Số 83 Ngày 07-29-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Quyền Năng Của Tình Yêu Làm Nên Phép Lạ– Lm. Vũ Xuân Hạnh

Chân Phước Anrê Phú Yên: Thầy Giảng, vị Tử Đạo Đầu Tiên của Giáo Hội Việt Nam Sưu Tầm

Theo Dâu Chân Người …- Lm. Hoàng Văn Đạt, SJ.

Anrê Phú Yên - Người Trẻ Trước Những Thách Đố Cho Tương Lai - Lm.Huỳnh Tấn Hải 

Mẹ Têrêsa - Tiểu Sử và Chứng Từ  Trần Duy Nhiên tổng hợp

Mẹ Têrêsa Calcutta – Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt dịch.

Vài Tư Tưởng Của Mẹ Têrêsa - Trần Duy Nhiên dịch

Tế Bào Gốc: Vấn Đề Đạo Đức Thời Hiện Đại - Đỗ Trân Duy

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Lời Chúc – Cao Huy Hoàng 

Tội Lỗi và Thánh Thiện Xuân Thái

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

Trong tuần qua, cuộc chiến ở Trung Đông vẫn tiếp diễn và được các hãng thông tấn tường thuật từng ngày, con số thương vong của thường dân Do Thái và Li-băng ngày càng tăng. Tình hình nghiêm trọng này khiến cả thế giới quan tâm. Đức Thánh Cha Bê-nê-đi-tô XVI mặc dù đang nghỉ hè nhưng vẫn huớng về và mời gọi Giáo Hội hoàn vũ dành Chúa nhật 23 tháng 7 để hiệp lòng cầu nguyện cho chiến tranh tại Trung Đông sớm chấm dứt. Tuy nhiên, Toà Thánh lại thất vọng vì những cố gắng của Vatican cũng như Liên Hiệp Quốc và các nước quan tâm vẫn chưa đem lại được thành quả nào cho công cuộc xây dựng hoà bình tại đây, thì ngay tại biên giới của hai nước này, 4 quan sát viên của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc lại bị bom Do Thái sát hại.  Dân chúng ở cả hai nước, nhất là tại Li-băng hồi hộp sống trong sợ hãi lo âu, trong đó có khoảng 200 kiều dân Việt Nam hiện đang đợi chờ về nước, công dân Hoa Kỳ cũng hoảng sợ từ giã Li-băng hoặc chờ đợi chuyến tàu di tản. 

Nhưng lồng vào đó, tin vui của Giáo Hội quê nhà đem lại niềm an ủi cho cộng đồng dân Chúa khi nghe tin ĐHY Phạm Đình Tụng đã bình phục và được phép rời bệnh viện; nhà nước trả lại 4000m2 đất (thuộc bệnh viện huyện Kim Sơn) cho tòa giám mục Phát Diệm để xây nhà hưu dưỡng cho các linh mục của giáo phận.

Một tin đáng chú ý khác tại Hoa Kỳ là Tổng Thống Bush lần đầu tiên trong hai nhiệm kỳ đã dùng quyền phủ quyết để bác bỏ Dự Luật nhằm sử dụng tiền tài trợ của chính phủ cho việc nghiên cứu tế bào gốc bằng cách hủy diệt các phôi thai người. Vấn đề này thuộc lãnh vực khoa học nhưng lại liên quan đến luân lý và niềm tin… Thêm vào đó, bản tin về cơn nóng thiêu người đã bao trùm cả nước Mỹ những ngày qua cũng là đề tài lớn đáng quan tâm, vì chính tại đất nước văn minh bậc nhất thế giới này, trong tuần qua, chỉ tại tiểu bang California, đã có 132 người thiệt mạng vì cơn nóng kỷ lục, có nơi đã lên đến 118 độ F, nhiều căn nhà và đám rừng bị thiêu rụi.

            Kèm theo những bản tin nóng bỏng này, một tin khác liên quan đến sự cố xảy ra lúc 5 giờ 30 phút chiều ngày 19 tháng 7 vừa qua, trạm radar kiểm soát không lưu của phi trường quốc tế Los Angeles, California bị mất điện trong vòng 90 phút. Sự cố này đã gây gián đoạn mọi liên lạc và ngưng trệ các chuyến bay đi và đến tại các phi trường nam California - và có thể lan rộng khắp nước Mỹ, theo tuyên bố của ông Allen Kenitzer, phát ngôn viên vùng của cơ quan hàng không dân sự liên bang (FAA). Đây chỉ là một bản tin trong hàng chục bản tin mỗi ngày. Nhưng sự cố tưởng không có gì quan trọng ấy đã ảnh hưởng biết bao nhiêu người: 221 chuyến bay đến hoặc đi từ Los Angeles và một vài phi trường khác trong miền đã bị tê liệt hoàn toàn. Các chuyến bay từ đó trở đi không được cất cánh, hạ cánh; những chuyến bay đến từ các phi trường quốc tế đều được thông báo phải chuyển hướng và hạ cánh ở những phi truờng của các thành phố hoặc tiểu bang lân cận. Các sân bay khác của Los Angeles, Orange County, San Diego, San Jose, Oakland và San Francisco đều bị ảnh hưởng. Đã có khoảng 25 ngàn hành khách phải thay đổi chương trình, ở lại qua đêm vất vưởng ở các sân bay chờ đợi, chưa kể đến cả chục ngàn người đưa đón đều ít nhiều bị liên hệ phiền toái.

Nguyên nhân sự cố tưởng chừng phải ghê gớm lắm, thực ra, lý do chỉ vì một người tài xế lái xe đụng vào một cột điện gần trạm kiểm soát không lưu. Máy điện dự phòng đã được báo động và tự khởi động, nhưng sau một thời gian ngắn thì cũng tự động tắt, làm toàn bộ hệ thống điện thoại, điện cơ và các hoạt động radar bị ngưng trệ hoàn toàn, và đã dẫn đến hiện tượng đáng tiếc kể trên gây thiệt hại cho rất nhiều người và tổn thất ngân quỹ tiểu bang cũng như các hãng hàng không.

            Cứ tuởng rằng “Những tin tức kể trên đã ảnh hưởng đến biết bao con nguời trên hành tinh này, nhưng cũng có thể chẳng liên hệ gì đến một số người nào đó.” (trích Thư toà soạn Maranatha 82). Nhưng câu chuyện xảy ra trên đây cho thấy rằng vẫn có sự tương quan giữa các sự kiện, biến cố và con người với nhau. Có những chuyện tưởng như tình cờ đã dẫn đến những kết quả hoặc bất ngờ tốt đẹp, thú vị hoặc có khi phiền toái, chua xót, ngậm ngùi.  Và chính những “tình cờ” dẫn chúng ta đến con đường của Thiên Chúa. Câu chuyện một em bé nhỏ được hạ sinh trong một máng cỏ cách đây hơn 2000 năm đem lại ý nghĩa cho sự hiện diện của con người trên trần gian. Cũng như câu chuyện của một tân tòng trở thành giáo lý viên tại Việt nam mà tên tuổi chỉ biết qua tên thánh rửa tội và nơi chốn làng quê anh sinh ra. Câu chuyện ấy, cuộc đời âm thầm ấy đã trở thành gương sáng cho biết bao thế hệ giáo lý viên, tu sĩ và linh mục hiện đang ở tại quê hương, hoặc đang làm chứng sống động cho biết bao nhiêu người trên khắp cùng thế giới. Anrê Phú Yên đó - người bạn trẻ tân tòng giáo lý viên đã dám tử đạo để làm chứng cho niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh, đã được chọn làm Quan Thầy Giáo lý Viên Việt Nam. Chính vị á thánh trẻ tuổi này là nguyên nhân để các giáo lý viên tuần vừa qua, từ khắp nơi trên miền đất nuớc cùng nhau tụ về nhà thờ Mằng Lăng thuộc giáo phận Quy Nhơn sinh quán của ngài để cùng chung vui và học hỏi nhân dịp nhân dịp kỷ niệm 362 sinh nhật trên trời của ngài (26.7.1644 – 26.7.2006).

            Như thế, chúng ta cảm nghiệm hơn về mầu nhiệm hiệp thông, về vai trò và sự liên đới của từng chi thể Đức Giê-su Kitô mà chính Ngài làm đầu. Tội lỗi và ân sủng luôn đan kết để càng ý thức về tình trạng và thân phận con người, chúng ta thấy mình không cách xa sự dữ và điều lành như ta mong muốn. Tội lỗi và thánh thiện có khi gần nhau hơn chúng ta tưởng. Như thế, trong cuộc sống hôm nay, chúng ta càng ý thức mối tương quan giữa con người với nhau. Thiên Chúa không tạo nên chúng ta để nên thánh thiện một mình, nhưng cùng bước đi trên con đường nở hoa cũng như lầy lội như Đức Giêsu đã bước vào trần thế.

