” Tuy nhiên cả hai đều không diễn tả trọn vẹn ý nghĩa của Phúc Âm. Trong mọi trường hợp, ta phải đặt câu nói này trong toàn mạch Thánh Kinh mới hiểu được. Trọn vẹn chân lý Tân Ước, cũng như trọn vẹn cốt tủy của truyền thống Giáo Hội, là mặc khải về ơn cứu độ cho toàn thể loài người gồm những người thời trước, thời hiện tại, và thời tương lai. Đức Giêsu không chết cho một nhóm người hay cho một thời điểm lịch sử nhất định. Thiên Chúa không đặt ra ở đâu đó một đường ranh giới ngăn cách con cái của Người. Thánh Phaolô đã nói rõ, “Đức Giêsu đã hiến mình làm của lễ hy sinh cho toàn thể” (1 Tim 2:6) và “một người chết cho tất cả.” (2 Cor 5:14). Đức Giêsu biểu lộ tình yêu trong cách thế tuyệt hảo nhất: Người trao ban chính Người, để nâng nhân loại lên và để cứu rỗi toàn thể nhân loại. Truyền thống này là chính thống của đức tin. Đã có lần vào thế kỷ thứ 7, Jansen (1585-1638) tung ra dị thuyết cho rằng Đức Giêsu không chết cho tất cả mọi người. Giáo Hội đã mạnh mẽ phủ nhận chủ xướng sai lạc này. Lối suy nghĩ ấy chỉ có ở nơi những con người ích kỷ, kẻ không thể chấp nhận tiền công trả cho người đến sau cũng bằng với tiền công của người đến trước. Đó là thái độ của người anh, kẻ không chịu nổi tình yêu của cha đối với đứa em thoát chết. Những người này chỉ cảm thấy hạnh phúc khi người khác thua kém mình. Như vậy họ chỉ đến với họ không phải đến với Thiên Chúa. Đức tin đức mến đối với họ là một gánh nặng. Họ thích sống đầy đủ giữa những kẻ thiếu thốn. Một cuộc cứu độ ganh tị không phải là ơn cứu độ của Kitô giáo. Tuy nhiên, mặc dù ơn cứu độ ban cho tất cả, nhưng không vì thế mà tất cả mọi người đều được cứu rỗi. Thiên Chúa không cưỡng ép bất cứ ai phải chấp nhận ơn cứu độ của Người. Thiên Chúa thật sự là một người Cha yêu thương và tôn trong phẩm giá tự do của con cái. Dù con người dùng tự do ấy để phủ nhận Thiên Chúa, phẩm tính tự do không vì thế mà bị hủy bỏ. Đó là lý do tại sao Thiên Chúa muốn cứu mọi người, nhưng không phải mọi người đều được cứu một cách máy móc. Khi nói “cho mọi người” Hội Thánh cố ý nhấn mạnh vào tính phổ quát của ơn cứu độ. Tuy vậy ơn này chỉ thành tựu khi có sự đáp ứng của con người. Cho nên khi nói: “nhiều người được cứu rỗi,” đó không phải là sự thất bại nhưng là sự lựa chọn của ý chí tự do. Chúng ta hãy suy luận tiếp câu nói thứ ba của Đức Giêsu: “Đây là máu giao ước.” Lại một lần nữa Đức Giêsu xác nhận Người chấp nhận cái chết. Cuộc tử nạn của Đức Giêsu là sự cô đọng toàn thể Cựu Ước bao gồm thần học Hiến tế, thần học Lưu Đày, và thần học Tôi Tá Đau Khổ. Giờ đây chúng ta còn thấy câu nói thứ ba này nêu ra một chủ đề quan trọng khác: Đức Giêsu lấy máu để thành lập huyết thống anh em với nhân loại ([2]). Người lấy máu để đóng ấn Giao Ước Mới này. Thánh Âugustine, đã có lần giảng trong ngày lễ Tiền Phục Sinh: “Các con cần hiểu rằng các