|
|
Số 85 Ngày 26-08-2006
Khi Bóng Tối Tràn Ngập Lời Chúa – Lm. Mark Link, S.J. A Friend In Need! – CVK Nguyễn Thế Bài Đức Bênêđictô XVI và Những Vấn Đề của Giáo Hội - Thế Giới - Maranatha Âu –Tinh: Một Con Ngưòi- Một Chủ Chăn- Một Vị Thánh- Trần Duy Nhiên Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J. Thi Hành Sứ Mạng Trong Tâm Buông Xả – Đỗ Trân Duy Có Nên Học Tiếng La–tinh? – Thái Ân Về Một Con Người… - Lm. Joseph Nguyễn Thái Lời Của Con Gửi Mẹ Trong Giờ Vĩnh Biệt – Duy Trinh Lá Thư Gửi Cho Thế Giới – Ẩn Danh Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả,
Trong tuần qua, tin tức báo chí truyền thông Việt ngữ hải ngoại, đặc biệt tại Nam California, đã dành nhiều trang và bút mực cho sự ra đi của một nhân vật nổi tiếng, mà theo lời mở đầu thánh lễ an táng của Ông: “Là một con người thật đặc biệt với những hoài bão lớn lao và lý tưởng cao cả, Ông đã sống một cuộc đời thật ý nghĩa và cao đẹp với biết bao đóng góp lớn lao cho xã hội, cho quê hương đất nước và đặc biệt cho cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại với tư cách là người Sáng Lập và điều hành Nhật Báo Người Việt, con chim đầu đàn trong ngành truyền thông báo chí tại hải ngoại…” Con người đó chính là Rémi Đỗ Ngọc Yến, một người hiền lành và dễ thương, một cựu huynh trưởng hướng đạo vào những năm 50, là một trong những khuôn mặt kỳ cựu của ngành du ca Việt Nam.
Theo lời những bạn bè thân cận của Ông cho biết, Ông đã đọc đến cả ngàn cuốn sách và nhớ nhiều chi tiết “như một cuốn tự điển sống” cho anh em. Mặc dù Ông đã không có bằng cấp học vị cao như nhiều nhà trí thức khác, rất ít viết bài đăng báo nhưng là một người có ý thức sâu xa về xã hội và đọc nhiều, đi nhiều nên kiến thức rất sâu rộng. Theo lời chia sẻ của một nhân viên, ông đã “Về với Chúa, anh ra đi thanh thản. Vì anh đã làm tròn bổn phận của một con người. Cám ơn anh đã chia cơm sẻ áo cho chúng tôi.” Con gái của ông đã viết về cha của mình: “Bố dạy chúng tôi rằng, trong cuộc sống, những thứ quý giá nhất không phải là vật chất, tiền tài, mà là chữ nghĩa, tinh thần, sự mẫn cảm và năng lực làm việc. Mỗi tuần, bố dắt chúng tôi đến thư viện, giảng nghĩa cho chúng tôi nhạc điệu của thơ, rồi buổi chiều cả gia đình trở về nhà, bố chơi piano cho mọi người nghe. Bạn của bố cho tôi biết bố chẳng bao giờ dùng một chữ nặng nề nào để nói về đồng nghiệp của mình. Sau nhiều năm xa cách, khi gặp lại bạn bè, bao giờ cũng vậy, bố gọi tên bạn mình một cách chính xác, nhắc lại chính xác thời điểm gặp nhau sau cùng, nhắc lại chính xác bạn mình, vào lúc ấy, mặc đồ màu gì, ăn thức ăn gì...Chúng tôi dành dụm tiền mua cho bố những bộ đồ ấm, nghiêm chỉnh để bố tham dự các buổi lễ lạc. Nhưng bao giờ cũng vậy, chẳng bao lâu sau khi bố mặc lần đầu, tôi lại thấy các bạn của bố đang mặc. Chẳng lẩn vào đâu, những chiếc áo ấy có đính ký hiệu của bố: DNY. Bố cười: “Họ cần hơn bố, con ạ!” Khi hình thức bên ngoài được cởi bỏ, bố nói với tôi, lúc ấy 'nét đẹp nội tâm sẽ được biểu lộ.'