            Trong tâm tình hiệp thông với Giáo Hội Việt Nam trong dịp hân hoan mừng kính Chân Phước Phú Yên vẫn còn dư âm mừng lễ trong các giáo phận giáo xứ nơi này nơi khác, Maranatha dành nhiều trang để tưởng nhớ và học hỏi về vị chân phước trẻ tuổi mà anh dũng của Giáo Hội Việt Nam với niềm hãnh diện và tạ ơn Chúa. Trong tương quan và ảnh hưởng của những biến cố và con người, Maranatha 83 cũng chứa chan niềm vui khi nhắc nhớ đến tấm gương sáng của Tình Yêu Kitô trong thế kỷ này: Mẹ Tê-rê-xa Can-cút-ta - con người của tình liên đới và cuộc sống của Mẹ là một cuộc sống trao ban chia sẻ để rồi tình yêu và sự phục vụ của Mẹ đã ảnh hưởng đến biết bao người.

            Như trong bài suy niệm Chúa Nhật tuần này Quyền Năng của Tình Yêu làm nên Phép Lạ, chúng ta có thể hoặc bắt chước người đàn ông đưa tay bố thí để dễ phủi tay quên đi Thân Thể Mầu nhiệm, hoặc chúng ta có thể quyết tâm hơn theo cách Mẹ Tê-rê-xa đã làm, vì chính tôi cũng thuộc về thân thể nghèo yếu và đau khổ đó. Suy nghĩ hơn một chút, chúng ta thấy được dễ dàng hơn vì sao Giáo hội quyết tâm bảo vệ sự sống, và tại sao trong việc nghiên cứu tế bào gốc, Giáo Hội quyết liệt bày tỏ quan điểm của mình, bên cạnh bao nhiêu đe doạ, chê bai của những khoa học gia cho rằng việc nghiên cứu tế bào gốc từ việc phá hủy những thai nhi (họ cho rằng dù gì thì cũng bỏ đi) thì có thể mang lại biết bao nhiêu ích lợi. Chỉ vì Giáo hội và người tín hữu chúng ta có thể nhìn thấy tính liên đới qua sự kiện bé nhỏ như một chiếc xe đụng vào cột điện, một người thanh niên dám hy sinh mạng sống để làm chứng cho niềm tin, một người phụ nữ bé nhỏ chỉ biết phục vụ vì tình yêu, một phôi thai được quyền sống vì chính nó là sự sống. Những điều tuy nhỏ bé đó lại hàm chứa nhiều ý nghĩa cho chúng ta là con người được Thiên Chúa tạo dựng và yêu mến.

            Những câu chuyện và suy tư trên làm chúng ta ý thức sâu xa hơn câu mở đầu thời danh của Hiến chế Vui Mừng và Hi Vọng, Vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày hôm nay, đặc biệt của người nghèo đói và khổ đau, cũng là vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của người môn đệ Chúa Kitô. Cũng như không có gì thực sự là của con người mà không vang vọng âm hưởng trong lòng người môn đệ Chúa.” Ý thức mà thôi chưa đủ, chúng ta cùng quyết tâm thật sự bước theo Đức Kitô với nỗ lực mới, tâm tình mới mỗi ngày. Và cũng vì ý thức được sự nghèo khó của chính bản thân mình, chúng ta liên lỉ cầu xin ơn Chúa giúp, đặc biệt với lời nguyện xin thân thương tha thiết:

Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!

 

š¶›

 

CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN NĂM B

QUYỀN NĂNG CỦA TÌNH YÊU LÀM NÊN PHÉP LẠ

Lm. Vũ Xuân  Hạnh

 

Một đêm, khi máy bay vừa hạ cánh, một người đàn ông sang trọng bước ra khỏi máy bay tại một phi trường ở Ấn Độ. Điều đầu tiên đập ngay vào mắt ông, chính là những người vô gia cư đang nằm vô trật tự hai bên đường bay. Suốt ngày, đường bay hấp thụ sức nóng, để đêm về trở thành chiếc lò sưởi cho những người bần cùng này.

Sau đó, người đàn ông rảo bước trong phố đêm hoang vắng về khách sạn. Hình ảnh người khổ nghèo lại đập vào mắt ông. Đó là những thân hình co quắp trong đêm lạnh bên cạnh bàn chân đang bước đi khá thong dong của ông. Bỗng « lịch kịch, lịch kịch. » Những tiếng gõ khô khốc trong đêm đều đặn nhịp xuống mặt đường làm ông giật mình quay lại: Một thằng bé cụt chân hầu như đến tận háng, đang chống đôi nạn gỗ, cố gắng trường mình thật nhanh đuổi theo ông. Ông cầm tất cả số tiền lẻ trong túi nhét vào tay thằng bé rồi quay đi. Bỗng ông nghe tiếng la thất thanh và tiếng động dữ dội một cách kỳ lạ vang lên ở phía sau. Hóa ra, thằng bé bị những kẻ « đồng hội đồng thuyền » đánh túi bụi bằng chính đôi nạn gỗ của nó. Họ cưỡng bức thằng bé để đoạt số tiền mà ông vừa cho nó. Đôi mắt của ông chợt chùng xuống, gương mặt ông đượm buồn. Khách sạn sang trọng và tiện nghi, hơn gấp ngàn lần những cảnh đời chỉ có «màn trời chiếu đất, » những cảnh đời đang chìm sâu trong giấc ngủ co quắp mà ông bắt gặp, lại không thể cho ông một giấc ngủ ngon trong đêm ấy. Những chỉ với những suy nghĩ như thế, nên ông chỉ biết có vậy. Ông biết làm sao hơn!

Ngày nọ, có một phụ nữ vừa đứng tuổi, đã đưa bàn tay của bà nắm lấy lũ người khốn cùng này. Bà dồn tất cả tiền bạc của mình thuê một căn nhà cũ kỹ. Bà đi khắp vùng, tìm lũ trẻ con đầu đường xó chợ, đem về và trao cho chúng hơi ấm của tình yêu. Đó là cách bà dùng để chiến đấu với cái nghèo, cái dốt và hung dữ của những đứa trẻ bạc phận. Bà chính là câu trả lời cho câu hỏi của người đàn ông sang trọng bên trên: « Tôi biết làm sao hơn? » Bà dạy ông biết cách nâng cao cuộc đời, không phải bằng cái đầu suy ghĩ, nhưng bằng chính trái tim hành động. Con đường từ cái đầu đến trái tim không xa, nhưng từ suy nghĩ đến hành động thì xa thăm thẳm. Xóa được khoảng cách từ suy nghĩ đến hành động, ông sẽ bình an, sẽ thấy cuộc đời đáng yêu hơn, ông sẽ hạnh phúc khi phục vụ hạnh phúc của đồng loại, và chắc chắn ông sẽ ngủ ngon.

Người đàn ông sang trọng đó không ai khác hơn là chính tác giả của câu chuyện này (trong tác phẩm « Những Vùng Đang Phát Triển »), ông Jay Kesler. Còn người phụ nữ trong câu chuyện thật sâu sắc, thật cảm động của ông không ai khác hơn là Mẹ Têrêsa thành Calcutta, nữ tu, chân phước, vị sáng lập dòng Thừa Sai Bác Ái.

Mẹ Têrêsa đã làm công việc mà trước Mẹ từ lâu, nhiều người đã làm và Thánh Kinh đã ghi lại. Bài đọc I, (2 Vua 2, 42-44) với 20 chiếc bánh lúa mạch của một nông dân, tiên tri Êlisê đã nhân lên nhiều để dọn cho 100 người ăn. Thật lạ lùng, với lao công của một con người và quyền năng của Thiên Chúa tình yêu thể hiện nơi một tiên tri, đã làm nên một bữa tiệc dư đầy : « Người ta ăn rồi mà hãy còn dư. »

Cũng vậy, chỉ với 5 cái bánh và hai con cá, công sức và hy sinh của một em bé trai đã góp phần vào lòng yêu thương của Chúa Giêsu, làm nên phép lạ diệu kỳ: 5.000 người ăn no nê mà vẫn còn dư đến 12 thúng đầy!

Mẹ Têrêsa đã trao cho Chúa tất cả bánh và cá của mình, đó chính là những đồng tiền còm cỏi của một nữ tu nghèo nhưng lại giàu tình yêu; giàu sự hy sinh; giàu lòng can đảm để mạo hiểm gánh một sức nặng vuợt sức người, đó là gánh cuộc đời anh chị em lên vai mình; giàu khối óc và con tim để dấn thân cho Chúa, dấn thân cho đồng loại. Chúa chỉ cần có thế, cần sức người cộng tác, để làm nên phép lạ cả thể, chữa lành mọi đói nghèo của anh chị em.

Nhưng không dừng lại trên sự no nê thân xác, với phép lạ hóa 5 chiếc bánh và hai con cá nuôi hơn 5.000 người ăn tại bờ hồ Tibêria, Chúa Giêsu đưa ta tiến đến một phép lạ trường cửu, một phép lạ, mà ở đó, Lương Thực của nó, không có bất cứ thứ lương thực nào sánh ví: Phép lạ Mình Thánh Chúa làm tấm bánh bổ dưỡng đời đời.

