Số 82 Ngày 15-07-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Trút Bỏ Lm. Vũ Xuân Hạnh

Thần Học Vể Bí Tích Hôn Phối- José Maria Castillo – Lm. Gomez Ngô Minh, SJ chuyển ngữ     

Để Có Hạnh Phúc Gia ĐìnhLm. Lê Văn Quảng

Thời Điểm Cưới “On Sale”  – Lm. Dũng- Lạc Trần Cao Tường

Tư Tưởng Việt Nam Về Hôn Nhân và Gia Đình Trần Văn Cảnh

Trách Nhiệm Giáo Dục Con Cái Vũ Thiên Vương

12 Cách Thức Giúp Hôn Nhân  Ngày Càng Vững Bền Hơn - Sưu Tầm

Cha –Con, Chúng Ta Khác Nhau Xa Quá!  Trích SGTT 

Tiếng Cười: Của Hiếm Trong Các Gia ĐìnhQuảng Hạnh 

Lời Cám Ơn Ngày Sinh NhậtBi Bi

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

 Mùa hè 2006 sôi động với giải Túc Cầu Thế Giới tổ chức tại Cộng Hòa Liên Bang Đức. Có rất nhiều người đã bỏ ăn, quên ngủ để theo dõi các trận đấu. Biết bao người đã hồi hộp, thích thú vì những đường banh, cú sút tuyệt đẹp, và cũng có những tiếc nuối vì những mong mỏi không được như ý và vì những hình ảnh không mang tính thể thao. Thế giới cũng sôi động hơn vì những tin tức về cuộc chiến tại Iraq; tình hình căng thẳng khi Bắc Hàn cho thử hoả tiễn liên lục địa; rồi những ngày gần đây nhất, việc Do Thái cho dội bom và bắn phá vào đất nước Li-băng đã làm tình hình thế giới càng thêm căng thẳng. Tại Việt Nam, cơn gió Lào từ núi rừng Trường Sơn đã làm những người dân miền Trung thường gặp khó khăn vì bão tố nay lại phải chịu đựng cơn nóng thiêu người. Ở California, mùa nóng gây cháy lớn đã làm thống đốc tiểu bang phải công bố tình trạng khẩn cấp tại San Bernadino, một quận hạt kế bên Los Angeles và Orange đông người Việt sinh sống.

Những tin tức kể trên đã ảnh hưởng đến biết bao con nguời trên hành tinh này, nhưng cũng có thể chẳng liên hệ gì đến một số người nào đó. Thí dụ có những người Việt hiện sống tại Đức, nhưng không có điều kiện để xem một trận đấu vì hoàn cảnh riêng của họ; chuyện cháy rừng ở Cali thì có liên hệ gì đến người đang ở Việt Nam kiếm cơm ngày hai bữa? Trong cuộc phỏng vấn phi hành đoàn của phi thuyền Discovery của Hoa Kỳ đang chuẩn bị quay về trái đất vừa qua, để trả lời cho câu hỏi khi xa trái đất, phi hành gia đã nhớ điều gì nhất: hamburger, gà chiên, TV hay một trận cầu football? Một phi hành gia đã trả lời: “Gia đình! Vợ và các con tôi, đó là những gì tôi nhung nhớ nhất.” Hình như phải đi xa, hoặc thiếu vắng rồi thì người ta mới cảm được những gì là cần thiết nhất trong đời sống. Thật vậy, không ai trong chúng ta có thể chối từ về một nơi chốn cần thiết và là điểm tựa cho cuộc đời: GIA ĐÌNH.

Chính vì thế, trong tuần lễ vừa qua, tại Valencia, một thành phố đẹp về kiến trúc và văn hoá, nổi tiếng về khoa học và nghệ thuật tại Tây Ban Nha, đã có Cuộc Gặp Gỡ Quốc Tế Các Gia Đình lần thứ V với hơn 1 triệu 500 ngàn khách hành hương và cư dân tại Tây Ban Nha tham dự. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã có sáng kiến muốn cho Hội Ðồng Toà Thánh về Giáo Dân tổ chức “Cuộc Gặp Gỡ Quốc Tế Các Gia Ðình” theo định kỳ cứ 3 năm một lần, tại một địa điểm trên thế giới. Cuộc Gặp Gỡ Quốc Tế Các Gia Ðình lần thứ I đã được tổ chức tại Roma, vào năm 1994, nhân dịp Năm Quốc Tế Gia Ðình do Liên Hiệp Quốc đề xuớng, với chủ đề: “Gia Ðình, Con Tim Của Nền Văn Minh Tình Thương.” Lần thứ II được tổ chức tại Rio de Janeiro, tại Ba Tây vào năm 1997, với chủ đề: "Gia Ðình là Hồng Ân, Sự Dấn Thân và Niềm Hy Vọng của Nhân Loại.” Lần thứ III được tổ chức tại Roma, vào Năm Thánh 2000, với chủ đề: “Con Cái, Mùa Xuân Của Gia Đình và Xã Hội.” Lần thứ IV được tổ chức tại Manila, Phi Luật Tân, vào năm 2003, với chủ đề: “Gia Ðình Kitô: Tin Mừng Cho Ngàn Năm Thứ Ba." Và cuộc Gặp Gỡ lần này có chủ đề: "Việc Thông Truyền Đức Tin Trong Gia Đình.” Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI đã đến viếng thăm, tham dự Đêm Canh Thức và chủ toạ Thánh Lễ Bế Mạc.

Trong Đại Hội này, Đức Bênêđictô XVI đã nhắc lại tầm quan trọng của gia đình trong sự phát triển của con người và xã hội. Ngài nhấn mạnh rằng gia đình là môi trường ưu tiên để mỗi người học biết “trao ban và lãnh nhận tình yêu thương.” Khi con người ngày càng ích kỷ chỉ lo cho sự tiện nghi và an toàn cho chính bản thân, người ta đã cướp mất đi mái ấm gia đình mà mọi em bé khi chào đời có quyền được  hưởng “một mái ấm gia đình như Thánh gia Nazarét.” (bài nói chuyện Đêm Canh Thức thứ bảy 8/7). Và hình ảnh gia đình, sự liên kết giữa hai người nam và nữ, phản ánh hình ảnh của một Thiên Chúa là Tình Yêu Thương, Thiên Chúa là một sự hiệp thông giữa ba ngôi vị. Khi tạo dựng người nam và người nữ, Thiên Chúa mời gọi vợ chồng thực hiện sự hiệp thông đời sống và tình yêu thương lẫn nhau trong hôn nhân, sao cho họ không còn là hai, nhưng là một xương thịt. (Mt 19,19).

Đức Thánh Cha cũng nhấn mạnh đến thể chế gia đình như là trung gian giữa những cá nhân và xã hội, cũng như không gì có thể thay thế được gia đình cách trọn vẹn. Gia đình tự nó dựa trước hết trong một sự tương quan liên vị giữa người chồng và người vợ, được nâng đỡ bởi tình yêu và sự hiểu biết lẫn nhau. Để có được điều này, gia đình phải nhận lãnh ân sủng của Thiên Chúa qua bí tích hôn nhân. Hơn nữa, hôn nhân không thể được coi là yếu kém hơn thể chế độc thân khiết tịnh, vì đây là bí tích giúp người lãnh nhận nên thánh thiện trong vai trò của mình, vì “bí tích này mang theo một ơn gọi thật sự nên thánh.” Khi người chồng và vợ trong vai trò người cha và mẹ đã “xin vâng” trước mặt Chúa, tiếng vâng đó làm nên nền tảng của bí tích liên kết họ với nhau. Cũng vậy, muốn cho tương quan nội tại của gia đình được tron vẹn, họ cũng cần nói tiếng “xin vâng” khi chấp nhận con cái mà họ đã sinh ra hay dưỡng nuôi, và mỗi đứa con đó có nhân cách và đặc tính của riêng mình. Chính vì thế, người con sẽ lớn lên trong một bầu khí chấp nhận và yêu thương, và khi đến sự trưởng thành đầy đủ, lại sẽ muốn nói tiếng “xin vâng” về phần mình cho những kẻ đã ban sự sống cho mình.