con đã nhận được gì. Đức Giêsu nói (qua thánh Tông Đồ), ‘Chúng ta tuy nhiều nhưng chỉ là một Thân Thể,…một Bánh’ Đó là tất cả những gì các con cần biết.” Thật thế, Thánh Thể đã kết hợp chúng ta thành một thân thể. Đức Giêsu là Đầu, chúng ta là chi thể. Đó là Giao Ước Mới của Đức Giêsu. Vì đức Giêsu là Thiên-Chúa-người, cho nên khi lập Giao Ước Mới này, Người đại diện nhân loại tế lễ Chúa Cha, cùng lúc Người cho chúng ta hợp nhất với bản thể Thiên Chúa của Người, để có thể mang chúng ta đến với Cha. Người là cửa ngõ để Thiên Chúa và nhân loại gặp nhau. Người đã mở một cánh cửa mà chúng ta không thể nào tự mở cho mình. Đó là ân phước chúng ta không bao giờ dám nghĩ tới. Cánh cửa này mãi mãi vẫn khuất trong bóng tối âm u cho biết bao nhiêu tôn giáo. Họ tiếp tục kêu gào, truy tầm khắc khoải trong thời gian, nhưng không chắc có được câu trả lời. Chúa Cha chỉ nghe lời Con Yêu Dấu của Cha, Đấng cũng là Thiên Chúa. Trở lại với câu phê bình: phải chăng Đức Giêsu đã thất bại? Theo nhãn quan duy lý của trần thế, ngay từ lúc đầu Đức Giêsu đã thất bại. Lời giảng đạo của Người ít được ai theo. Không những thế vì những lời giảng ấy mà còn bị giết. Nhưng Kitô giáo không quan niệm thành công dựa trên những con số thống kê tín đồ. Sự thành công nằm ở Thập Tự Giá, ở nơi Giáo Hội hoàn vũ, và ở nhiệm tích Thánh Thể. Thập Tự Giá là dấu hiệu Thiên Chúa toàn thắng sự chết và tội lỗi. Giáo Hội là nguồn ban phát nhiệm tích Thiên Chúa. Thánh Thể là bằng chứng Thiên Chúa hằng hiện diện. Thiên Chúa đến chia sẻ nỗi đau khổ của con người. Con người không còn sống lẻ loi, không bị bỏ rơi. Mình Máu là Sự Sống và là nguồn lực thanh lọc của con người. Nhờ đó con người không còn là một sinh vật ô uế, nhưng được cứu vớt. Những điều siêu việt này vượt trên ý niệm thành công theo số lượng, khi giá trị không thể đo bằng số lượng. Trả lời cho ký giả Vittorio Messori về hiện tượng tín đồ giảm thiểu, đức Gioan Phaolô II đã nói những lời rất giản dị nhưng cũng rất bất hủ, “Tôi nghĩ rằng Đức Giêsu đã trả lời rồi, Người nói: Khi Con Người đến, liệu có còn niềm tin trên trái đất nữa không?” (Luc 18:8). Nhưng trước khi nói câu đó, Đức Giêsu đã an ủi những ai theo Người: “Đừng sợ hãi! Hỡi đàn chiên bé nhỏ! Vì Cha các ngươi đã ban Nước Trời cho các ngươi.” (Luc 12:32). (Đức Gioan Phaolô II đã nổi tiếng với khẩu hiệu “Đừng sợ hãi” trong suốt triều đại của ngài.) Hiển nhiên Đức Giêsu không tiên liệu chân lý của Người là một lời hứa dễ dàng cho mọi người. Chúng ta không thể hạ thấp Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, trở thành một ông tiên, người dùng đũa thần biến hóa mọi thứ để có một kết cuộc hạnh phúc theo ý chúng ta. Trong khi con người muốn sống hưởng thụ, thì Phúc Âm của Đức Giêsu đưa ra những thách thức nghịch lý: “Ai muốn được cứu phải vác thập giá,” “Ai muốn sống cái tôi phải chết”… Đó là nền tảng Tin Mừng của Đức Giêsu, nhưng đó cũng là nguyên nhân chống đối của những người duy lý