Chính thánh Gioan đã tài tình liên kết ý nghĩa của phép lạ hóa bánh nuôi hơn 5.000 người với phép lạ Bánh Trưởng Cửu. Sau khi thuật lại việc hóa bánh nuôi thân xác, thánh Gioan bắt đầu cả một chương dài (trọn chương 6) tường thuật về việc Chúa Giêsu rao giảng Bánh Hằng Sống là chính Thánh Thể của Người.

Từ nay, nhân loại, nếu muốn được sống trong cõi đời tạm này hạnh phúc, bình an, họ có một nguồn cậy trông vững chắc, một chỗ dựa không bao giờ hư hao, để giữa trăm chiều lao khổ, long đong, thử thách, họ có chốn tìm về, ngã mình vào náu nương.

Từ nay, nhân loại, nếu muốn sống trong một sức sống dồi dào, một lẽ sống phong phú, họ có một suối nguồn chân lý, một đỉnh cao của núi khôn ngoan mà hứng lấy, mà hướng tới, mà đi lên, làm tăng giá trị đời mình.

Trên hết mọi sự, từ nay, nhân loại, nếu muốn bước vào sự sống và sức sống của chính Thiên Chúa, một sự sống và sức sống đời đời không tàn, không phai, họ có cả một trời yêu thương chứa đựng một sự sống và sức sống vô cùng, để ngay từ hôm nay, trong khi hưởng sự sống và sức sống ấy, sẽ là nấc thang đưa họ về cùng Chúa.

Hóa ra, nhìn đoàn người đông đảo nghe Chúa rao giảng đang đói lả, Chúa Giêsu băn khoăn: « Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây? » thì đó chính là cái băn khoăn của một trái tim đập nhịp đập của chính tình yêu Thiên Chúa, một trái tim nhân từ của Người Cha Lành lo lắng cho đàn con.

Nhưng lời hỏi của Chúa không chỉ dừng lại trên đoàn người đang đói ăn. Nó tiến xa hơn, khi nhìn đến một nhân loại đang khao khát chân lý, khao khát sự sống đích thật. Vì thế, khi ban Bánh ấy cho nhân trần, Chúa Giêsu khẳng định: « Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này, sẽ sống muôn đời. Và Bánh Ta ban tặng, chính là Thịt Ta đây, để cho thế gian được sống. » (Ga 6, 51).

Chính vì phục vụ cho ý nghĩa « Bánh Hằng Sống, » thánh Gioan không bỏ qua một chi tiết quan trọng trong câu chuyện phép lạ hóa bánh ra nhiều. Chi tiết mà sau này, khi lập bí tích Mình Máu Người, Chúa Giêsu đã thực hiện. Chi tiết đó là: « Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó? » (Ga 6, 11).

Sau này, khi lập bí tích quý trọng, cùng một nghi thức như hôm nay, Chúa đã làm cho bánh người cầm trong tay trở thành chính Bánh Thịt Máu Người. Người tự phân phát bánh nói lên sự tự hiến mạng sống của Người. Loài người không tầm thường chút nào. Ngược lại, họ cao quý quá đỗi, hạnh phúc của họ lớn lao và tuyệt vời qua đỗi: Họ được chính tay Thiên Chúa chăm lo. Họ được nuôi sống bằng chính việc tự trao ban sự sống của Người. Họ nhận được Lương Thực thần thiêng, điều mà chỉ có sức người mà thôi, sẽ chẳng bao giờ xảy ra.

Qua phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa muốn dạy ta bài học của tình liên đới trong yêu thương, hiến dâng, hy sinh và cho đi. Người nông dân trong bài đọc I, trích sách Các Vua quyển thứ hai, đã dâng hiến những chiếc bánh là lao công của mình, lấy từ hoa quả đầu mùa, để tiên tri Êlisê khoản đãi hàng trăm người. Em bé trong câu chuyện phép lạ hóa bánh ra nhiều, chắc không ngờ rằng, việc dâng hiến những của cải quá nhỏ bé, nhưng là tất cả sự hy sinh của mình, đã có thể làm nên một phép lạ cả thể. Mẹ Têrêsa thành Calcutta, hoàn toàn không thể hiểu hết, với sự dâng hiến cái nghèo khó của Mẹ, (khi bắt đầu công việc, trong tay Mẹ chỉ có 3 đồng xu), đã được Chúa làm cho nên giàu có, để ngày hôm nay, khi Chúa đã gọi Mẹ về với Người, Mẹ đã để lại cho Chúa cả một công trình đồ sộ trên trần gian. Chỉ tính tại Ấn Độ, Mẹ đã hiến dâng khoảng 100 trường học được trang bị đầy đủ, trên 300 nhà phát chẩn lao động hiện đại, trên 70 bệnh viện cho người cùi, 30 viện chăm sóc người hấp hối, 30 viện chăm sóc trẻ em bị bỏ rơi, 40.000 nhân viên thiện nguyện khắp thế giới sẵn lòng giúp đỡ Mẹ trong các công tác từ thiện.

Cũng vậy, mỗi người trong chúng ta hãy học cách trao tặng những gì mà chúng ta đang có. Chúa không đợi chúng ta dư giả, giàu có mới dạy chúng ta cách cho, nhưng hãy hiến dâng ngay cả khi chúng ta nghèo nàn. Với một tâm hồn hiến dâng thực sự, cái nghèo của chúng ta sẽ được Chúa làm phép lạ để nên giàu có cho nhiều người.

Tất cả chúng ta đều sinh ra với hai bàn tay trắng. Bước vào đời, ta là những người nghèo, nghèo thực sự. Hãy nhớ kỹ điều này để đừng sống ích kỷ, nhưng luôn luôn biết hiến dâng. Chúa không kêu gọi bạn và tôi làm phép lạ như Chúa, nhưng Chúa chỉ xin ta hãy yêu, hãy cho đi, hãy hiến dâng, hãy hy sinh. Phép lạ đương nhiên sẽ xảy ra sau khi ta cộng tác với ơn Chúa bằng tất cả khả năng của mình

  Trở về mục lục >>

š¶›

ChÂN PhưỚc AnrÊ PhÚ YÊn:

ThẦy GiẢng - Vị TỬ ĐẠO TIÊN KHỞI CỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM

Sưu tầm

            Ngày 5 tháng 3 năm thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II tôn phong lên        bậc chân phước một thanh niên Việt Nam, tử đạo ngày 26 tháng 7 năm     1644, và được biết dưới tên thánh Anrê, và đồng thời cũng là thầy giảng.

            Ba thế kỷ rưỡi đã trôi qua kể từ ngày Thầy anh dũng dâng hiến mạng       sống vì trung thành với đức tin Kitô và những lời Thầy cam kết với Chúa Kitô trong tư cách là người truyền bá Tin Mừng và giáo lý Kitô, nhưng ký ức        về        Thầy vẫn không suy giảm; trái lại, tấm gương của Thầy vẫn là một guồn   mạch nâng đỡ và khích lệ đích thực cho các tín hữu Công Giáo tại Việt Nam,        Giúp đỡ họ sống phù hợp và trung thành với đức tin, mặc dù đất nước phải trải     qua nhiều thăng trầm phức tạp và khó khăn.

Thầy Giảng Anrê, gốc tỉnh Phú Yên (giáo xứ Mằng Lăng, Giáo phận Quy             Nhơn), là con út của một phụ nữ tên thánh là Gioanna. Tuy góa bụa nhưng đã        giáo dục con cái với tất cả lòng tận tụy và không ngoan. Anrê là một cậu bé        mảnh khảnh, nhưng tư chất rất thông minh, có óc phán đoán tốt và tâm hồn          hướng chiều về sự thiện. Do lời năn nỉ của và mẹ, cha Đắc Lộ, vi. Linh Mục thừa sai dòng Tên nổi tiếng, đã nhận cậu Anrê vào số các môn sinh của ngài. Anrê chăm chỉ học chữ Nho và chẳng bao lâu trổi vượt các bạn đồng môn.

Anrê được lãnh nhận bí tích Rửa Tội cùng với mẹ ba năm trước khi bà qua đời, tức năm 1641, khi Anrê được 15 tuổi. Anrê sinh năm 1625 hay 1626, không rõ ngày tháng, và lúc chịu chết năm 1644, Thày trạc độ 19, 20 tuổi.

Một năm sau khi chịu phép Rửa Tội, tức là năm 1642, Anrê được cha Đắc Lộ nhận vào làm cộng sự viên thân tín của ngài, và sau một năm huấn luyện thêm về tôn giáo và văn hóa, Anrê được gia nhập Hội Thầy Giảng gọi là "Nhà Đức Chúa Trời" mà cha Đắc Lộ đã khôn ngoan thành lập: các thành viên Nhà Đức Chúa Trời cam kết, bằng lời hứa chính thức và công khai, suốt đời phụng sự Giáo Hội trong việc giúp các linh mục và rao giảng Tin Mừng.

Lòng hăng say của Thầy Anrê sống trọn điều quyết tâm khi chịu phép Rửa đã chuẩn bị cho Thầy can đảm đương đầu với cuộc tử đạo và ngoan ngoãn đón nhận ơn tử đạo Thiên Chúa rộng ban cho Thầy.