Chủ đề cuộc Gặp Gỡ Quốc Tế Của Các Gia Đình lần thứ V lần này mời gọi chúng ta suy tư về một trách nhiệm lớn: Sự Thông Truyền Đức Tin Trong Gia Đình. Đức Thánh Cha cũng nhắc lại việc truyền bá đức tin theo sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo: “Như mẹ dạy con nói, để nhờ đó con được hiểu biết và trao đổi với người khác, Hội thánh, Mẹ chúng ta, dạy chúng ta nói ngôn ngữ đức tin nhằm giúp chúng ta hiểu biết và sống đức tin.” Hình ảnh gia đình Kitô hữu lại còn đẹp hơn vì được gọi là Giáo Hội tại gia. Chính nơi sự bày tỏ sống tinh thần hiệp thông, gia đình đã thể hiện được sự hiện diện bản tính của Thiên Chúa. Hơn nữa, mỗi người trong gia đình, tùy theo vai trò của mình, thực thi chức linh mục rửa tội và góp phần biến gia đình thành một cộng đồng ân sủng và cầu nguyện, một trường học các nhân đức nhân bản và Kitô hữu, và là nơi mà đức tin được công bố đầu tiên cho con cái. (GLCG 350) Một điều quan trọng nữa là người cha, mẹ còn được tham gia  chức làm cha của Thiên Chúa, cũng như có trách nhiệm đầu tiên đối với việc giáo dục con cái mình và là những sứ giả đầu tiên về đức tin cho con cái. Hơn nữa, cha mẹ có nhiệm vụ thương yêu và tôn trọng con cái mình như những nhân vị và những người con Thiên Chúa. Chính vì thế, cha mẹ có bổn phận dạy dỗ, giáo dục con cái mình trong đức tin Kitô hữu.” Trong dịp này, Đức Thánh Cha cũng vinh danh vai trò của Ông/Bà khi nhấn mạnh: qua những chứng từ trong Phúc Âm, Ông/Bà và những bậc lão thành khác cũng chính là những thành viên giúp chuyển giao đức tin cho các thế hệ con cháu. Vì “gia đình là một cộng đoàn hiệp thông bởi các thế hệ và bảo tồn truyền thống di sản của cha ông.”

Cùng với những tâm tình và lời dạy của vị Cha Chung, Maranatha 82 đặc biệt dành cho chủ đề Gia Đình, để dù Kitô hữu chúng ta đang sống trong bất kỳ hoàn cảnh, ơn gọi nào thì cũng nhìn ra được giá trị cao quý của Gia Đình, nơi mà chính Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người khi đến trần gian đã chọn con đường đó. Cho dù hai tiếng Gia Đình cũng có thể là nỗi buồn đau cho một số người vì những lý do riêng, hoặc họ đã không có một nơi để bắt đầu hoặc trở về, nhưng chúng ta vẫn phải trân trọng và tri ân GIA ĐÌNH, vì từ đó chúng ta bắt đầu mối tương quan giữa con người, và mở rộng ra từ gia đình đến xã hội. Chính Giáo hội và toàn thể nhân loại cũng là một Gia Đình lớn.

Tưởng cũng nên nhắc lại câu chuyện cảm động của Giáo Hoàng Gioan XXIII, giờ đã được phong chân phước, khi viết thư gửi cha mẹ nhân dịp ngài được ngũ tuần: “Thưa Thày Mẹ, hôm nay con được 50 tuổi, Chúa thương ban cho con nhiều chức trong Hội Thánh, đi nhiều nơi, học nhiều sách, nhưng không trường nào dạy dỗ con, làm ích cho con hơn hồi con được ngồi trên chân Thày Mẹ.” Maranatha cũng xin được cùng độc giả cầu nguyện lời kinh mà Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI đã kết thúc bài chia sẻ Đêm Canh Thức thứ bảy vừa qua tại Cuộc Gặp Gỡ Quốc Tế của Các Gia Đình tại Valencia:

            Lạy Thiên Chúa, Ngài đã cho chúng con một gương mẫu gia đình tuyệt hảo là Thánh Gia

            Thánh Gia đã sống trong đức tin và vâng phục Thánh Ý của Ngài.

            Xin giúp chúng con trở thành gương mẫu đức tin và yêu mến giới răn của Ngài.

            Xin giúp chúng con tiếp tục chuyển giao đức tin mà chúng con đã lãnh nhận từ cha mẹ tổ tiên.

            Xin mở lòng con cái chúng con,

            Để hạt giống đức tin nhận được từ lúc chịu Phép Rửa tiếp tục phát triển.

            Xin gia tăng đức tin của những người trẻ,

            Để họ triển nở nhận biết Đức Giêsu.

            Xin gia tăng tình yêu và trung tín trong hôn nhân

            Đặc biệt cho những ai đang gặp đau khổ hoặc thử thách.

            ……

            Hiệp cùng Thánh Giuse và Mẹ Maria

            Chúng con khẩn cầu nhân danh Chúa Giêsu Kitô, con Thiên Chúa và là Chúa chúng con. Amen!

Và cùng với nhau, chúng ta luôn tha thiết nguyện xin: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến!

š¶›

 

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 7 NĂM 2006

 Ý CHUNG : Cầu cho các người bị giam giữ, nhất là những người trẻ. Xin cho các người bị giam giữ, nhất là những người trẻ, được xã hội nâng đỡ, để giúp họ tìm lại được một ý nghĩa cho cuộc sống.

Ý TRUYỀN GIÁO: Cầu cho các cộng đồng chủng tộc và tôn giáo khác nhau được sống hoà hợp với nhau. Xin cho các xứ truyền giáo, các cộng đồng chủng tộc và tôn giáo khác nhau được sống hoà hợp, để cùng nhau xây dựng một xã hội dựa trên những giá trị nhân bản và tâm linh.

MARANATHA

  

 

CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN NĂM B  
TRÚT BỎ

   Lm. Vũ Xuân Hạnh

     Nếu có lần nào đi cắm trại, nhất là trại huấn luyện, chắc bạn sẽ hiểu: Ý nghĩa đúng của việc cắm trại là hòa hợp với thiên nhiên, là sống hết mình cho thụ tạo, là thở hơi thở của hoang dã, là sống sức sống của ngàn xanh, là đi vào lòng của tự nhiên để khám phá siêu nhiên, đắm mình với tự nhiên để vươn hồn lên tới siêu nhiên, gọi về lòng biết ơn thụ tạo đã cho nhau sự sống và dâng muôn muôn lời cảm tạ Tạo Hóa ân ban cho muôn loài sự sống toàn hảo. Vì thế, đi cắm trại cũng đồng nghĩa với việc trút bỏ một cách tự nguyện. Càng trút bỏ bao nhiêu có thể và biết giữ lại những gì thật cần thiết, và cần thiết đúng mức, người ta càng thanh thoát, càng nhẹ nhõm, không vướng bận hay lo toan điều gì. Bởi đó, hành trang của trại viên càng nhẹ nhàng bao nhiêu, ăn mặc càng giản dị bao nhiêu, lòng khiêm nhường, tinh thần nghèo khó càng lớn bao nhiêu, người ta càng sống hết mình với giây phút hiện tại, hết mình với không gian, với thời gian. Nhất là càng thấm đẫm lòng yêu mến tự nhiên, người ta sẽ càng dễ dàng trở về Nguồn Cội Vĩnh Cửu, Đấng đã tác sinh mọi loài.  

   Hiểu được sự "trút bỏ" là điều cần thiết của người đi cắm trại, ta sẽ dễ hiểu hơn mệnh lệnh lên đường mà Chúa Giêsu trao cho các môn đệ của Người. Đấy cũng là một sự trút bỏ, nhưng còn hơn cả sự "trút bỏ" của người trại viên, môn đệ của Chúa Giêsu phải trút bỏ đến trở nên nghèo khó, một cái nghèo đúng mức, nghèo trọn nghĩa nhất: "Người truyền cho các ông lên đường, đừng mang gì ngoài cây gậy, không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, nhưng chân đi dép và đừng mặc hai áo." (Mc 6, 7-8)  

   Tin Mừng của Chúa Giêsu là Tin Mừng cho người nghèo, Tin Mừng của người nghèo. Do đó chỉ có người nghèo mới có thể nên chứng nhân cho Tin Mừng ấy, mới có thể loan báo Tin Mừng ấy hữu hiệu. Chúa Giêsu không dạy gì mà Người đã không sống lời dạy ấy. Cả cuộc đời của Người là một bài học lớn cho người môn đệ về sự nghèo khó. Chúa Giêsu đã trút bỏ hoàn toàn. Sự trút bỏ của Chúa là sự trút bỏ đúng nghĩa nhất (nghĩa đen lẫn nghĩa bóng). Người đã không dành cho mình một sự riêng tư nào: Là thân phận Thiên Chúa, nhưng đã trở nên người phàm, một sự trút bỏ không thể tưởng tượng. Vậy mà Đấng Thiên Chúa làm người ấy đã chấp nhận sống nghèo, nghèo đến mức không còn gì. Bạn và tôi chắc không giàu có gì, nhưng khi sinh ra, chắc không ai sinh nơi chuồng thú vật, nằm trên rơm rạ xót xa. Ngược lại, dẫu là người nghèo, ta vẫn còn có một mái nhà ấm áp, một chiếc nôi xinh xắn. Nếu mai này, bạn và tôi có chết, chắc cũng chết trong những điều kiện tươm tất. Nhưng Chúa Giêsu, cả một đời, từ lúc bắt đầu sinh ra tới khi trưởng thành, chối từ sự sang giàu đã vậy, đến lúc sinh thì, ngay đến manh áo cuối cùng cũng không có, chết trần treo giữa trời giữa đất, chết chung với kẻ trộm cướp, cùng chịu một hình khổ ngang hàng với kẻ trộm cướp... Chúa Giêsu đã trút bỏ hoàn toàn. Trút bỏ cả cuộc đời, trút bỏ cả mạng sống vẫn chưa làm đủ. Đến khi trao hơi thở sau cùng, lại còn tiếp tục trao dâng cả đến giọt máu cuối cùng. Trái Tim của Thiên Chúa làm người không đòi cho mình bất cứ điều gì, bây giờ lại thuộc về chúng ta tất cả. Chúa Kitô, nhà truyền giáo đại tài, đã trút bỏ để Tin Mừng Tình yêu lớn lên. Chúa chính là bài học ngàn vàng cho những ai là môn đệ của Người. 