¶
Gm. Bùi Tuần Tuần báo "Công Giáo và Dân Tộc" hai số liền vừa qua đã loan hai tin "từ chức" quan trọng. Số báo 1558 đưa tin Đức Giáo Hoàng đã nhận đơn từ chức của Đức Cha Phaolô Tịnh Nguyễn Bình Tĩnh, Giám mục Đà Nẵng, vì lý do tuổi tác. Số báo 1559 loan tin Đức Cha Giuse Nguyễn Tích Đức, Giám mục Buôn Ma Thuột, đã xin hưu vì lý do sức khoẻ và đã được Toà Thánh chấp thuận. Tôi có cảm nghĩ là: Mọi tín hữu khắp nơi tại Việt Nam, khi đọc hai bản tin này, đều hướng lòng về hai Đức Cha đáng kính, với tâm tình cảm mến sâu xa. Riêng đối với tôi, hai bản tin này không những gợi lên trong lòng hình ảnh hai vị chủ chăn đáng kính nói trên, mà còn gợi nhớ đến tất cả các vị hồng y, giám mục và linh mục tu sĩ đã về hưu. Các ngài đang sống hiệp thông giữa Hội Thánh Việt Nam vừa hoạt động, vừa thầm lặng. Gánh nặng trách nhiệm đã trao nay được cất khỏi vai các ngài. Nhưng gánh nặng về bệnh tật thân xác và về khổ đau tâm hồn nhiều khi lại mỗi ngày mỗi tăng thêm. Với những gánh nặng âm thầm ấy, nhiều vị sống cuộc đời hưu thanh vắng. Trong cuộc sống thanh vắng ấy, nhiều giáo sĩ và tu sĩ về hưu đã là những thành phần thực sự phục vụ hữu ích, ngay trong hoàn cảnh bại liệt. Sự phục vụ hữu ích được thực hiện nhiều cách. Ở đây, tôi chỉ xin dựa vào kinh nghiệm rút ra từ nhiều vị giáo sĩ và tu sĩ về hưu đây đó, để chỉ nêu lên sự phong phú thiêng liêng của cuộc đời thanh vắng nơi các ngài. Sự phong phú này không những sinh ích lợi cho các ngài, mà cũng rất ích lợi cho Hội Thánh. Lắng nghe sự thanh vắng Trong sách Khải Huyền, Chúa phán: "Này đây, Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa ra, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta." (Kh 3,20). Trong đời hoạt động của người giáo sĩ và tu sĩ, Chúa thường đứng bên lòng họ, và gõ cửa lòng họ. Lúc gõ nhẹ, lúc gõ mạnh. Nhưng thực tế đã cho thấy: Những tiếng gõ ấy nhiều khi không được luôn đón nhận. Do đó, Chúa đã không vào được lòng người. Hoặc không ở được lâu trong lòng người. Lý do vì đời say mê hoạt động dễ gây nên quá nhiều bận tâm, ngoài thánh ý Chúa. Lúc nào cũng ồn ào, bận bịu. Còn nội tâm lại trống vắng. Nhưng, trong cuộc đời thanh vắng của người hưu, nếu các ngài năng cầu nguyện và suy niệm, các ngài sẽ nghe được tiếng Chúa rõ hơn trước. Chúa vẫn gọi các ngài cũng một lời như xưa: "Hãy theo Ta". Mặc dầu hưu, các ngài vẫn đi theo Chúa bằng cách thích hợp mà Chúa soi cho các ngài. Các ngài sẽ đồng hành với Chúa Giêsu, Đấng đã quả quyết: "Con Người đến để tìm và cứu những gì đã hư mất" (Lc 19,17). Nhiều vị về hưu đã chia sẻ cho tôi biết sự các ngài nghe tiếng Chúa gọi các ngài trong đời hưu. Do đó đời hưu không là nghỉ chơi thoải mái, mà là phục vụ một cách khác. Nhờ vậy, các ngài đã phần nào