Trước cuối tháng 7 năm 1644, quan Nghè Bộ trở lại tỉnh nơi Thầy Giảng Anrê sinh sống. Quan mang theo sắc lệnh của chúa Nguyễn cấm truyền bá đạo Kitô trong nước; vì thế quan quyết định hành động trước tiên chống lại các thầy giảng.

Cha Đắc Lộ không hề hay biết ý định này của quan, nên tới thăm quan vì xã giao, nhưng ngay sau đó cha được biết chúa Nguyễn rất giận dữ khi thấy vì cha mà có đông người dân bản xứ theo đạo Kitô. Vì thế cha phải bỏ xứ Đàng Trong để trở về Macao và không được phép dậy giáo lý cho dân nữa. Còn các tín hữu theo đạo thì bị trừng phạt rất nặng nề.

Rời dinh quan Nghè Bộ, cha Đắc Lộ đi thẳng xuống nhà từ nơi giam giữ một thầy giảng già 63 tuổi tên là Anrê, mới bị bắt hai ngày trước đó. Trong kho ấy, quan ra lệnh cho lính tới nhà cha lùng bắt một thầy giảng khác tên là Agnatio. Nhưng thầy Agnotio đã đi làm việc tông đồ. Lính đánh đập Thầy Anrê, trói Thầy lại, rồi giảng xuống thuyền đem về dinh quan trấn thủ. Chiều ngày 25 tháng 7 năm 1644, Thày được dẫn tới trước mặt quan. Lính thưa với quan rằng họ không tìm thấy thầy Agnatio, nhưng đã bắt được một "thầy giảng khác giống như vậy, vì suốt cuộc hành trình, anh ta luôn nói về đạo Kitô và khuyến khích họ theo đạo."

Nghe vậy quan tìm mọi cách làm cho Thầy Anrê "từ bỏ cái đạo điên rồ đó và bỏ lòng tin."

"Nhưng thanh niên can trường ấy trả lời quan rằng mình là Kitô hữu, và rất sẵn sàng chịu mọi khổ hình chứ không từ bỏ đạo mình tuyên xưng: nên xin quan xứ tùy ý chuẩn bị các hình cụ, chàng vui lòng đón nhận, với xác tín rằng, vì đức tin, càng chịu khổ đau chừng nào thì càng chết vinh quang chừng ấy."

Tức giận vì sự bất khuất của Thầy Anrê không hề sợ hãi trước những lời đe dạo, quan truyền đóng gông và giải Thầy vào ngục, cùng nơi giam giữ thầy Anrê già.

Cha Đắc Lộ và một vài thương gia Bồ Đào Nha tới thăm hai thầy: Thầy Anrê trẻ thanh thản và vui mừng vì được chịu khổ đau vì Chúa Kitô đến độ những người đến thăm Thầy bịn rịn không rời Thầy được, và nước mắt tràn bờ mi, họ xin Thầy nhớ đến họ trong lời cầu nguyện. Thấy vậy, Thầy tự nhạo cười mình và xin họ cầu cho Thầy, để Chúa ban cho Thầy ơn trung thành với Chúa cho đến chết, "dâng hiến mạng sống trong tình yêu trọn vẹn, hầu đáp trả tình yêu thương vô biên của Chúa Đấng đã hiến mạng sống vì loài người... những lời Thầy luôn tập lại cho đến khi trút hơi thở cuối cùng: Chúng ta hãy lấy tình yêu để đáp trả tình yêu của Chúa cho chúng ta, hãy lấy mạng sống đáp trả mạng sống."

Sáng hôm sau, ngày 27 tháng 7 năm 1644, hai tín hữu Kitô cùng tên Anrê già 63 tuổi và Anrê trẻ, cổ mang gông, bị dẫn qua các đường phố đông người qua lại nhất trong thành, băng qua chợ Kẻ Chàm, đến dinh quan trấn thủ để bị tra hỏi. Quan trấn triệu tập một vài quan khác, lôi kéo họ về phía mình và tuyên án tử cho Thầy Giảng Anrê trẻ, rồi ra lệnh dẫn Thầy trở về ngục thất. Còn Thầy Anrê già thì được tha vì lý do tuổi tác nhờ lời xin của cha Đắc Lộ và các thương gia Bồ Đào Nha.

Vào khoảng 5 giờ chiều, một viên chỉ huy cùng với 30 người lính vào nhà tù, nơi vị Tôi Tớ Chúa bị giam giữ, và ra lệnh cho Thầy phải đi theo tới nơi hành quyết. Thầy Anrê cảm tạ Chúa vì giờ hiến tế đã tới, và sau khi chào mọi người hiện diện trong tù, Thầy nhanh nhẹn bước đi. Quân lính vây chặt chung quanh và dẫn Thầy Anrê đi qua các đường phố ở Kẻ Chàm, tới một cánh đồng ngoài Thành. Cha Đắc Lộ, nhiều Kitô hữu Bồ Đào Nha và Việt Nam cũng như nhiều người lương đã đi theo và chứng kiến cuộc xử tử vị Tôi Tớ Chúa.

Theo thói quen tại đây, cha Đắc Lộ xin và được phép trải một tấm chiếu dưới nhà Thầy Anrê để hứng lấy máu Thầy, nhưng Thầy Anrê không muốn nhận điều ấy, Thầy muốn máu mình thấm xuống đất, để được giống như máu cực trọng đức Chúa Kitô đã đổ ra. Trong khi đó, Thầy Anrê nhắn nhủ các Kitô hữu hiện diện hãy luôn kiên vững trong đức tin, đừng buồn phiền vì cái chết của Thầy, và hãy giúp lời cầu cho Thày được trung thành tới cùng.

Cuộc hành quyết Thày Anrê được thi hành bằng mấy nhát lao đâm thấu cạnh sườn bên trái, và sau cùng khi một người lính sắp dùng đao chém đầu, Thày lớn tiếng kêu "Giêsu."

Cho tới hơi thở cuối cùng, Thầy Anrê đã chứng tỏ lòng kiên trong việc chấp nhận dâng hiến tế cuộc sống vì lòng tin yêu Chúa Kitô.

Thầy Anrê Phú Yên được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II phong Chân Phước ngày 5 tháng 3 năm 2000 tại  Công Trường Thánh Phêrô, Vatican

  Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

THEO DẤU CHÂN NGƯỜI...

Cosma Hoàng Văn Đạt. SJ

 

Tôi có người quen ở tỉnh Phú Yên, nên một hôm ghé thăm. Dịp ấy, tôi được biết mình đang ở ngay trên quê hương của thầy giảng Anrê Phú Yên, nay là địa sở (tức giáo xứ) Mằng Lăng, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Tôi mượn cha sở được cuốn “ Người Chứng Thứ Nhất” của Phạm Đình Khiêm, và ngay tại hành lang nhà thờ Mằng Lăng hôm ấy, khuôn mặt thiên thần của một người trẻ có chỗ đứng đặc biệt trong lịch sử Hội Thánh Việt Nam đã làm tâm hồn tôi rung động sâu xa. Trong nhà thờ, trước Chúa Giêsu Thánh Thể, tôi đọc bài văn “ Anrê Phú Yên” của Trăng Thập Tự mà thấy lòng mình như chìm trong đại dương thần linh vô tận.

Hôm sau, tôi đi thăm xóm Lò Giấy, cách nhà thờ Mằng Lăng chừng 2 Km, nơi chôn nhau cắt rốn của thầy giảng Anrê Phú Yên. Đây là một xóm nghèo, hiện chỉ còn chưa tới 10 gia đình công giáo. Xưa kia xóm này có một ngôi nhà thờ nhỏ, nhưng hiện nay chỉ còn cái nền gạch dùng làm sân phơi lúa. Tối đến, ngồi bên bờ sông Kỳ Lộ, con sông ngăn cách nhà thờ Mằng Lăng với xóm Lò Giấy, tôi hồi tưởng lại một con người, một cuộc đời, một thanh niên, một giáo lý viên, một nhân chứng của Đức Kitô vào thời khai sinh Hội Thánh Việt Nam.