   "Đừng mang gì ngoài cây gậy, không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, nhưng chân đi dép và đừng mặc hai áo." Hôm nay khi nghe lại lời dạy ấy của Chúa Giêsu, bạn và tôi nghĩ gì? Ta nhận ra rằng Chúa cũng đang mời gọi mình hãy trút bỏ tất cả những gì là cồng kềnh, những gì là cản trở, là chướng ngại làm cho lời rao giảng Tin Mừng thiếu chứng tá, công cuộc rao giảng Tin Mừng bị khựng lại.

Giống như người đi cắm trại, nếu biết trút bỏ mọi cái không cần thiết, họ mới sống hoàn toàn, sống hết mình cho ý nghĩa của việc cắm trại. Cũng vậy, người đi gieo Lời Chúa, đi cắm rễ Lời Chúa sâu trong lòng người, càng phải là người biết trút bỏ mọi vướng bận để việc phục vụ Lời đạt kết quả lớn lao. Bởi thế, Chúa sai chúng ta ra đi, nhưng hành trang của người môn đệ không là gì khác ngoài đức tin dâng hiến và lòng phó thác. Dâng hiến đến trút bỏ hoàn toàn. Phó thác đến mức trở nên nghèo khó, đến không còn gì. Chỉ có thế, người rao giảng Lời mới trở nên chứng tá cho Lời. Vì chứng tá cho Lời quan trọng hơn nói về Lời. Chỉ có một lối đường duy nhất là sự trút bỏ: mặc lấy tinh thần nghèo khó, sống lối sống nghèo của Chúa Kitô, chính bạn và chính tôi mới hy vọng nên chứng tá gieo Lời đạt kết quả. 

   Thánh Phaolô rất hay, khi một lần nào đó, đã đúc kết bài học trút bỏ của người môn đệ Chúa Kitô bằng những lời rất chân thành và lạc quan: "Bị coi là bịp bợm nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành; bị coi là vô danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực chúng tôi bị mọi người biết đến; bị coi là sắp chết, nhưng kỳ thực chúng tôi vẫn sống; coi như bị trừng phạt, nhưng kỳ thực không bị giết chết; coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực chúnh tôi luôn vui vẻ; coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả" (2Cr 7, 8 - 10). Nếu đồng cảm với thánh Phaolô, ta cũng sẽ hiểu rằng trút bỏ là đánh mất, nhưng kỳ thực, không hề mất mát bất cứ điều gì

  Trở về mục lục >>

 

š¶›

THẦN HỌC VỀ BÍ TÍCH HÔN PHỐI

MỘT QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ PHỨC TẠP

José María Castillo - Felipe Gómez Ngô Minh, SJ chuyển ngữ

 

Những Hình Thức Khác Nhau Của Hôn Phối

Hôn nhân đang và đã từng có mặt trong tất cả mọi dân tộc và trong hết thảy mọi nền văn hóa trên trái đất. Vì thế, có quyền để xác định một cách hoàn toàn chắc chắn rằng việc kết hôn giữa nam và nữ là một sự kiện thuộc lãnh vực đời sống công, được xã hội loài người công nhận và chấp nhận, chứ không phải là một việc kết hợp hay giao ước chỉ có tính cách riêng tư. Hơn nữa, không những được công nhận và chấp nhận mà thôi, hôn nhân còn được xã hội bảo vệ và chuẩn nhận bằng vô số những điều lệ, phong tục, quy phạm và điều luật thích ứng với những trường hợp khác nhau. Vì vậy, bao giờ người ta cũng coi việc kết hợp lâu dài hay sống chung giữa nam và nữ ngoài hôn nhân chính thức, là tình trạng bất thường: một tình trạng phải miễn cưỡng dung nhẫn, chứ không bao giờ được thừa nhận là chính đáng.

Dĩ nhiên, nói như thế không có nghĩa là bất cứ ở vào thời nào và tại bất cứ nơi nào, dân tộc nào, hôn nhân cũng chỉ mang có một hình thức giống hệt như nhau. Thật vậy, đã và đang có đủ loại hình thức phối hợp vững bền giữa người nam và người nữ: giữa một người nam và một người nữ, giữa một người nữ và nhiều người nam, hay giữa một người nam và nhiều người nữ. Nhưng không phải chỉ có thế thôi, vì nơi xã hội của một vài dân tộc hiện đang sống trong những bối cảnh văn hóa rất sơ thủy, vẫn còn gặp thấy những trường hợp thật là khó coi: chẳng hạn như trong xã hội người dân nuers, một bộ lạc nước Suđan, sống trong vùng sình lầy của sông Nil, người ta thấy có những cuộc hôn nhân giữa nữ với nữ với mục đích là để hợp thức hóa các con cái; hoặc là trường hợp - còn lạ hơn nữa, - của dân nayar sống tại miền nam Ấn độ: họ theo một kiểu tổ chức xã hội trong đó, trên thực tế, không có ngay cả việc kết hợp dù là tạm thời, của người chồng, người vợ và các con cái. Vấn đề đặt ra tại địa phương này phức tạp và các thể thức kết hôn vững bền khác nhau đến độ các nhà nhân học nhận định rằng hiện chưa có thể đưa ra được một công thức định nghĩa chung về hôn nhân cho mẫu xã hội đó. Cách định nghĩa E. K. Gough đề ra là cách xem ra đúng nhất: "hôn nhân là mối kết liên giữa một phụ nữ và một hay nhiều người khác, nhờ đó người con sinh ra từ người nữ trong những hoàn cảnh không bị các quy phạm về liên hệ cấm chỉ, được hưởng do sự việc sinh ra, đầy đủ mọi quyền lợi của các thành phần hợp thức trong xã hội hay trong giai cấp xã hội của mình."

Từ các nhận định trên đây, có thể rút ra hai kết luận sau đây. Thứ nhất, sự kiện một người nam và một người nữ quyết định cùng nhau sống chung là một việc làm không chỉ quan hệ riêng lẻ đến cặp nam nữ ấy thôi, nhưng còn liên quan đến cả xã hội nữa; do đó, việc nam nữ kết hợp bền chắc trong hôn nhân không thể là chuyện thuần túy riêng tư được, nhưng là một giao ước cần phải được xã hội nơi mình sinh sống công nhận. Xét cho cùng, hôn lễ là thể cách qua đó xã hội nhìn nhận và chấp thuận sự việc cặp nam nữ ấy sống chung và thành lập một gia đình mới.

Thứ hai, nếu đã từng có và vẫn còn có nhiều mẫu thức hôn phối như thế, thì xét theo phương diện nhân học, xem ra không thể kết luận được rằng duy chỉ có một trong các mẫu thức ấy mới thực là mẫu thức phổ quát, tốt nhất, hoàn hảo nhất, và là mẫu thức thật sự xứng hợp với bản chất con người. Khẳng định như thế là ít nhât về mặt nhân học văn hóa, chủ trương một điều không có được một chút lý lẽ gì chắc chắn. Ðúng: gặp thấy thông thường và rộng rãi nhất là hôn nhân một vợ một chồng (đơn hôn), và do vậy, đó là dạng hôn phối phổ biến nhất. Tuy nhiên, cũng có những dạng văn hóa cổ xưa hơn nền văn hóa ngày nay của chúng ta, và các dạng văn hóa này đã thiết đặt những mẫu thức hôn nhân và gia đình theo nhiều cách kiểu khác. Dĩ nhiên là không phải vì thế mà có thể coi các nền văn hóa ấy là đồi bại, và cho các mẫu thức kia là những lề thói lệch lạc không xứng hợp với con người. Theo diện văn hóa mà nói, thì những lối nhận dịnh như vậy là hoàn toàn vô căn cứ và chỉ để lộ rõ não trạng duy chủng không thể chấp nhận được trong thời đại ngày nay.