khám phá ra kho tàng châu báu của sự thanh vắng. Khám phá sự thanh vắng Trong sách tiên tri Hôsê, Chúa phán: "Ta sẽ đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình." (Hs 2,16) Lời Chúa phán trên đã được nhiều vị về hưu cảm nghiệm rất sâu sắc. Đời hưu, đối với nhiều vị đạo đức, đã trở thành một sa mạc thiêng liêng. Trong sa mạc nội tâm, các ngài nếm được những tâm tình của Thiên Chúa tình yêu. Tình yêu của Thiên Chúa nhiều khi đã đến qua thánh giá. Lúc ấy, các ngài hiểu thấm thía lời ca rút từ tinh thần của thánh Phaolô: "Vinh dự của chúng ta là thập giá Đức Kitô. Nơi Người, ơn cứu độ ta, sức sống của ta và sự phục sinh của ta." Trong sa mạc của đời hưu, biết bao vị giáo sĩ và tu sĩ đã đọc đi đọc lại thánh vịnh 138 của vua Đavít: "Lạy Chúa, Người đã dò xét con và Người biết rõ, biết cả khi con đứng con ngồi. Con nghĩ tưởng gì, Người thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Người quen thuộc cả... Người bao bọc con cả sau lẫn trước, bàn tay của Người, Người đặt trên con" (Tv 138,1-5). Với những lời thân mật trên đây, nhiều vị về hưu cho thấy, các ngài đã khám phá được nhiều sự thực quý giá, mà trước kia, các ngài không rõ lắm. Với những khám phá như trên, nhiều vị về hưu đã thưởng thức sự thanh vắng với một tinh thần đạo đức mới. Thưởng thức sự thanh vắng Điều mà nhiều vị hưu được thưởng thức hầu như thường xuyên, đó là niềm cậy tin phó thác tuyệt đối vào lòng thương xót Chúa. Các ngài hiểu rõ vai trò của mình theo chương trình của Chúa. Trong vườn nho Chúa có kẻ gieo, có kẻ tưới, có kẻ nhặt cỏ, có kẻ thu hoạch. Chúa trao cho mình một nhiệm vụ. Có thể chỉ là gieo, có thể chỉ là chăm sóc, dù rất âm thầm, mình luôn xin vâng. Sự xin vâng ấy được tan hoà vào tâm tình xin vâng của Đức Mẹ Maria. Trong thanh vắng cuộc đời, nhiều vị về hưu đã sống lời "xin vâng" với nhiều phấn đấu nội tâm. Nhưng các ngài thưởng thức được niềm hy vọng sâu thẳm của con người phó thác, nhất là khi ý thức mình chỉ là dụng cụ hèn mọn, với bao tội lỗi. Niềm hy vọng này dựa vào một lòng khiêm tốn chân thành. "Lạy Chúa là Thiên Chúa cứu độ con, trước thánh nhan, đêm ngày con cầu cứu. Nguyện cho lời kinh vọng tới Người, xin lắng nghe tiếng lòng con thổn thức" (Tv 88,2-3). Với những lời cầu như thế, nhiều người hưu chỉ đặt hy vọng vào lòng thương xót Chúa mà thôi. Luôn luôn, họ lặp lại lời Chúa Giêsu đã phó thác xưa trên thánh giá: "Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha." (Lc 23,46) Trên đây là một vài cảm tưởng của tôi về đời thanh vắng của nhiều hồng y, giám mục, linh mục tu sĩ về hưu. Mặc dù những cảm tưởng này còn rất yếu ớt, tôi vẫn muốn nhờ đó để nói lên đôi chút về vẻ đẹp và sức mạnh thiêng liêng của Hội Thánh tại Việt Nam. Cùng với nhiều giáo sĩ và tu sĩ về hưu luôn thiết tha với lý tưởng, rất nhiều giáo dân cũng đang hợp ý cầu nguyện, hy sinh và dấn thân âm thầm. Với sức sống thiêng liêng đó, Hội Thánh Việt Nam nhiều lúc nhiều nơi coi như thầm lặng, nhưng thực sự đang mang tiềm năng một lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Hy vọng đây chính là một góp phần kéo ơn Chúa xuống cho xã hội hôm nay và tương lai. Xin trân trọng cảm ơn những cuộc đời thanh vắng đó đang gần gũi, mà cũng đang dần dần đi xa