1. KHÔNG AI CÓ TÌNH YÊU LỚN HƠN

Thời điểm ân phúc trọng đại đến với anh vào tháng 7 năm 1644, tại Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng hiện nay. Hôm ấy, anh đang ở trụ sở các Cha Dòng Tên tại Hội An. Cha Đắc Lộ cũng như các thầy giảng khác đang đi làm việc tông đồ, chỉ còn lại anh ở nhà giúp mấy anh em khác đau yếu. Lính tìm thầy Inhaxu không được nên tức giận thu hết ảnh tượng, đập phá hết nhà cửa, rồi trói anh dẫn đi. Cha Đắc Lộ kể: “Anrê bị điệu đi tới quan trấn, bị tố cáo là giáo dân và thầy giảng. Rồi họ dẫn thầy vào ngục, nơi đã có một chứng nhân khác cũng tên là Anrê. Cả hai thức suốt đêm, coi như đêm cuối cùng đời mình, an ủi nhau, tin tưởng vào ngày mai cả hai sẽ về thiên quốc.” Ngay hôm sau, quan tổng trấn kết án tử hình cả hai. Cha Đắc Lộ vận động tất cả mọi người Bồ Đào Nha ở Hội An đến xin quan trấn khoan hồng. Người kia được tha, vì có con cháu. riêng anh “sẽ phải chết như đã xin, để dạy cho mọi người biết vâng lệnh Chúa.” Chúa đây là chúa Nguyễn ở Huế. Chiều ngày 26/07/1644, anh được dẫn đến pháp trường Gò Xử. Cha Đắc Lộ kể tiếp: “ Tới nơi toàn thắng, thầy quỳ xuống cầu nguyện để chiến đấu cho can đảm hơn. Lính gác chung quanh. Họ không cho tôi ở bên trong vòng lính, nhưng viên đội trưởng cho phép tôi vào, và đứng cạnh thầy. Thầy vẫn quỳ dưới đất, mắt nhìn lên trời, miệng luôn hé mở và đọc tên Chúa Giêsu.” Được lệnh, một người lính lấy giáo đâm anh từ phía lưng, thâu qua ngực chừng hai bàn tay. Anh đưa mắt trìu mến nhìn cha Đắc Lộ để vĩnh biệt. Cha nói anh hãy nhìn lên trời là nơi anh sắp tới và có Chúa Giêsu đón tiếp. Anh ngước mắt lên cao và không nhìn xuống nữa. Cũng tên lính lấy giáo đâm anh lần thứ nhì, rồi lần thứ ba, như thể muốn tìm trái tim anh. Điều kỳ lạ là anh vẫn quỳ chứ không ngã. Cuối cùng, lính phải lấy mã tấu chém hai nhát, đầu anh lìa khỏi cổ, xác anh ngã gục, hồn anh đến với Chúa. Cha Đắc Lộ đưa xác anh về Áo Môn, còn đầu anh về Rôma. Năm ấy anh 19 tuổi.

2. NƯỚC TRỜI NHƯ HẠT CẢI

Dưới ánh trăng vằng vặc, tôi nhìn dòng sông Kỳ Lộ hiền hòa lấp lánh, núi Aman và núi Sơn Chà đơn sơ mà bí ẩn, rồi những lùm tre, những mái tranh, những con thuyền nhỏ ( ở đây gọi là sõng). Quê hương của anh thật xinh đẹp và dễ thương. Một nhóm thanh niên nam nữ ngồi trên bãi cát cùng nhau hát rồi cười đùa, sau một ngày lam lũ. Tôi bắt gặp đâu đây hình ảnh của anh hơn 300 năm trước.

Vào thế kỷ XVII, bước chân nam tiến của dòng giống Lạc Hồng mới đến Đèo Cả. Phú Yên là tiền đồn phía nam của tổ quốc. Dinh Trấn lúc ấy đóng ở bờ sông Kỳ Lộ, gần cửa biển Tiên Châu. Hẳn là ông bà hoặc cha mẹ anh đến lập nghiệp tại vùng đất mới này, để nơi đây trở thành quê hương anh. Và Phú Yên trở thành tên anh. Năm 1641, cha Đắc Lộ, vị thừa sai kiệt xuất tại Việt Nam, đã từ  Bình Định đến cửa biển Tiên Châu, theo sông Kỳ Lộ vào dinh trấn Phú Yên để giúp đỡ các bổn đạo mới đến đây lập nghiệp. Năm ấy, anh 16 tuổi. Cuộc gặp gỡ giữa cha và anh diễn ra thế nào không ai biết rõ. Nhưng chúng ta có thể chắc rằng đó là cuộc gặp gỡ giữa một sứ giả của trời và một tâm hồn luôn hướng lên trời cao. Có lẽ ngày xưa Chúa Giêsu cũng gặp thánh Gioan như vậy. Chuyện xảy ra 3 năm sau đó hơi khác: một đàng là thánh Gioan đứng dưới chân thánh giá, hiệp thông với Chúa Giêsu trong những giờ phút cuối, một đàng là cha Đắc Lộ chứng kiến và khích lệ người môn đệ yêu dấu của mình để làm chứng cho đức tin. Gò Xử ở Quảng Nam mở đầu cho vô số những Đồi Sọ mới trên đất Việt.

Cha Đắc Lộ đến Hội An từ năm 1624. Ba năm sau, cha trở thành người đặt móng cho Hội Thánh Đàng Ngoài. Noi gương Hội Thánh Nhật Bản, khi đến Hội An khởi đầu công cuộc truyền giáo tại Việt Nam năm 1615, cha Phanxicô Buzomi mời gọi một số giáo dân nhiệt thành cộng tác vào việc phục vụ cộng đoàn cũng như công cuộc truyền giáo. Ở Đàng Ngoài, tại Thăng Long. Cha Đắc Lộ tiến thêm một bước là tổ chức Hội Thầy Giảng. Cha mời gọi một số thanh niên độc thân nhiệt thành và có uy tín, huấn luyện họ làm giáo lý viên, cho họ sống chung với cha, cho họ tuyên khấn công khai trước mặt giáo dân . Khi không có các thừa sai, chính các thầy giảng lãnh đạo cộng đoàn, nhờ đó sinh hoạt không bị đình trệ, việc truyền giáo mở rộng, và khi bị bách hại, các tín hữu vẫn có được những điểm tựa tinh thần. Thành công ở Thăng Long, khi trở lại Hội An, cha lập Hội Thầy Giảng Đàng Trong. Lúc ấy, Hội An là một thương cảng quốc tế , nơi tàu bè các nước, đặc biệt là Trung Hoa, Nhật Bản và Bồ Đào Nha, ra vào buôn bán tấp nập. Các cha Dòng Tên đặt trụ sở truyền giáo tại đây, nên Hội An cũng là “ nhà chung” của các thầy giảng.

3. DÙ MƯA RƠI HAY BÃO TỚI

Cha Đắc Lộ đến dinh trấn Phú Yên lần đầu, có thể thầy giảng Anrê Phú Yên chỉ là một thiếu niên như bao thiếu niên khác ở miền quê. Những mảnh ruộng nhỏ, những chiếc sõng nhỏ, hai con núi nhỏ là nơi anh cuốc đất gieo lúa, bắt tôm bắt cá, kiếm củi kiếm than. Được rửa tội, anh mang tên thánh Anrê. Ở nhà hoặc trong giấy tờ anh tên là gì, không ai biết nữa. Thật là tiếc, nhưng cũng hay. Ngày nay, anh được mọi người gọi bằng tên thánh bổn mạng ghép với tên xứ sở. Anh  đã trở thành  linh thiêng, không ai gọi bằng tên riêng nữa. Năm 17 tuổi, anh lìa bỏ gia đình và quê quán, theo cha Đắc Lộ vào Hội An, gia nhập Hội Thầy Giảng. Trong hai năm ở đây, anh đã làm gì ? Chắc cũng như mọi thầy giảng khác, anh được huấn luyện về nghề nghiệp và về giáo lý, đặc biệt là đời sống đức hạnh và phục vụ. Năm 18 tuổi, anh khấn hứa công khai. Vì còn nhỏ có thể đóng vai trò phụ thuộc. Điều quan trọng là, như Chúa Giêsu, anh ngày càng lớn lên, thêm khôn ngoan, được Thiên Chúa và mọi người thương mến.

Đứng đầu nhóm thầy giảng ở Hội An là thầy Inhaxu. Đây là một tông đồ nhiệt thành và hữu hiệu. Tuy nhiên, có một người rất ghét thầy, đó là một phụ nữ gọi là Tống Thị. Bà là vợ nhỏ của Vương Tử Kỳ, con chúa Sãi và làm trấn thủ Quảng Nam. Năm 1631, Vương Tử Kỳ chết, rồi năm 1635, chúa Sãi cũng qua đời. Em của Vương Tử Kỳ kế vị cha, gọi là chúa Thượng. Tống thị ra vào với chúa Thượng như vợ chồng, làm nhiều người gai mắt, trong đó có thầy Inhaxu. Cha Đắc Lộ kể: “ Vào tháng 7 năm 1644, quan trấn tỉnh Phú Yên từ phủ chúa về, đem theo sắc lệnh, không phải của chúa, vì chúa vẫn tỏ thịnh tình với tôi, nhưng của bà chúa xưa nay vốn ghét đạo, như tôi đã nói, và nhất là bà thề sẽ hãm hại thầy Inhaxu. Quan trấn này tự nhận công việc, vì hợp ý xấu đã có từ lâu.”