Vậy thì cần phải xây dựng thần học về hôn phối trên nền tảng của thực trạng văn hóa đa dạng ấy, và dĩ nhiên, ở đây hôn phối được hiểu theo nghĩa là bí tích của Giáo hội.

Một Quá Trình Lịch Sử Rắc Rối

Liên quan đến hôn nhân, trong thời đầu, người Kitô sống theo những điều kiện và tập tục của môi trường mình sống, tức là môi trường lương dân. Tình trạng này kéo dài cho đến ít là tới thế kỷ 4. Như thế nghĩa là trong các thế kỷ đầu, các kitô hữu chưa ý thức được rằng mạc khải kitô đã mang lại những nhân tố mới mẻ và đặc thù cho thực trạng văn hóa về hôn nhân. Có điều chắc là người Rôma cổ đã không quan niệm hôn nhân như chỉ là một việc "phàm tục" theo nghĩa ngày nay của từ này. Ðối với họ, hôn lễ là thể cách truyền thông theo thần luật và nhân luật (divini juris et humani communicatio). Ðiều đó cho thấy rằng đối với người kitô thời ấy, hôn lễ cũng mang một ý nghĩa tôn giáo, như Clêmentê Alexandria đã muốn ám chỉ đến khi bắc cầu liên hệ nối kết hôn nhân của người kitô với ý định của Ðấng Tạo Hóa. Nhưng cho đến thế kỷ 4 mới thấy xuất hiện những chứng tích về hôn lễ sub benedictione sacerdotis (với phép lành của linh mục). Phép lành chúc hôn được ban giữa bối cảnh của buổi lễ mừng trong gia đình, có linh mục hoặc giám mục tham dự. Cũng cần lưu ý là thời ấy, các lời kinh và phép lành chúc hôn dùng đến thường được xếp đặt và tiến hành gióng theo các nghi thức hôn lễ tôn giáo bên lương, và dù phủ nhận tín ngưỡng làm cơ sở cho các nghi thức đó, thì người kitô cũng giữ lại tính cách chúng hàm ngụ để chỉ về thể thức hay hiệu lực pháp lý của một dạng "hôn phối theo phép đạo" (hôn phối trước mặt giáo hội). Hôn lễ được hiểu như là một cuộc mừng có tính cách đời, được tổ chức ở trong phạm vi gia đình, và không đòi có một sự can thiệp nào của thừa tác viên Giáo hội để hôn nhân được hữu hiệu về mặt pháp lý. Phải trải qua một thời gian khá dài người kitô mới đi đến chỗ hiểu được hôn nhân là một bí tích.

Các chứng tích về Thánh lễ hốn phối đọc thấy trong giáo hội Rôma, đều nằm vào khoảng thời gian các thế kỷ 4 và 5; nhưng chỉ trong hôn lễ của các giáo sĩ cấp thấp thì mới buộc phải có việc cử hành Thánh lễ như thế. Trong mười thế kỷ đầu Kitô giáo, không có việc cử hành như thế trong hôn lễ của giáo dân. Sau đó, ý nghĩa hay chiều kích giáo hội do bởi phép rửa tội của hôn phối mới được ý thức đến; bởi tự nó, hôn phối không hàm ngụ ý nghĩa ấy. Dù kể từ thế kỷ 5, tại một vài nơi, phụng vụ hôn lễ có tiến hành theo những thể thức được xác định rõ ràng hơn, thì sự thể cũng vẫn vậy, không có gì thay đổi đáng kể. Dĩ nhiên là trong suốt thời gian đó, phép lành chúc hôn do linh mục ban, không cần thiết cho việc thành sự của hôn phối. Có những nơi, như tại Anh quốc chẳng hạn, cho đến thế kỷ 10, không thấy có một chứng tích nào nói về Giáo hội cử hành nghi thức cho hôn phối. Dù sao thì cho đến năm 845, mới thấy lần đầu tiên, có việc buộc kết hôn trước sự chứng giám của linh mục: các sắc lệnh của Isiđôrô giả ghi lại điều buộc đó, và các lý do đưa ra để buộc chỉ có tính cách dân luật, chứ không phải là những lý chứng thần học. Trong đế quốc Franc, dưới triều đại của Pépin le Bref († 768), do ảnh hưởng của thánh Bônifaciô, đã thấy xuất hiện một biến chuyển mới hướng tới việc để Giáo hội kiểm soát hôn nhân ngày càng trực tiếp hơn. Thực vậy, từ các thế kỷ 11-12, Giáo hội giữ hẳn toàn quyền trên hôn nhân cũng như trên các hiệu lực dân sự (về mặt dân luật) của hôn nhân. Và phải chờ cho đến lúc đó, Giáo hội mới ý thức ra chiều kích bí tích của hôn nhân. Lần đầu tiên tính chất tôn giáo (religiositatis species) của hôn nhân được công nhận là vào năm 1139, do công đồng Latêranô II (DS 718). Rồi đến cuối thế kỷ 12, vào năm 1184, công đồng Vêrôna mới chính thức minh xác về bí tích tính của hôn nhân (DS 761): hôn nhân là một bí tích.

Một điểm quan trọng cần được giải thích: nhiều thế kỷ trước đó, thánh Âugutinô đã nói đến chiều kích thần học của hôn phối, và nhìn nhận hôn nhân là bí tích. Thánh nhân hiểu hôn nhân là bí tích theo nghĩa rộng, tức như là một điều thánh và là dấu chỉ của một thực tại thánh. Nhưng, có phải hôn nhân cũng là bí tích theo nghĩa hẹp, và là nguồn mang lại ân sủng hay không? Không bao giờ thấy thánh nhân nói rõ về điều này cả. Có một điều thánh nhân đã nhấn mạnh đến là tính chất bất khả phân ly của hôn nhân, tức là sacramenti vinculum (dây ràng buộc của bí tích). Tuy nhiên, mối ràng buộc ấy là một bổn phận luân lý, chứ không phải là một mối ràng buộc theo ý nghĩa hữu thể như được hiểu về sau, trong thời Trung cổ.

Thần học về hôn phối được hiểu như là bí tích đã từng bước hình thành trong các thế kỷ 11 và 12. Vấn đề cơ bản đặt ra lúc đó là điều gì làm cho việc kết hôn trở thành bí tích: việc ưng thuận hay là hành động giao hợp (copula)? Và từ đó lại nẩy sinh ra một vấn đề thần học khác: bí tích (hôn phối) hay chất thể của bí tích, hệ tại ở hành động nào trong hai hành động vừa nói. Thực sự, liên quan đến vấn đề này, đã có hai quan điểm pháp lý khác nhau: quan điểm Rôma và quan điểm Pháp-Ðức. Quan điểm Rôma coi việc ưng thuận (consensus) là chất thể bí tích; còn quan điểm Pháp-Ðức thì lại cho là chính hành động giao hợp (co-pula) mới làm nên chất thể ấy. Các nhà thần học thiên về phía hành động ưng thuận; còn các nhà giáo luật thì lại bổ về phía hành động giao hợp; và như thế cho đến khi hai phía đạt đến được một giải pháp tổng hợp, như đọc thấy ở trong tác phẩm của Phêrô Lômbarđô và trong Sắc lệnh của Gratianô. Tuy nhiên, có điều đáng lưu ý là Phêrô Lômbarđô, hệt như Hugô thánh Victor, xác quyết rằng cốt lõi của việc phối hiệp giới tính (comunión sexual) nằm ở nơi "mối hiệp nhất tâm hồn" (unio animarum).

Ðằng khác, cũng nên lưu ý là lúc đầu, nếu phụng vụ hôn phối mang tính cách bắt buộc thì chỉ là đối với các giáo sĩ cấp thấp mà thôi, chứ không có chút gì liên quan đến giáo dân; và cho đến thời công đồng Trentô, thể thức phụng vụ này cũng chỉ mang ý nghĩa pháp lý dân sự, chứ không phải là yếu cấu thành của hôn phối. Ðiều đó cho thấy là thần học hôn phối đã biến diễn chậm đến chừng nào, tức là phải chờ suốt trong 15 thế kỷ dài mới hình thành được! Từ công đồng Trentô trở về sau (DS 1801-1812), thần học về bí tích hôn phối đã được dứt khoát chuẩn định, và cũng đã được toàn thể Giáo hội chấp nhận.