¶ Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay(tiếp theo Maranatha_80) Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.******* 11. Con Tôi Bị Bệnh Tâm Thần "Veronica Anne, đứa con bị bệnh tâm thần của tôi, là một kho tàng quí đến nỗi thật tôi không tài nào diễn tả được sự quí giá đó bằng lời nói. Ba đứa con gái của tôi và tôi đã hết sức trông cậy vào Chúa quan phòng và vẫn mãi mãi trông cậy như thế. Hơn thế nữa, nhờ Veronica Anne mà tôi đã lớn lên trong tình yêu đối với Ðấng Tạo Thành để có thể thưa với Ngài: "Fiat Abba - lạy Cha, xin cho ý Cha được nên trọn." Anne Webb (Singapore)
Theo chỗ chồng tôi biết, đáng ra Averonica Anne phải là một đứa con đầu lòng của chúng tôi. Nếu cơn chuyển bụng của tôi kéo dài thêm vài tiếng đồng hồ thì có lẽ Veronica Anne đã chết trong thai. Con bé bị chứng hoàng đản và cách thể duy nhất để cứu sống nó là phải truyền máu lấy từ cơ thể tôi, mà tôi thì đuối sức vì cuộc sinh nở. Ðó là vào giai đoạn Nhật chiếm đóng nên phương tiện y khoa không dễ dàng. Sau ba ngày liên tục được truyền máu, vẫn không thấy dấu hiệu gì hy vọng. Con bé sắp chết, và bác sĩ là một tín hữu rất sùng đạo đã xin cho Veronica Anne được rửa tội khẩn cấp. Dì tôi là người thực hiện phép rửa đó. Một mẩu ảnh hay làm phép lạ được đính trên áo nó và con bé trở nên khá hơn, dần dần mạnh hẳn, nhưng phải chịu tai biến não. Khi bác sĩ cho biết rằng con tôi sẽ bị chậm phát triển tâm thần, phản ứng đầu tiên của tôi là nổi giận. Nhưng khi nhớ lại rằng con mình đang sống, tôi đã thách đố Chúa và Ðức Mẹ rằng "Tại sao chỉ làm phép lạ một nửa? Tại sao con bé không được cứu chữa trọn vẹn?" Chỉ về sau này khi cuộc hôn nhân của tôi bị vỡ, tôi mới hiểu được lý do của phép lạ nầy. Ðó là vào năm Veronica lên năm tuổi, tôi ở tuổi hai mươi hai và đã có hai đứa con khác nữa. Bác sĩ thuyết phục tôi gửi Veronica Anne vào một tu viện để con bé có thể được huấn luyện riêng. Không bao giờ tôi quên được ánh mắt con tôi trong giây phút chia tay, để nó lại trong tu viện. Tôi quay lưng đi mà không dám ngoái lại nhìn, sợ mình sẽ ôm nó vào lòng và sẽ mang nó về nhà mất. Từ đó, tôi chỉ gặp con mỗi tháng một lần theo quy định. Veronica được hướng dẫn riêng, con bé học khâu vá, học đọc và viết, nó được giúp đỡ để có được nền tảng chắc chắn về Ðức Tin. Người ta sớm phát hiện ra Veronica Anne bị điếc nặng, nhưng khuyết tật phụ thêm nầy của con bé đã trở thành điều may mắn bất ngờ, bởi vì Trung Tâm của nó