Một lần có dịp đến Hội An, tôi đã tìm đến nơi xưa kia anh đã sống hai năm cuối đời. Dĩ nhiên, trụ sở của các cha Dòng Tên hồi đó, cũng như chính ngôi nhà thờ đầu tiên của Việt Nam, không còn lại dấu vết nào. Hiện nay, đó là một lò giết mổ heo trên đường Cửa Đại. Theo quốc lộ 1 từ Điện Bàn về phía nam chừng mấy cây số, tôi đến nơi xưa kia là Gò Xử. Không một dấu tích gì. Trở lại xóm Lò Giấy, không ai còn nhớ đâu là căn nhà đã đón anh vào đời. Chẳng những không ai nhớ tên anh, cũng chẳng ai biết cao hay thấp, béo hay gầy, vui nhộn hay trầm lặng. Gần như anh không còn là một con người bằng xương bằng thịt. Anh đã trở thành một lời chứng. Thác là thể phách, còn là tinh anh. Vào đầu năm 1994, khi có dịp đi qua Gò Xử, tôi dừng lại một quán nước bên đường, nhìn vào nơi anh đã hy sinh. Tôi thấy rõ anh vẫn quỳ dưới đất, mắt hướng lên trời cao, miệng kêu tên Chúa Giêsu: ít là trong lòng tôi.

4. TÂM HỒN LỚN TRONG VÓC DÁNG NHỎ

Thấy người nằm đó biết sau thế nào? Kiều đã tự hỏi như vậy trước mộ Đạm Tiên. Sau khi chứng kiến thầy giảng Anrê Phú Yên hiến dâng mạng sống cho Đấng đã hiến dâng mạng sống cho mình, cha Đắc Lộ nói với mọi người: “ Tôi hết sức mong đợi mọi người trên thế giới được biết người đầy tớ tuyệt diệu của Chúa, để thúc đẩy họ nhận biết và yêu mến Đấng bạn trẻ này đã yêu mến đến chịu chết vì Người.”

Tôi nhớ đến anh, một người trẻ gắn liền với việc theo Chúa với việc phục vụ Hội Thánh. Anh không nghĩ theo Chúa chỉ để được lợi lộc đời này hay hạnh phúc đời sau. Gương của cha Đắc Lộ và các thầy giảng khiến anh bước theo Chúa Giêsu, dấn thân với Chúa. Những người chưa biết Chúa, hoặc chưa biết Chúa đủ, đang bao vây anh. Anh không thể đến với Chúa một mình, vì anh chắc sẽ bị Chúa hỏi, như đã hỏi Cain: “Em con đâu?”

Tôi nhớ đến anh, một thiếu niên thôn quê, chắc là ít học và cả đến ngây ngô. Cha Đắc Lộ là một giáo sư thần học. Một số thầy giảng từng là tiến sĩ, cử nhân. Anh không có gì đáng kể, đáng khoe. Nhưng ai cũng có gì để đóng góp. Mặt trời chiếu sáng ban ngày hay mặt trăng chiếu sáng ban đêm. Vào những đêm không trăng, những ngôi sao nhỏ lấp lánh cũng tô điểm bầu trời. Và ngay cả một ngọn đèn dầu dưới một mái tranh cũng có thể dẫn đường cho lữ khách.

Tôi nhớ đến anh, ngay hôm bị bắt, không đi làm tông đồ, nhưng ở nhà săn sóc mấy thầy giảng bị bệnh. Trong chương trình cứu độ bao trùm cả không và thời gian, mỗi người chỉ đóng một vai trò rất nhỏ. Riêng anh chấp nhận làm những việc được trao, những việc vừa sức, trong vai trò của người đàn em, người phụ tá. Anh như một bông hoa nhỏ trước bàn thờ Chúa, vào mỗi ngày thường. Anh như một đóa hoa 10 giờ, mọc đâu cũng được, ai hái cũng được. Thế mà cuộc sống hằng ngày của muôn vàn người rất cần đến những cây kim sợi chỉ.

Tôi nhớ đến anh, người thắp lên một ngọn đèn, chứ không ngồi yên nguyền rủa bóng tối. Tống thị và quan trấn Quảng Nam thời nào chẳng có? Anh không xuống đường la hét, cũng không đóng cửa rên rỉ. Anh nhập đoàn với Hội Thánh, với Hội Thầy Giảng, làm một tia sáng, làm một hạt muối, để mặt đất tươi đẹp hơn, đáng sống hơn. Một rừng cây ngày đêm lớn lên mà không gây một tiếng động nhỏ. Cuộc đời luôn dư thừa những tiếng kêu la than vãn, chỉ thiếu những người âm thầm đem lại bình an và niềm vui.

Tôi nhớ đến anh, một người trẻ vui khi bị bắt, vui khi bị hành hình. Anh không phải là một triết gia lạnh lùng trước sự sống và cái chết. Anh có một niềm hy vọng. Khi theo đạo, anh bước theo Đức Giêsu. Khi nhập Hội Thầy Giảng, anh muốn trở thành cộng sự viên của Chúa. Khi tử đạo, anh hân hoan thấy mình nên giống Chúa trên thánh giá. Đức Kitô đã phục sinh : đó là hy vọng duy nhất của anh. Anh vui vì tìm được niềm hy vọng. Anh vui hơn vì dấn thân với niềm hy vọng. Anh vui nhất khi đạt được niềm hy vọng. Anh trở thành chứng nhân của niềm hy vọng.

Những lời cuối cùng từ miệng anh, từ lòng anh, là Chúa Giêsu. Tôi hiểu hết. Đó là trái tim của anh.

Nhìn mọi sự nhạt nhòa đi, tôi thấy anh nổi bật, ít là trong lòng tôi, giữa những người trẻ đã bước theo Đức Giêsu đến cùng: Tôma Thiện, Anrê Trông, Giuse Tuân... Và cả những Luy Gonzaga, những Têrêsa Hài Đồng nữa. Tôi nhớ đến Hội Thánh Việt Nam, đến đất nước Việt Nam của hai câu mở đầu bài văn Anrê Phú Yên :

   Cây lành sinh trái ngọt

   Đất thánh trổ người hiền.

Và một ý trong ca khúc “Anrê Phú Yên” của Trương Đình Hiền :

  Sống chứng nhân tình yêu

  Chết lễ dâng toàn thiêu.

Anh đã vào trong ký ức ngàn đời của Hội Thánh

  Trở về mục lục >>

š¶›

Anrê Phú yên:

ngưỜi trẺ trưỚC nhỮng thách đỐ CHO tương lai cuỘc đỜi

Lm. F.X. Huỳnh Tấn Hải

Sau gần bốn thế kỷ, ánh sáng của một vì sao đã chiếu đến mặt địa cầu: Anrê Phú Yên được tôn phong chân phước!

Tiểu sử đời anh không ai biết gì hơn ngoài chứng từ của cha Đắc Lộ. Vị thừa sai nầy đã đưa anh vào đời sống niềm tin Kitô và cũng chính vị thừa sai nầy đã chứng kiến anh chết cách anh dũng vì niềm tin. Đọc bài tường thuật của cha Đắc Lộ ghi lại cuộc tử đạo của Anrê Phú Yên, không ai không thán phục lòng can đảm và đức tin sắt đá của anh. Khi bị hành quyết, anh mới 19 tuổi và mới chỉ sống niềm tin Kitô chưa tròn 4 năm.

Ở buổi tinh sương của Tin Mừng trên quê hương Việt Nam, làm sao một tân tòng như anh có thể lấy một lựa chọn dứt khoát sống sứ điệp Tin Mừng và kiên trì trung thành với lựa chọn nầy, bất chấp cả cái chết? Người ta nghĩ ngay đến phép lạ. Phải, tử đạo là ơn ban đặc biệt, và Giáo Hội xem cái chết vì đạo tự nó là một phép lạ. Tuy nhiên con đường dẫn đến cái chết đó vị tử đạo phải lần mò với tất cả cố gắng hy sinh của một đời người.

Trước khi máu của Anrê Phú Yên đổ ra trên mảnh đất quê hương làm trổ sinh hoa quả đức tin thì hạt mầm đức tin đã tìm được mãnh đất tốt nơi tâm hồn anh rồi. Cuộc đời anh được hai điều may mắn: Một người mẹ đạo đức và một vị Thầy uyên thâm. Chúng ta biết rất ít về cuộc đời của Bà Gioanna, mẹ anh Anrê Phú Yên, nhưng chỉ hai chi tiết nhỏ cũng đủ nói lên tất cả cuộc đời của người mẹ nầy. Tuy chồng bà chết sớm nhưng các con cái đã được bà giáo dục tốt với tất cả lòng tận tụy và khôn ngoan. Bà đã không để cho con tim có khuynh hướng ích kỷ của một người Mẹ ngăn cản lòng quảng đại đạo đức. Chính bà đã trực tiếp xin cha Đắc Lộ cho Anrê là đứa con út mới 15 tuổi, được theo làm môn đệ cha.