Giáo Huấn Của Tân Ước

Nếu suốt bao nhiêu thế kỷ, thần học hôn phối đã không được hình thành và biểu trình cho rõ ràng trong Giáo hội, thì điều đó có nghĩa là giáo huấn của Tân Ước đã không nói rõ và dứt khoát về bí tích ấy. Chính thế, ảnh hưởng của giáo huấn Kinh thánh đối với việc hình thành ngành thần học kia là thật ít ỏi. Cả đến đoạn Ep 5:21-32, hay cụ thể hơn nữa là câu 32b, thì cũng vậy. R. Schnackenburg nghĩ rằng "chắc hẳn là không thể bảo vệ được quan điểm" cho là những lời trong câu 32b - tò mystêrion toũto méga = sacramentum hoc magnum (bí tích lớn lao này) như bản Vulgata đã dịch, - chỉ về bí tích hôn phối. Bởi vì, theo các dữ liệu chú giải, từ "mầu nhiệm" (mystêrion) mang ý nghĩa chính xác chỉ về mối quan hệ của Ðức Kitô với Giáo hội Ngài, đặt vào trong bối cảnh của cuộc sáng tạo (St 2:24), chứ không có nghĩa chỉ về hôn nhân. Hôn nhân tượng trưng cho việc Ðức Kitô kết hiệp làm một với Giáo hội của Ngài, và nhờ thế mà được thông phần vào mầu nhiệm của Ngài: đó chính là điều làm nên phẩm chất cao quý của hôn nhân. Nói cách khác, Tân Ước cho thấy là hôn nhân hàm dung một khía cạnh giáo hội học, và vì thế, có quan hệ với mầu nhiệm cứu độ. Nhưng Tân Ước đã không mang lại một yếu tố hộ trợ nào cho ý niệm bí tích hiểu theo kiểu kinh viện.

Dù sao thì cũng cần phải nêu bật chiều kích thần học sâu xa của hôn nhân, bởi nó có sứ mạng biểu trình cho sáng tỏ và cụ thể thực trạng Ðức Kitô kết hiệp với Giáo hội Người. Hơn nữa, khi Ep 5 đưa ra hình ảnh đối chiếu giữa một bên là Ðức Kitô với Giáo hội và bên kia là người nam với người nữ, là để nói lên ý niệm về giao ước, được nhắc đến rất nhiều lần trong Cựu Ước. Ítraen là hôn thê của Giavê. Tân Ước miêu trình Giáo hội như là hôn thê của Ðức Kitô. Cả hai Giao Ước đều lấy hôn nhân làm mô biểu cho mối liên hệ giữa dân chọn và Thiên Chúa. Vì thế, hôn phối hàm dung một đòi hỏi được ghi khắc sâu đậm nơi chính mình: đòi hỏi phải sống trung thành, tận tụy dấn thân cho nhau trong tình yêu... Như lòng mến thương giữa Ðức Kitô và Giáo hội không bao giờ tàn úa đi, thì cũng vậy, tình yêu thương vợ chồng phải làm sao để mãi mãi trung thành và kiên trì bền vững. Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu cho chính xác: không phải là hôn nhân làm chuẩn mẫu cho Giáo hội, nhưng trái lại, Ðức Kitô và Giáo hội Ngài mới là mẩu mực lý tưởng của hôn nhân. Cũng cần lưu ý là nhờ cùng có chung với Giáo hội một số hằng tố tương đồng, nên hôn nhân cũng được nhập cuộc vào trong công trình cứu độ, và nếu được như thế, thì không phải là do sức riêng của nó, hay là nhờ một "ơn" đặc biệt nào đó, nhưng là do sự việc nó được thông phần vào trong ơn cứu độ Chúa ban cho Giáo hội.

Ðằng khác, hễ đã bàn đến giáo huấn của Tân Ước về hôn phối, tất cũng phải nói tới tính chất bất khả phân ly của hôn nhân. Trước tiên, có thể hiểu tính chất bất khả phân ly ấy như là giới luật hay như là tiêu đích phải đạt đến. Dường như các văn bản Phúc âm liên quan đến điểm này, đều hiểu theo nghĩa tiêu đích hơn là giới luật. Lý do là vì trong đoạn Mt 19:1-9, Ðức Giêsu muốn ám chỉ tới trật tự tạo dựng khi nói: "Các ông đã không đọc thấy lời này sao: Thuở ban đầu, Ðấng Tạo Hóa đã dựng nên con người có nam có nữ?" Ngài phủ nhận việc ly dị không phải là vì có một giới luật ghi sâu trong tính chất bí tích của hôn nhân, nhưng là vì muốn căn cứ đúng theo trật tự trong công trình tạo dựng. Ðây là lý tưởng "địa đàng" chứ không phải là một giới luật thiết định phát xuất từ bí tích. Mặt khác, cách giải thích lời Ðức Kitô như là một tiếng mời gọi cần phải lưu ý đến luật tự nhiên cũng còn nằm trong vòng bàn cãi và chưa giải quyết được nhiều vấn đề đặt ra; bởi vì văn bản Sách Sáng Thế phải được đọc theo văn loại của nó, chứ không phải là theo não trạng và những phạm trù kinh viện. Vì vậy, nhận định sau đây của H. Baltensweiler xem ra không có gì là quá đáng: nếu là bất khả phân ly, thì cũng không có nghĩa hôn nhân là một đơn vị hữu thể [siêu hình] tuyệt đối không thể phân rẽ đi được. Ðúng hơn thì phải nói là hôn nhân tự đặt cho chính mình đòi hỏi không được phân ly để tránh cho khỏi đánh mất đi ý nghĩa của mình trong phương án Ðấng Tạo Hóa đã an bài. Ngoài ra, cũng đừng quên rằng điều Ðức Giêsu muốn trực tiếp nói lên là nam và nữ đều có quyền như nhau và ngang nhau trong hôn nhân, tức là người nam không được phép rẫy bỏ vợ mình "vì bất cứ lý do nào." Ðiều đó còn nói lên bổn phận hỗ tương của vợ và chồng, bổn phận sống trung thành với tình yêu đã đoan ước. Nhưng cần phải nói cho rõ thêm: đó là tiêu đích phải đạt tới, chứ không phải là giới luật. Trong chiều hướng đó, sự việc sau đây càng trở thành hùng hồn hơn nữa: đó là suốt trong nhiều thế kỷ, Giáo hội chấp nhận cho ly dị trong một số trường hợp đặc biệt. Chẳng hạn vào năm 726, hồi đáp cho lời thỉnh vấn thánh Bônifaciô nêu ra như sau: Người chồng phải xử sự thế nào nếu vợ mình phải lâm bệnh đến độ không thể thi hành bổn phận vợ chồng (chăn gối) đối với chồng mình? Ðức Giáo hoàng Grêgôriô II nói là "Ðáng ra là mọi sự phải tiến hành trước sau như một, không có gì thay đổi, và người chồng phải giữ tiết dục. Tuy nhiên, vì đó là cách xử sự của những vĩ nhân, cho nên những ai không thể tự chế như thế được, thì thà tái hôn còn hơn; nhưng, người ấy không được bỏ rơi mà không tài trợ nhằm đỡ đần người phụ nữ bị bệnh, chứ không phải bị loại bỏ vì phạm lỗi lầm ghê tởm." Như thế thì không còn nghi ngờ gì được nữa về sự việc ngày trước, tính chất bất khả phân ly của hôn nhân được coi là một tiêu đích phải đạt tới, chứ không phải là một đòi hỏi của giới luật, và hơn nữa, càng không phải là một thực thể do Thiên Chúa thiết đặt. Và ai cũng biết là bên các Giáo hội đông phương, việc ly dị được thừa nhận trong một số trường hợp đặc biệt.

Suy Tư Thần Học

Bí tích là biểu tượng cơ bản của đức tin kitô. Ðức tin tiếp nhận những kinh nghiệm độc đáo nhất của cuộc đời, và nhờ đó mà chúng được nâng lên hàng thể loại các bí tích. Vì thế, E. López Azpitarte có lý khi viết: "Nam nữ yêu nhau là chuyện thường tình, tựa như ăn uống và tắm rửa hằng ngày; và như Thiên Chúa đã muốn gặp gỡ và gần gũi chúng ta qua một bữa ăn, hay đã muốn tự trao ban chính mình cho chúng qua việc xức dầu, thì cũng vây, Ngài muốn dùng tình yêu vợ chồng làm nơi gặp gỡ con người. Sự việc gặp gỡ giữa hai người nam nữ yêu nhau và tự trao hiến cho nhau quả là một hành động nhân bản mang một tầm trọng yếu hết sức lớn lao đối với cặp tình nhân. Nhưng, ở trong mối tình ấy, đức tin phát hiện ra một chiều kích khác còn sâu sắc hơn nữa, đó là chính Thiên Chúa hiện diện giữa họ qua mối tình ấy, cùng muốn dùng nó làm biểu tượng cụ thể của ơn thánh và tình thương Ngài dành cho con người."