được chuyển thành một cơ sở do chính phủ bảo trợ, và vì đó là một trường dành cho người điếc nên chỉ các trẻ em điếc mới được tiếp tục lưu tại đây. Thế là Veronica Anne được ở lại và tôi tạ ơn Chúa biết bao về cái khuyết tật nầy, bởi vì làm sao tôi có thể đưa con bé về nhà khi tôi phải làm việc để nuôi hai đứa em nó và chính tôi nữa. Ðể kiếm tiên, tôi đã nhận công việc gấp đôi vào những ngày trong tuần, làm việc cả những ngày Chúa nhật và các ngày lễ nghỉ. Veronica Anne đặc biệt yêu mến Ðức Mẹ. Khi tôi nghỉ hưu vào tháng 10 năm 1985, tôi đã đưa con gái tôi về sống với mình và phải nhận rằng thật là một kinh nghiệm kinh khủng phải chôn chân một chỗ trong một căn hộ ba phòng. Nhưng chính nhờ sống với đứa con gái bị bệnh tâm thần ấy mà đức tin của tôi đã không bị lung lạc. Làm một bà mẹ góa của một đứa con bị bệnh tâm thần thật là vất vả. Tôi chỉ cần làm thủ tục li dị và tái hôn là có thể được ổn định. Nhưng tôi không thể, vì tôi biết rằng Thiên Chúa đã ban cho tôi đứa con đặc biệt của Thiên đàng nầy, một kho tàng quí hơn hết mọi châu báu trần gian. Trong một lần mới đây, tôi đã nhận được những ân huệ rất kỳ diệu. Tôi đã trở thành một người bạn đường gắn bó hơn với Ðức Giêsu. Và kết quả tất nhiên sẽ là: tôi cảm thông hơn với cuộc sống khổ nạn của Người, nhờ vậy tôi có thể tham gia tích cực hơn vào cuộc khổ nạn đó. Giữa khổ nạn và Phục Sinh là cái chết Thập Giá. Bạn không chỉ chịu đau khổ với Chúa Giêsu và vì Chúa Giêsu mà thôi, bạn còn phải chết với Người nữa. Bí quyết để tôi đứng được trong những tháng năm qua chính là Thánh Lễ. Thường tôi cố gắng hết sức để có thể dành một giờ trước hoặc sau Thánh Lễ. Không có thánh lễ hằng ngày thì chẳng thể nào tôi được như hiện nay (còn tiếp) ¶
VỀ NGHI THỨC THÁNH LỄ MỚI Joseph Nguyễn An Nhằm giúp người tín hữu tham gia tích cực vào phụng vụ, Giáo hội sau Công đồng Vatican II đã chấp thuận cho sử dụng ngôn ngữ địa phương thay cho tiếng La tinh trong các sinh hoạt phụng vụ, đặc biệt trong thánh lễ. Việc phiên dịch ngôn ngữ phụng vụ từ La tinh ra tiếng bản xứ vì thế được phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, công việc này đòi hỏi người làm công tác dịch thuật phải hết sức cẩn thận, hầu có thể thật sự giúp người tín hữu tham dự phụng vụ vừa đúng theo ý Giáo hội, vừa đem lại ơn ích đích thực cho đời sống đức tin. Khi nghe tin có bản dịch Nghi Thức Thánh Lễ mới, cộng đồng dân Chúa Việt Nam rất vui mừng. Nhưng liền sau đó, cũng có nhiều ý kiến phê bình, đóng góp cho bản dịch. Gần đây, một số cơ quan truyền thông cho đăng một số ý kiến của những người có trách nhiệm và quan tâm, đặc biệt bài trả lời phỏng vấn của Đức cha Trần Đình Tứ, chủ tịch Ủy Ban Phụng Tự. Là tín hữu và là người con của Giáo hội Việt Nam, chúng tôi cũng xin được đóng góp những suy tư của mình về công trình trọng đại này của Giáo hội.