Riêng về cha Đắc Lộ, cuộc đời và sự nghiệp của Cha đã gắn liền với lịch sử Việt nam. Trong lãnh vực loan Tin Mừng, mãi đến ngày nay Giáo Hội vẫn còn phải loay hoay tìm một đáp số cho cuộc gặp gỡ giữa sứ điệp Tin Mừng và văn hóa các dân tộc, mà khoa thần học thường gọi là tiến trình “hội nhập văn hóa” (inculturation), thì gần 4 thế kỷ trước đây, cha Đắc Lộ đã có trực giác nhạy bén – nếu không muốn nói là ân huệ lạ lùng – tìm thấy đáp số cho cuộc gặp gỡ nầy trên quê hương Việt nam. Khi nói đến điều nầy, người ta nghĩ đến chữ Quốc ngữ đã được thành hình do công lao đóng góp lớn của cha, đến ‘Nhà Đức Chúa Trời” hay còn gọi là Hội Thầy Giảng do cha thành lập như một sáng kiến độc đáo thích nghi việc loan Tin Mừng trong bối cảnh xã hội khó khăn. Nhưng đáp số đầu tiên và chính xác nhất của tiến trình hội nhập văn hóa nơi mãnh đất Việt Nam là cuộc sống và cái chết của Anrê Phú Yên, Người Chứng Thứ Nhất của Giáo Hội tại Việt Nam.

Khi còn sống với mẹ, Anrê Phú Yên đã được hấp thụ một nếp sống gia đình Việt Nam đạo đức. Khi theo cha Đắc Lộ, thay vì dạy thiên văn và toán học Tây phương, vị thừa sai nầy đã cho các môn sinh của mình học nền lễ giáo Á đông. Trước khi hiểu và sống đạo làm con Thiên Chúa, Anrê Phú Yên đã am hiểu đạo làm người theo nền lễ giáo đó. Nền lễ giáo xây dựng trên chữ “Nhân” (nhân sinh chi đạo), bao gồm các đức tính khác như lễ, nghĩa, trí tín. Trong sách Luận Ngữ, ở đầu chương Tử Hãn, Khổng Tử dạy: không đem chữ nhân nói chung với chữ lợi và chữ mệnh (Tử hãn ngôn lợi dữ mệnh, dữ nhân). Nhân thì không nghĩ đến lợi cho riêng mình. Nhân thì không bị trói buộc vì chữ mệnh, nghĩa là không phải bận tâm sống chết, may rủi. Đạo nhân nầy đã giúp cho anh Anrê có những đức tính nhân bản cần thiết để sống và chết cho niềm tin. Hai đức tính nhân bản nổi bậc nơi anh là lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm.

Tuy chứng từ ghi lại là bà quả phụ Gioanna đã xin cha Đắc Lộ cho cậu út của bà đi theo cha làm môn đệ, nhưng hẳn chính Anrê cũng ước mong điều đó, đúng hơn, chính anh đã thủ thỉ nhờ mẹ xin hộ cho anh. Ở vào thời của Anrê, sức mạnh và vẻ hào nhoáng của thực dân chưa có. Tình nguyện theo vị thừa sai không hy vọng có một cơ hội tiến thân nào, ngược lại chỉ gặp khó khăn, chống đối. Phải có những phút gằng co giữa cuộc sống an thân của một đứa con trai út bên người mẹ góa và bước phiêu lưu với vị thừa sai. Lòng quảng đại đã giúp anh rời mái gia đình, rời người mẹ thân yêu. Nơi căn nhà nhỏ bé ở xóm Lò Giấy, Phú yên, tiếng gọi của Chúa đã thắng vượt những ràng buộc cốt nhục và Anrê Phú yên đã ra đi.

Ba năm sau, tại tỉnh Quảng Nam, niềm tin Kitô đã trở thành đối tượng bị thù ghét. Bà chúa Tống Thị, một Herodia trong xã hội Việt nam lúc bấy giờ, tìm mọi cách để triệt hạ niềm tin nầy. Theo lệnh của quan Nghè Bộ là tay sai của Tống Thị, đối tượng tiêu diệt niềm tin Kitô nhắm vào thầy giảng Ignatio. Nhưng khi quân lính ập vào nhà cha Đắc Lộ, thầy Ignatio đi vắng. Anrê Phú Yên phải đối diện với sức mạnh thù nghịch. Anh có thể trả lời một cách đơn giản : thầy Ignatio không có ở nhà. Nhưng với tất cả tinh thần trách nhiệm, anh nhận mình là Thầy giảng như Ignatio và sẵn sàng thay thế chỗ của Ignatio. Thế là anh bị bắt và cuộc hành quyết diễn ra ngay chiều hôm sau.

Lựa chọn và trung thành là những đường nét chính tạo nên dung mạo một vị tử đạo. Lựa chọn và trung thành cũng là bước đi của mọi người đeo đuổi cuộc sống niềm tin. Nhưng chính lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm là nền tảng của việc lựa chọn và trung thành.

Nhiều bạn trẻ hôm nay cảm thấy sợ hải phải lựa chọn và nhất là sợ phải trung thành với những giá trị đạo đức và niềm tin. Phải chăng họ kém quảng đại và thiếu trách nhiệm so với các thế hệ trước ? Không, nhưng có lẽ ngược lại. Chưa bao giờ như hôm nay, giới trẻ tỏ ra quan tâm đến các nhu cầu của người khác, dấn thân vào mọi sinh hoạt nhằm thăng tiến nhân phẩm. Đó là chưa kể rất nhiều bạn trẻ, khi nhìn thấy cảnh nghèo đói trên thế giới đã mơ ước tương lai sẽ tận hiến trọn cuộc đời phục vụ người nghèo.

Tuy nhiên, giới trẻ ngày nay bị lôi cuốn vào cơn lốc của thời “hậu hiện đại” rất đáng lo ngại. Thời “hậu hiện đại” không chỉ được đánh dấu bằng những tiến bộ phi thường của nền văn minh kỷ thuật, nó còn được ghi dấu bằng một tổng hợp tư tưởng tinh vi. Song song với một thế giới đổi thay quá nhanh chóng, có một lối suy nghĩ và hành động rất hấp dẫn, được gọi là “politically correct”. Đây là lối suy nghĩ và hành động vừa ảnh hưởng trên toàn cầu, vừa chi phối từng cá nhân. Trên bình diện toàn cầu, theo lối suy nghĩ và hành động “politically correct,” bây giờ không còn lằn ranh giữa bạn và thù, mọi tranh chấp, khác biệt đều có thể tìm một thỏa thuận, một hợp đồng, và mọi hợp đồng đều có thể thay đổi theo hoàn cảnh, các quốc gia phải bận tâm đến những liên đới rộng lớn hơn và các giá trị đạo đức không nhất thiết phải là những điểm đối chiếu căn bản. “politically correct,’ trên bình diện cá nhân, mỗi người hành động đặt tiêu chuẩn trên lý tưởng mình tự chọn, phù hợp và lợi ích cho hoàn cảnh thực tế.

Lối suy nghĩ và hành động nầy hấp dẫn thế hệ trẻ không chỉ vì tính cách mới mẻ - được coi như là ‘made in U.S.A” - , nhưng còn bởi những ưu tư nó đề ra. Bây giờ không còn là thời phải bận tâm đến chuyện đạo đức cá nhân, đến tương quan giữa người với người một cách riêng rẽ, nhưng là vấn đề liên đới trách nhiệm trong môi sinh, năng lượng, bình đẳng….

Thực tế, “politically correct” là con đẻ, là tổng hợp thực tiễn của chủ thuyết duy hiện sinh (existentialism hay cũng gọi là personnalism) trong triết học và nền luân lý tùy hoàn cảnh (situation ethics). Trong khi đề ra những ưu tư lớn, nó làm mờ dần tính cách vững bền của tiêu chuẩn đạo đức khách quan là lề luật, những giá trị của lễ giáo và niềm. Mất dần những đối chiếu căn bản nầy, “politically correct” dễ đưa tới thái độ thật ích kỷ, có khi vô luân mà tưởng mình hành động khôn ngoan, quảng đại và có trách nhiệm.

Điều đáng lo ngại là những nghịch lý nầy đang trở thành phổ quát nơi giới trẻ. Có những bạn trẻ hăng say lên tiéng chống lại những bất công xã hội, nhưng lại chấp nhận dễ dàng việc ăn cắp vặt hằng ngày của bạn bè cũng như của chính mình, vì coi đó là chuyện nhỏ ! Họ muốn giải quyết những vấn dề toàn cầu nhưng dễ lãnh đạm trước sự dữ đang xảy ra ngay trong nhà mình. Chưa bao giờ câu nói của nhà bác học Albert Einstein trở nên đáng quan tâm như trong thời đại nầy. Câu nói đã được ghi bên dưới di ảnh tưởng niệm cái chết oan nghiệt của hai em Melisa Rosso và Julie le jeune, tại Liège, vương quốc Bỉ, nạn nhân của căn bệnh hưởng thụ tính dục trẻ con (pedofile) : “Thế giới là nơi nguy hiển để sống, không phải vì có những người làm sự dữ, nhưng vì có những người nhìn thấy sự dữ và để nó xảy ra” (Le monde est dangereux à vivre non à cause de ceux qui font le mal, mais à cause de ceux qui regardent et laissent faire).