Bí tích tính của hôn nhân nằm ở nơi chính thực tại của tình yêu ấy khi nó được biểu đạt cách công khai. Chẳng thế mà L. Boff viết là: "Hễ có tình yêu chân thật trong hôn nhân, là thật sự có ân sủng của Chúa: ân sủng Chúa ban qua chính tình yêu nhân loại ấy, đưa nó đến chỗ thành tựu, giúp nó giữ được thái độ rộng mở trước những thực tại siêu việt, và làm cho hoạt động cứu độ của Chúa thành hiện thực qua việc vợ chồng yêu thương nhau... Khi được sống trung thực, thì qua chính cơ cấu nội tại của mình, hôn nhân luôn luôn quy hướng về với Thiên Chúa." Vì thế, các người kết hôn chính là thừa tác viên của bí tích hôn phối; không phải là thừa tác viên của bí tích này, linh mục chỉ là người chứng chính thức đứng ra để chủ tọa nghi thức bí tích. Cũng do vậy mà suốt bao nhiêu thế kỷ, Giáo hội đã không đề ra một nghi thức riêng nào cho việc cử hành bí tích hôn phối. Như đã thấy, trong các thế kỷ đầu Kitô giáo, người kitô chỉ cử hành hôn phối theo những cách thức hệt như tất cả những người khác, bất cứ là thuộc tôn giáo nào.

Tuy nhiên, mặt khác, cũng cần phải xác định rõ là các bí tích kitô giáo phát nguyên từ gốc rễ đức tin; điều đó có nghĩa là đức tin phải có mặt nơi người cử hành cũng như nơi người lãnh nhận bí tích. Ðiểm này đặt ra một vấn đề mục vụ to lớn, bởi lẽ có quá nhiều người muốn được cử hành hôn phối trong Giáo hội, nhưng họ lại không sống chút gì những đòi hỏi căn bản nhất của đức tin kitô. Dĩ nhiên, trong những trường hợp như thế, giáo quyền cần phải tỏ ra nghiêm minh hơn, và yên tâm mà hướng họ về với hôn nhân dân sự, đừng coi đó là việc làm sai trái, bởi lẽ những người này thật ra không phải là tín hữu, tức không phải là những người có đức tin kitô. Không có lý gì để biến hôn phối kitô trở thành một thứ lễ mừng xã hội hay thế tục nhằm thỏa mãn nhu cầu phô trương tự hào của các người thành hôn, hay của gia đình, bà con và bạn hữu họ.

Cuối cùng, không thể bỏ qua mà không trực diện với vấn đề quan trọng này được, đó là: trong thời Giáo hội chưa trở thành nhân tố quyết định hành vi giữa xã hội, thì hôn nhân, kể cả hôn nhân giữa người kitô, đã được xử lý theo những quy tắc, những tập quán dân gian và luật pháp dân sự. Thẩm quyền của Giáo hội - liên quan đến hôn nhân, - đã chỉ hình thành như là kết quả của một quá trình chuyển biến lịch sử, nhất là tại Châu Âu: tại đây, một thời, Giáo hội đã đảm nhận phận vụ làm "sổ hộ tịch," và sau đó thần học đã tìm cách biện giải cho tính chất hữu lý được coi là có cơ sở của chức vụ ấy. Vậy nếu, trong xã hội hiện nay, một lần nữa, thế đứng của Giáo hội lại thay đổi thành khác hẳn, - xã hội đã trở thành đa dạng, phức hợp, và không còn có thể nói như ngày trước là Giáo hội đang đóng giữ vai trò làm nhân tố quyết định hình thế xã hội; mà đó lại chính là nhân tố làm nền tảng cho giáo luật về hôn nhân công giáo cũng như cho việc thần học biện giải về lý do hiện hữu của quy luật ấy, - thì việc tách biệt giữa hôn nhân theo giáo luật và hôn nhân dân sự, với ý nghĩa là không mảy may phủ nhận tính chất thành sự của dạng hôn nhân này, xem ra là hoàn toàn chính xác, hợp lý.

Vì vậy, phải nói như thường được quan niệm rất đúng, là ý nghĩa đặc thù của hôn nhân trong Giáo hội không nằm ở nơi bình diện thuần túy pháp lý dân luật, mà cũng chẳng nằm ở trong phạm vi của vấn đề thành sự, nhưng là thuộc bình diện của việc quyết định trong đức tin: quyết định này được hiểu không chỉ như là hành động công khai nói lên tình liên đới trước mặt Giáo hội, nhưng chủ yếu như là cách thể tự hiện thực hóa của tình liên đới ấy giữa đôi vợ chồng, qua cuộc sống chung trong đức tin, niềm cậy và lòng mến

 Trích Hợp Tuyển Thần Học, số 17

   Trở về mục lục >>

š¶›

 

463. Chuẩn bị làm linh mục có chủng viện, chuẩn bị làm tu sĩ có đệ tử viện, tập viện, chuẩn bị làm giáo sư có trường sư phạm, chuẩn bị làm cha mẹ có gì? - Không có gì cả! Thật là một thiếu sót lớn lao trên thế giới. Lúc này tạm có lớp dự bị hôn nhân nhưng chưa đi đến đâu. Bao nhiêu người sẽ là nạn nhân do cuộc phiêu lưu của các con.

466. Đôi bạn đối với nhau, cũng như đối với con cái, sống tất cả tình yêu của Chúa Giêsu đối với mọi người. Đôi bạn do đó tham dự và sống lại mầu nhiệm cứu chuộc. Đôi bạn tập yêu thương cách phong phú, vô bờ bến, như Chúa Giêsu yêu họ và yêu mọi người.                                              ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng

 

ĐỂ CÓ HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH

Lm. Lê Văn Quảng

Nói đến hôn nhân là nói đến gia đình. Khi Thiên Chúa muốn kết hôn với con người, Thiên Chúa cũng đã sinh ra trong một gia đình. Gia đình chính là nền tảng của Giáo Hội. Vậy gia đình là gì ?

Gia đình là một cái gì sâu xa hơn là tổng số những cá nhân cộng lại. Đó là một hệ thống khác biệt với những hệ thống xã hội khác. Đối với những tổ chức xã hội, khi cần thiết, chúng ta có thể xin gia nhập hoặc ra đi một cách dễ dàng, và một khi chúng ta ra đi, những người khác có thể đến thay thế chỗ chúng ta. Nhưng trong hệ thống gia đình, chúng ta không thể gia nhập một cách dễ dàng ngoại trừ con đường được sinh ra, kết hôn, hay được nhận làm con nuôi. Vì thế, những phần tử trong gia đình không thể được người khác thay thế, bởi lẽ các phần tử của gia đình được nuôi dưỡng và lớn lên trong tình yêu thương đặt biệt mà người nầy được liên kết với người khác một cách chặt chẽ và mật thiết với nhau. Cho dẫu khi chúng ta phải xa cách gia đình như vì công ăn việc làm hay vì hoàn cảnh nào đi nữa, chúng ta vẫn có một mối liên hệ đặc biệt sâu xa với gia đình. Ngay khi có người trong gia đình ra đi vĩnh viễn như qua đời chẳng hạn, giữa người sống và người chết vẫn còn một cái gì đậm tình thắm thiết được nối kết qua những nén hương, những đóa hoa…mà dẫu có người được thêm vào như một đứa bé khác được sinh ra chẳng hạn, cũng không thể nào có thể thay thế đứa trước đã chết đi. Thật vậy, gia đình là một cái gì thiêng liêng cao quí mà chúng ta có bổn phận phải bảo vệ và vun trồng dẫu chúng ta còn ở hay đi xa.

Riêng đối với người Việt Nam, gia đình còn mang một mầu sắc đa diện đáng yêu và đáng quí hơn nữa. Gia đình Việt Nam có thể nói được là một tiểu cộng đồng, nơi đó các phần tử trong đại gia đình cùng về chung sống với nhau và nương tựa vào nhau; là nhà giữ trẻ, nơi đó tất cả mọi con cái, cháu chắt đều được trông coi, nuôi dưỡng, và chăm sóc một cách tận tình như một người mẹ trong gia đình; là học đường, ở đó mọi đứa trẻ trong gia tộc được hướng dẫn và giáo hóa một cách chu đáo và lễ độ; là toà án, ở đó mọi xung đột giữa những người thân yêu trong gia đình đều được giải quyết và giải hòa để có thể bảo vệ được hòa khí của gia đình; là hội đồng cố vấn, nơi đó tất cả mọi quyết định quan trọng có liên quan đến những người trong gia đình như vấn đề hôn nhân, làm ăn, buôn bán, dời chỗ… đều được bàn hỏi trước khi đi đến quyết định để cùng giúp nhau thực hiện; là cơ quan trợ cấp xã hội, nơi đó họ có thể tìm được những nguồn trợ giúp cho đời sống an sinh xã hội của họ từ những người thân yêu trong gia đình; là ngân hàng, ở đó trong những trường hợp cần thiết họ có thể mượn tiền từ những thân nhân họ một cách dễ dàng để đầu tư vào những công việc làm ăn lớn mà mọi người trong gia đình thấy có hy vọng; là bệnh xá, ở đó khi ốm đau họ có thể tìm được sự chăm nom, săn sóc một cách tận tình bỡi những phần tử của đại gia đình; là viện an dưỡng, nơi đó bố mẹ khi về già có thể tìm được chỗ nghỉ ngơi trong sự an bình và hạnh phúc bên đàn con cháu trong bầu không khí ấm cúng gia đình; là nơi an nghỉ cuối cùng, ở đó khi họ được Chúa gọi về, họ được mọi phần tử trong đại gia đình từ các nơi tuốn về quây quần chung quanh để cùng nhau cầu nguyện và nhìn mặt họ lần cuối trước khi tiễn đưa họ đến phần mộ cuối cùng; sau hết, gia đình Việt nam cũng chính là nơi thờ tự, ở đó bàn thờ tổ tiên được dựng lên để tôn kính ông bà cha me, những người đã về bên kia thế giới nhưng hương hồn của họ vẫn còn ở lại để hộ phù những người còn đang sống. Vì thế, gia đình chính là một báu vật cao quí mà tất cả chúng ta có bổn phận phải giữ gìn nếu chúng ta muốn có một đời sống an vui và hạnh phúc.