Trước hết, xin cám ơn Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN), qua Ủy Ban Phụng Tự (UBPT) đã hết lòng vì công việc chung. Hẳn rằng các đức cha đã mất nhiều công sức, nhận thức đây là trọng trách lớn lao của mình, vì “…trong việc xem xét và chuẩn nhận các văn bản [phiên dịch Phụng vụ], mỗi một giám mục phải xem phần vụ này là một trách nhiệm được ủy thác một cách trực tiếp, trọng thể, và cá nhân.” ( Cám ơn quý dịch giả đã hy sinh nhiều thời giờ, công sức làm công việc “không tên” (theo quy định của Giáo hội, không ghi tên người phiên dịch trong các tác phẩm phụng vụ). Hơn nữa, ai đã từng tham gia dịch thuật, đặc biệt những bản văn tôn giáo, thần học, triết học, văn học nghệ thuật đều biết rõ công việc này phức tạp thế nào. Văn bản dịch thuật Nghi Thức Thánh Lễ (NTTL) nguyên gốc từ La tinh, là một cổ ngữ ngày nay không ai sử dụng nên dịch thuật càng khó khăn hơn. Một số thuật ngữ tôn giáo muốn dịch cho đúng không phải dễ dàng, vì sự hiểu biết và ứng dụng những từ ngữ này được thay đổi theo thời gian, quan niệm và nhận định khác nhau. NTTL là văn bản tôn giáo quan trọng, chỉ sau Thánh Kinh, lại biểu hiện đức tin nên càng phải cẩn thận. Có lẽ nhiều người trong chúng ta biết câu thời danh của Thánh Prosper d’Aquitaine, “lex orandi, lex credendi.” Câu này được viết đầy đủ như sau, Legem credendi lex statuat supplicandi. Luật của cầu nguyện quy định luật của đức tin.
Xin thưa đây là một bài nhận định phê bình trong tinh thần xây dựng. Những điểm nêu sau đây có thể gây tranh cãi, nhưng vì lòng yêu mến Giáo Hội và thao thức với công việc chung, chúng tôi xin chân thành trình bày suy nghĩ của mình. Phê bình đúng nghĩa không chỉ là chê bai, mà còn nêu được những cái hay, cái tốt hoặc cũng như những hạn chế khưyết điểm cần khắc phục và sửa đổi. Những nhận định này có thể chủ quan, nhưng có lẽ cũng phản ánh phần nào suy nghĩ của không ít người. Cũng cần phải minh định trước tiên rằng để cho ra được một bản dịch hoàn hảo không phải là một điều dễ dàng, nếu không nói là không thể có, vì không thể làm vui lòng mọi người. Văn bản gốc bằng tiếng La tinh viết về tôn giáo, đức tin, thần học đã không dễ hiểu. Hơn nữa, dịch thuật tiếng La tinh (cũng như mọi ngôn ngữ trên thế giới) đâu phải cứ tra từ điển là dịch được? Sự phong phú giàu có của một ngôn ngữ không dễ dàng lột tả, vì thế, khi nói đến dịch thuật ta thường nghe “Dịch là Phản” (Traduttore, traditore). Dịch thuật tuy phải chính xác, nhưng mang tính nghệ thuật nhiều hơn nếu muốn có một bản văn trôi chảy, khúc chiết và dễ hiểu. Hơn nữa, nghệ thuật thường chủ quan, ngôn ngữ lại mang nhiều ý nghĩa biểu cảm khác nhau đối với từng đối tượng riêng biệt. Một ví dụ: có người không thích chữ “công lao” trong lời nguyện dâng của lễ. Họ đề nghị phải dịch là “lao công” mới đúng, vì “công lao” mang ý nghĩa công trạng, tài năng của con người. Thoạt nghe tưởng là đúng, nhưng thực ra trong tiếng Việt hiện đại, người thời nay hiểu chữ “công lao” là “công sức lao động,” rất đúng ý nghĩa với nguyên tác. Còn chữ “lao công” thì lại được hiểu là “việc, người lao động đơn giản như dọn dẹp, làm vệ sinh trong một cơ quan, xí nghiệp.” (Nguyễn Như Ý - Đại Từ Điển Tiếng Việt). Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thông cảm cho những người đang quen sử dụng bản văn phụng vụ cũ, nay bị bắt buộc phải sử dụng bản văn m |