Nơi nào trên thế giới nhân phẩm, nhân quyền bị xúc phạm thì giới trẻ kịch liệt phản đối; nhưng những xúc phạm sự sống xảy ra nơi người bạn thân cùng sống trong cư xá hay nơi chính cuộc sống của mình thì thường dễ được làm ngơ hay bao che. Giữa tháng 11 năm 1996, người ta tìm thấy một em bé sơ sinh nặng 2 ký 7, dài 51 cm, bị đập vỡ sọ và vất vào thùng rác của khách sạn dọc xa lộ Newark, Delaware gần Nữu Ước. Điều khủng khiếp là, thủ phạm đập chết em bé sơ sinh nầy là chính cha mẹ của em. Cô Amy Grossberg, 18 tuổi, nữ sinh viên mới của trường đại học Delaware và cậu Brian Peterson cũng 18 tuổi, sinh viên mới của đại học Gettysburg, là con của hai gia đình khá giả vùng ngoại ô thành phố New Jersey. Rời gia đình vào nội trú ở khu đại học, cô cậu sống nếp sống tự do của sinh viên thời đại mới. Kết quả là cô Amy Grossberg mang thai. Chiều thứ hai ngày 11 tháng 11, hai người tìm đường đến khách sạn Comfort Inn. Tại căn phòng 220 của khách sạn, đứa con của hai người trí thức trẻ chào đời lúc 4 giời sáng ngày thứ ba 12 tháng 11. Trước khi rời khách sạn trở về đại học, hai người đập nát đầu đứa bé và vất vào thùng rác, nhanh chóng, đơn giản như vất bao giấy của miếng bánh mì sandwich điểm tâm sáng! (Tuần báo Time, 2 tháng 12 năm 1996).

Brian Peterson và Amy Grossberg: hai người trẻ bình thường như bao sinh viên khác! Đây là một trong muôn vàn trường hợp của lối suy nghĩ và hành động “politically correct” bị mất những giá trị đạo đức làm điểm đối chiếu.

Giữa một thế giới bị chao đảo trong cơn lốc hưởng thụ ích kỷ, và tự do đã trở thành nhãn hiệu độc quyền của trào lưu sống, giới trẻ vẫn còn thao thức sống quảng đại và tinh thần trách nhiệm. Nhưng cần xác tín rằng, lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm không phải là những rung cảm nhất thời, mà là những đức tính nhân bản phải tập luyện mỗi ngày. Chúng không chỉ là những suy nghĩ và hành động theo lựa chọn cá nhân phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, nhưng là suy nghĩ và hành động phù hợp với những điểm đối chiếu đạo đức khách quan.

Lựa chọn và trung thành với sứ điệp Tin Mừng là điều có thể đối với mọi bạn trẻ hôm nay, nhưng cần hai điều kiện: Thứ nhất, sứ điệp Tin Mừng có được nhìn nhận là lý tưởng cho cuộc đời không ? Susanna Tamaro, nữ văn sĩ Công giáo người Ý, trong tác phẩm “Hãy đi đến nơi con tim đưa bạn đến” (Va’ dove ti porta il cuore), khuyên các bạn trẻ một câu đầy ý nghĩa : “Chiến đấu cho một ý tưởng mà không có ý tưởng đó trong mình là một trong những điều nguy hiểm nhất người ta có thể làm” (Lottare per un’ idea senza c’ e un’ idea di sé è una delle cose più pericolose che si possa fare.). Có thể có những bạn trẻ mang danh Kitô hữu rơi vào điều nguy hiểm này hay không? Thứ hai, lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm là những thao thức của giới trẻ hôm nay, nhưng chúng có được coi là những giá trị nhân bản khách quan và vững bền hay không? và các giá trị Tin Mừng có được lấy làm những điểm đối chiếu căn bản để suy tư và hành động thể hiện lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm hay không?

Anh Anrê Phú yên đã để lại cho chúng ta một mô thức sống niềm tin, có sức vượt tháng sức ép của xã hội không thuận lợi với niềm tin nầy. Anh đã tạo cho mình một nếp sống nhân bản vững chắc. Lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm của anh đã tìm gặp một điểm tựa để thuyền đời anh neo bến. Một cuộc “hội nhập văn hóa” đã xảy ra trên cuộc sống của anh. Anh đã lựa chọn và trung thành với niềm tin Kitô. Anh đã mở lối và chỉ cách cho cuộc “hội nhập văn hóa” có thể xảy ra trên đời của các bạn trẻ Việt Nam đi sau anh. Họ cũng biết cách lựa chọn và sống niềm tin Kitô

  Trở về mục lục >>

š¶›

MẸ TÊRÊXA CALCUTTA - TIỂU SỬ VÀ CHỨNG TỪ

Trần Duy Nhiên tổng hợp

"Theo huyết thống, tôi là người Anbani. Theo quốc tịch, tôi là người Ấn Độ. Theo đức tin, tôi là một nữ tu công giáo. Theo ơn gọi, tôi thuộc về thế gian. Theo con tim, tôi hoàn toàn thuộc về Trái Tim Chúa Giêsu.”

Với dáng người nhỏ bé, nhưng với một đức tin sắt đá, Mẹ Têrêxa thành Calcutta được giao phó sứ mạng công bố tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa đối với nhân loại, đặc biệt đối với những người bần cùng nhất. “Thiên Chúa vẫn mãi yêu thương thế gian và Người sai chị em chúng ta ra đi để biểu lộ tình yêu và lòng thương cảm của Người đối với người nghèo”. Mẹ có một tâm hồn tràn đầy ánh sáng Chúa Kitô, một tâm hồn bùng cháy tình yêu đối với Ngài và bị thôi thúc bởi một mong ước duy nhất: “xoa dịu cơn khát của Chúa: khát tình yêu và khát các linh hồn”.

THỜI THƠ ẤU

Agnes Gonxha Bojaxhiu sinh ngày 26 tháng 08 năm 1910, và chịu phép rửa ngay hôm sau, tại Skopje, Macedonia. Gia đình cô thuộc cộng đồng người Anbani. Đây là một gia đình công giáo, mặc dù đa số người Anbani ở đấy theo Hồi Giáo. Thời bấy giờ, Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ cai trị đất nước. Cha cô, ông Nikola, là một doanh nhân. Ông làm chủ một công ty và một cửa hàng thực phẩm. Ông thường du hành đó đây, biết nhiều thứ tiếng và rất quan tâm đến chính trị. Ông là một thành viên của Hội Đồng người Anbani. Cùng với vợ mình là bà Drana, ông đã dạy cho Agnès những bài học bác ái đầu tiên.

Khi Agnes lên 9, năm 1919, cha cô qua đời một cách đột ngột. Bà Drana phải một mình buon ch?i h?u nuôi dạy ba người con là Aga (1904), Lazar (1907) và Gonxha (1910). Để sinh sống, bà lao động vất vả qua nghề thêu may. Dù vậy, bà vẫn dành thì giờ để giáo dục con cái. Gia đình cầu nguyện mỗi tối, đi nhà thờ hằng ngày, lần chuổi Mân Côi mỗi ngày trong suốt tháng Năm và chuyên cần tham dự các lễ kính Đức Mẹ. Họ cũng luôn quan tâm giúp đỡ những người nghèo và thiếu thốn đến gõ cửa nhà họ. Trong các kỳ nghỉ, gia đình có thói quen đến tĩnh tâm tại một nơi hành hương kính Đức Mẹ, tại Letnice.

Agnes rất thích đi nhà thờ, cô cũng thích đọc sách, cầu nguyện và ca hát. Mẹ cô tình nguyện chăm sóc một phụ nữ nghiện rượu ở gần đấy. Mỗi ngày hai lần, bà đến rửa ráy và cho người phụ nữ ấy ăn, đồng thời bà cũng chăm sóc một bà góa có 6 con. Những ngày bà không đi được, thì Agnes thay bà đi làm các việc bác ái đó. Khi bà góa qua đời, những người con của bà đến sống với bà Drana như con ruột của mình.

ƠN GỌI

Những năm trung học, cô Agnes dùng phần lớn thời gian để hoạt động trong hội Đạo Binh Đức Mẹ (Legio Mariae). Vì giỏi ngoại ngữ, cô giúp một linh mục gặp khó khăn trong ngôn ngữ, cô dạy giáo lý và đọc rất nhiều sách về các nhà thừa sai Slovenia và Croatia ở Ấn Độ. Khi lên 12, lần đầu tiên cô mong muốn dâng đời mình để làm việc Chúa, hiến trọn đời mình cho Chúa để Người quyết định. Nhưng cô phải làm sao để biết chắc chắn là Chúa có gọi cô hay không?

Cô cầu nguyện nhiều rồi tâm sự với các chị và mẹ mình. Cô cũng trình bày với vị linh mục giải tội: “Làm sao con biết chắc?” Cha trả lời: “Căn cứ trên NIỀM VUI. Nếu con cảm thấy thực sự hớn hở vui mừng với ý tưởng rằng Chúa có thể gọi con phục vụ Người và tha nhân, thì đấy là bằng chứng cho thấy rằng con có ơn gọi”. Và cha nói thêm: “Niềm vui sâu xa mà con cảm nhận là la bàn để chỉ cho con biết hướng đi của đời mình.”

Năm 18 tuổi là năm trọng đại. Cô quyết định. Hai năm trước đó, cô đã đến tĩnh