Khi chúng ta nói: Tôi đi về nhà thì nhà đó không phải là một ngôi nhà trống không, mà ở nơi đó chúng ta có những con người muốn đón nhận và yêu thương chúng ta bằng tình yêu gia đình thắm thiết. Rất có thể, nhiều lúc chúng ta có những kinh nghiệm đớn đau về gia đình, nhưng dẫu sao gia đình cũng vẫn là tổ ấm, là nơi yên ủi cuối cùng chúng ta có thể tìm về khi mọi người ruồng bỏ và xa lánh chúng ta như câu chuyện người con lãng tử trong Phúc Âm.

Thật vậy, gia đình có một sức mạnh thiêng liêng nối kết chúng ta, khiến chúng ta có thể quên đi tất cả những kinh nghiệm thương đau của quá khứ để yêu thương, nâng đỡ, và vỗ về những người thân yêu đang gặp hoạn nạn mà nếu không có tình yêu gia đình họ không thể nào sống sót được. Vậy thì, khi gặp những trục trặc, những khủng hoảng trong đời sống gia đình, chúng ta phải làm thế nào để bảo vệ được tình yêu gia đình?

Thông thường, khi gặp những khó khăn, những khủng hoảng trong gia đình, chúng ta thường hay có phản ứng tự nhiên nầy là: chống cự, tố cáo,và lên án người khác để bảo vệ chính mình. Chúng ta chỉ muốn giáo dục và thay đổi người khác chứ không muốn thay đổi chính con người mình. Chúng ta thường nói rằng nếu anh ấy hay chị ấy thay đổi tôi bằng lòng cũng sẽ thay đổi. Nhưng hãy nhớ rằng chúng ta chỉ có thể thay đổi người khác bằng cách thay đổi chính con người chúng ta mà thôi. Chúng ta cần nhận thức sự thật nầy là: nếu tôi thay đổi thái độ của tôi chắc chắn người khác cũng sẽ thay đổi thái độ của họ. Dẫu cho chỉ một chút thay đổi trong thái độ của chúng ta chắc chắn cũng sẽ có ảnh hưởng tức khắc đến thái độ của người khác.

Thật bất hạnh cho chúng ta là chúng ta biết quá nhiều về cách thế để làm hại nhau, mưu sát nhau hơn là cách thế để sống trong yêu thương và phục vụ. Vì thế, chúng ta yêu thích chiến tranh hơn là hòa bình. Chúng ta thường mất nhiều thời giờ đi tìm những mưu mô, thủ đoạn bất chính để lên án, tố cáo người khác.

Nhưng nên biết rõ điều nầy là không ai hoàn toàn xấu cũng không ai hoàn toàn tốt cả. Khả năng trở nên tốt hoặc xấu đều hiện hữu trong mỗi con người chúng ta. Chính người nầy có thể giúp cái tốt hoặc cái xấu của người khác phát triển. Nhưng thường họ biết gì về người khác ngay cả người bạn đời của họ ?

Dẫu cho họ sống chung với nhau trong cùng một căn phòng, ăn cùng một bàn, ngủ cùng một giường, nhưng họ biết gì về nhau? Cứ sự thường, họ chỉ biết về những thói xấu của nhau như thích nắm quyền, thích tiêu tiền, thích uống rượu, không thích làm việc…nhưng họ không biết được nguyên nhân tại sao bạn mình đã có thái độ sống như vậy. Và một khi họ cảm thấy chán, họ chỉ muốn loại bỏ những thói hư tật xấu đó ra khỏi người bạn mình mà không muốn thoã mãn những nhu cầu tâm linh cần thiết của bạn mình để giúp họ xa lánh những thói xấu đó. Vì thế, đôi khi họ cũng cần phải sống xa cách nhau vì một lý do nào đó chẳng hạn, họ mới có thể hiểu nhau và yêu nhau nhiều hơn trước.

Thật ra, chính những tranh quyền tranh lợi đã làm cho đầu óc họ ra tối tăm và đã tạo nên cho họ một bầu khí bất hòa. Và trong những lúc như vậy, họ cố gắng đổ lỗi cho người khác để bào chữa cho chính mình. Điều mà họ nói về người khác thì thường là đúng dầu những tường thuật giữa họ xem ra là mâu thuẫn với nhau. Nhưng điều quan trọng không phải là ai sai ai đúng vì mỗi người đều đúng dưới cái nhìn riêng của mình nhưng sai dưới cái nhìn của đối phương. Nếu chúng ta yêu người nào, chúng ta sẽ không hỏi người đó đúng hay sai. Hãy nhớ rằng đối với sự hạnh phúc của chúng ta, câu hỏi sai hay đúng không phải là quan trọng, nhưng chính việc biết chấp nhận cái xấu cũng như cái tốt của người bạn mình mới là quan trọng.

Khi người biệt phái mời Chúa Giêsu đến dự tiệc nơi nhà họ, có một người phụ nữ mang dầu thơm đến ngồi dưới chân Chúa khóc nức nở, lấy tóc lau khô và lấy thuốc thơm thoa chân Ngài. Bấy giờ, những người biệt phái nghĩ thầm rằng nếu ông nầy là tiên tri chắc phải biết người phụ nữ nầy là ai, là một cô gái điếm nổi tiếng vùng nầy.

Chúa biết ý nghĩ của họ, nên nói với người chủ nhà: - Simon, Tôi có điều muốn nói với ông.

Người chủ nhà đáp: - Xin Ngài cứ nói.

Và Ngài đã nói: -Người kia có hai con nợ. Một người nợ nhiều và một người nợ ít. Cả hai không có gì để trả nên được chủ nợ tha cho. Vậy ai trong họ sẽ yêu người chủ hơn ?

Simon thưa: -Người được tha nhiều.

Chúa nói: - Ông nói đúng. Tôi đã đến đây, ông không lấy nước rửa chân Tôi, còn chị ta đã lấy nước mắt rửa chân Tôi, rồi lấy tóc mình lau khô. Ong đã không xức thuốc thơm trên đầu Tôi, còn chị ta đã đổ thuốc thơm trên chân Tôi. Vì vậy, Tôi bảo ông, tội chị ta rất nhiều cũng đã được tha rồi, vì chị ta đã yêu mến nhiều. Kẻ được tha ít thì yêu mến ít.

Rồi người bảo người phụ nữ ấy rằng: - Tội con đã được tha rồi. Hãy đi bình an! (luk.7:36-8:2)

Điều quan trọng mà Chúa muốn nói ở đây là không phải chúng ta phán đoán người nầy tốt hay là xấu, người kia đúng hay là sai mà chính là chúng ta có yêu thương, có chấp nhận họ với tất cả con người họ hay không? Chính thái độ yêu thương, nhân từ đó mới có sức mạnh thuyết phục và hoán cải những con người chúng ta muốn thay đổi. Và cũng chỉ có thái độ rộng lượng đó mới có thể giúp người bạn mình có đủ can đảm trở về để làm lại cuộc đời.

Con người thì thường chú trọng quá khứ và dùng quá khứ như một bằng chứng mạnh mẽ để chối từ sự cộng tác. Nhưng Thiên Chúa thì khác hẳn. Ngài không chú trọng quá khứ nhưng nhìn chính hiện tại. Quá khứ chúng ta có thể tốt, nhưng hiện tại chúng ta có thể xấu hơn người khác. Quá khứ người ta có thể xấu, nhưng hiện tại họ có thể tốt như chúng ta và tương tai họ còn có thể tốt hơn chúng ta không chừng.

Hãy học với Chúa là làm quen với những tiếng nói của im lặng nếu chúng ta muốn có được một đời sống gia đình an vui và hạnh phúc. Hãy nhớ rằng khi người ta vui mừng, phấn khởi, người ta thích nói nhiều. Trái lại, khi buồn rầu đau khổ người ta sẽ không thích dùng lời để nói, vì lời nói không thể diễn tả hết những điều sâu thẳm đang được chứa chất trong tâm hồn họ, nhưng người ta chỉ muốn nói qua những khuôn mặt, những ánh mắt, những giòng lệ, những tiếng lòng thổn thức mà chỉ có những người bạn chân tình mới có thể hiểu được.

Thiên Chúa đã không lên án người phụ nữ bởi lẽ Thiên Chúa đã nghe thấu rõ tiếng lòng thống hối của chị qua những giòng lệ thống hối ăn năn, cũng như tiếng lòng khoắc khoải của chị đang vọng lên từ đáy lòng sâu thẳm của chị dẫu chị ta không thốt lên một lời nào cả. Và Thiên Chúa đã đáp lại niềm khát mong đó, nên Ngài đã nói: Tội con đã được tha. Hãy đi về bình an.

Thật vậy, không phải là tố cáo và lên án mà chính là sự cảm thông và tha thứ mới có sức mạnh vô biên để mang lại cho con người niềm an vui và hạnh phúc trong tâm hồn. Xin cầu chúc mọi người luôn tìm được sự an bình và hạnh phúc trong đời sống hôn nhân và gia đình trong suốt cả cuộc đời

  Trở về mục lục >>

 

476. Các con ngạc nhiên khi nghe nói đến “ơn gọi làm cha mẹ gia đình?” - Người ta lầm lạc khi dành ơn thiên triệu, bậc trọn lành cho tu sĩ thôi. Hai người thề hứa yêu nhau suốt đời trong Chúa Kitô, nhờ bí tích hôn nhân, không phải là một cách tuyên xưng đức tin, một cách khấn hứa sao?        ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng

 

THỜI ĐIỂM CƯỚI "ON SALE"

Lm. Dũng-Lạc Trần Cao Tường

 Bán đại hạ giá "on sale" đã trở thành như một kiểu sống của xã hội tiêu thụ. Mở báo hằng ngày, sau khi lướt qua những mục tin tức giật gân nóng bỏng, hầu như ai cũng lật tới những trang quảng cáo bán đại hạ giá in mầu sắc rất đẹp và hấp dẫn với kỹ thuật cao. Từ các loại quần áo giầy dép cho đến đồ ăn thức uống, máy móc, đồ dùng… thôi thì không thiếu một loại nào mà không "on sale." Đang cần mua một bộ bàn ghế cho phòng khách, mình tìm ngay được chỗ bán đồ thật ngon, bộ bàn ghế bằng gỗ quí giá mọi khi tới 4 ngàn tiền Mỹ, mà tuần này nhân dịp lễ Độc Lập bán đại hạ giá chỉ có hai ngàn rưởi thôi. Thế là có lợi và "save" được tới một ngàn rưởi. Dịp may hiếm có, bỏ qua rất uổng.

 Thấy thế, một anh bạn liền chen vào lời bàn rất ngang tai nhưng cũng rất hữu lý: không mua gì là lợi và "save" nhất. Khốn nỗi các quảng cáo thôi thúc kích động thế kia làm sao cưỡng lại được?! Nhà người quen mới mua một bộ đẹp lắm với giá phải chăng mà. Sự đua chen là một đòi buộc căng thẳng dường như có sức mạnh phi thường. Nhiều khi đồ cũ vẫn còn ngon lành xài được, nhưng cái sức ép bắt phải chạy theo thời trang nên cũng phải sắm thêm để thay đổi. Thế là mình răm rắp tuân theo một thứ lệnh vô hình. Rồi sau đó đi cầy tối mặt mà trả nợ.

 THỜI ĐIỂM CƯỚI "ON SALE"

 Kiểu sống bỏ đồ cũ sắm đồ mới không ngờ lại ăn sâu vào máu trong mọi lãnh vực. Ông bà cụ rất có thể bị xếp vào loại đồ cũ không còn ăn nhập bao nhiêu nên cũng trở nên một thứ đồ đáng phế thải. Ngay cả chuyện cưới vợ lấy chồng ngày nay cũng bị ảnh hưởng cái lối suy nghĩ này.

 Tiểu bang Louisiana là một trong những tiểu bang đầu tiên thi hành đạo luật cưới thật và cưới chơi. Sau ngày 15 tháng 8 năm 1997, các cặp ra tòa xin giấy phép cưới có thể chọn xin cưới thật hay cưới chơi. Vì thấy tình trạng li dị nhiều quá bởi cái đầu óc cưới nhau theo hứng. Cưới thật là cưới một người trung thành cho đến chết dù bất cứ gì xảy ra, gọi là "covenant marriage". Còn cưới chơi là cưới theo kiểu "on sale", còn hợp thời và hợp nhau thì còn dùng được, mà nếu đã cũ hay không thích nữa thì có quyền thảy đi để tậu đồ mới vừa lợi vừa tiến bộ. Trước kia mỗi lần ra tòa li dị thì phải trưng bằng chứng một bên có lỗi, luật mới bây giờ cho phép bỏ nhau mà không cần nêu bằng chứng như vậy nữa. Không thích và không hợp nữa là dẹp thôi. Để đi tìm đồ "on sale"!

Hội Thánh Anh Giáo ở Louisiana lên tiếng ngay: chỉ chấp thuận cho cưới trong nhà thờ những cặp nào xin phép cưới thật, còn muốn cưới chơi thì đi chỗ khác chơi. Chắc chắc giáo quyền Công giáo cũng sẽ lên tiếng về chuyện lẩm cẩm mà có thật này. Đúng là thời đảo lộn luân lý.

TIN VUI GỬI NGƯỜI THÍCH MUA ĐỒ "ON SALE"

Tìm về nhận ra giá trị của những gì xem ra tầm thường đã có sẵn trong cuộc sống, trong tầm tay, là một trong những thời điểm của con người ngày nay. Sau khi đua đòi chạy theo những ảo vọng và những vật lộn hơn thua trầy da tróc vảy, con người thấy quá căng và mệt mỏi, muốn tìm về với những gì thật giản đơn trong cuộc sống thường ngày.

Khi Chúa Giêsu xuất hiện mở Đạo thì nhiều người thán phục bước theo, vì những phép lạ và Tin Vui có sức thay đổi cả một đời người. Nhưng khi trở về quê nhà là Na-gia-rét thì dân làng bửu môi mai mỉa: Ông đó là cái thá gì, chúng tôi biết quá mà, cũng dân tầm thường như mình chứ có gì mà phải bày đặt. Thấy thế, Chúa Giêsu nói thẳng vào tâm trạng và lối suy nghĩ của họ: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi." (Mác-Cô 6: 4).

Đúng là quen quá hóa nhàm, đứng núi nọ trông núi kia cao. Người Anh có câu ngạn ngữ cũng gần tương tự: bờ cỏ bên kia xanh hơn bên này. Đứng xa thì thấy ngon lành vậy, mà đến gần thì cũng lơ thơ xờ xạc, nhiều khi còn tệ hơn. Vậy mà nhiều người vẫn mơ màng ảo tưởng! Lối suy nghĩ thành nếp sống ấn sâu vào máu máu này đang hành hạ con người ngày nay, biến thành những tên nô lệ phải tuân theo những thứ lệnh vô hình, bắt phải rướn mình đua đòi bon chen, khiến luôn bị căng và mệt!

 MẪU XÂY LẠI TỔ ẤM CHO THIÊN NIÊN KỶ NÀY

 Ngày 12 tháng 7 là ngày giỗ một vị thánh nữ duy nhất của Hội Thánh Việt Nam là thánh Lê Thị Thành, người đã biến cuộc sống gia đình xem ra tầm thường hằng ngày thành thiên đàng hạnh phúc. Chính những bí mật tìm lại hạnh phúc theo gia đạo Việt qua gương sống của Thánh Lê Thị Thành mà Hội Thánh muốn giới thiệu cho thế giới. Qua tông thư “Đệ Tam Thiên Nhiên Sắp Đến” Đức Gioan Phaolô II đã đề cao:

 “Giáo Hội của đệ nhất thiên niên đã khai sinh trong máu của các vị tử đạo: máu tử đạo là hạt giống sinh tín hữu” (Tertuliano)... Trong thế kỷ chúng ta, các vị tử đạo xuất hiện lại: thường là những kẻ âm thầm, họ như những “chiến sĩ vô danh” cho đại nghĩa Chúa. Bằng mọi cách có thể, đừng nên làm mất đi chứng tá của họ trong Giáo Hội. Như hội nghị hồng y đoàn đã gợi lên, các Giáo Hội địa phương phải làm mọi cách để gương lành của những kẻ đã chịu tử đạo khỏi rơi vào quên lãng; nên cố gắng thu thập các tài liệu cần thiết trong ý hướng này...”