Nhiều buổi Tưởng Niệm Nhà Báo Ðỗ Ngọc Yến đã được tổ chức ở thành phố này, ngôi chùa nọ, nhà thờ kia, ở các tiểu bang của Hoa Kỳ, nơi có người Việt sinh sống và ngay tại trên quê hương Việt Nam. Bạn bè cũ của Ông đã tưởng nhớ đến Ông, vinh danh Ông, và có nhiều huyền thoại thêu dệt về Ông. Ông đã đóng góp nhiều cho giới trẻ trong phong trào Hướng Đạo, cho phong trào Du Ca Việt Nam của những năm 1970, cho cộng đồng người Việt tại hải ngoại trong ngành truyền thông qua tờ nhật báo NGƯỜI VIỆT, để thông tin và để giữ gìn bản sắc của dân tộc tại xứ người. Nhưng có lẽ gia tài quý báu và đáng trân trọng nhất mà Ông để lại, chính là lòng tử tế độ lượng và sự cảm thông. Mặc dù khi còn sinh tiền, Ông chẳng phải là một “Churchgoer” (năng đi nhà thờ) nhưng Ông đã làm việc và hy sinh, yêu thương con người hơn cả bản thân Ông. Điều này đã thể hiện trọn vẹn trong tâm tình bài hát Kinh Hoà Bình mà Ông yêu thích. Trong các buổi lễ tưởng niệm, bạn bè, thân nhân của Ông đã hát lại bài hát của Lời Kinh Nguyện Cầu của Thánh Phanxicô Assisi, bài Shalom – bài ca Do Thái mà Ông từng hát khi chia tay trong giờ tạm biệt ngày xưa, hay lúc này đây, giây phút vĩnh biệt nhau khi Ông được gọi về cõi vĩnh hằng.
Kể về nhân vật Đỗ Ngọc Yến vừa từ giã cuộc đời này đã gây nhiều thương tiếc cho nhiều người, nhưng cũng có thể hoàn toàn xa lạ với nhiều người khác. Và cuộc sống được đan kết và phong phú hơn bởi những con người danh tiếng lẫy lừng, được nhiều người biết đến, nhưng đồng thời cuộc sống cũng tràn đầy ý nghĩa và thẳm sâu với những hy sinh chịu đựng của những con người cả đời âm thầm hy sinh cho gia đình, con cái, cho bằng hữu, quê hương, Giáo Hội với những công việc bình thường tẻ nhạt, đôi khi xem ra đến độ tầm thường. Chính những con người thầm lặng ấy cũng đã và đang xây dựng Nước Trời trong môi trường và ơn gọi của mình.
Giáo Hội đâu có thiếu, hãy xem một Maria lặng lẽ rong ruổi theo con mình là Giêsu trên đường rao giảng. Cũng nhớ đến Thánh Nữ Monica, người mẹ suốt đời chỉ khóc cho linh hồn và sự trở lại của người con yêu dấu hoang đàng trong biết bao năm trường, để rồi những giọt nước mắt ấy đã nở hoa và thành những lời kinh hạt cho cuộc đời. Kết quả hoa trái của lời kinh nguyện ấy là Tiến Sĩ Giáo Hội lừng danh Augustinô mà Giáo Hội mừng kính trong ngày 28 tháng 8 sắp đến. Maranatha xin giới thiệu dung mạo và cách ứng xử của Ngài qua vở kịch của tác giả Trẩn Duy Nhiên.
Để nhắc nhở và trân trọng từng con người trong cuộc sống, cũng xin dành vài phút tưởng nhớ Thầy Roger Schutz, vị sáng lập Phong Trào Taizé, một con người khiêm hạ, rất dễ mến đã để lại dấu ấn tuyệt vời và là gương sáng cho biết bao người trẻ. Thầy có ảnh hưởng nhất định và đã đóng góp lớn lao trong phong trào tạo sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu. Chính Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI vào buổi gặp gỡ thứ tư hàng tuần, ngày 16 tháng 8 vừa qua, trùng vào dịp giỗ đầu của Thầy Roger, đã nhắc nhớ và vinh danh Thầy như sau: “[Thầy Roger] là một chứng từ quý giá cho biết bao thế hệ của tuổi trẻ khắp nơi trên toàn thế giới.”
Bạn, bạn là ai trong cuộc sống này? Bạn là một nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng, xã hội với nhiều cống hiến? Hay bạn là một tín hữu âm thầm đang phải vất vả hàng ngày kiếm sống với những công việc nhàm chán và cuối ngày trở về mệt mỏi đến độ không còn muốn trả lời câu hỏi của một người thân? Dù bạn là ai, làm việc gì chăng nữa, thì Đức Kitô Phục Sinh vẫn ở đó, vẫn đang đồng hành với bạn. Dù cuộc đời có nhiều thử thách, thế giới vẫn hỗn loạn, bất an, chúng ta vẫn tin tưởng như lời tông đồ Phêrô thưa cùng Chúa trong Phúc Âm Chúa nhật tuần này, “Thưa thầy, bỏ thầy con biết theo ai? Thầy có lời ban sự sống đời đời.” (Ga 6: 68). Phêrô của thế kỷ 21 chúng ta đang sống là Bênêđictô XVI cũng đang làm chứng cho tấm gương theo Chúa Giêsu, và bài trả lời phỏng vấn gần đây của người kế vị Phêrô cũng cho chúng ta nhiều bài học, cũng như cho chúng ta thấy một hình ảnh một mục tử đang cố gắng tiếp bước vị tông đồ Cả xưa kia trong cuộc sống chứng tá của mình.
Chia sẻ với quý độc giả thân thương những bài viết về những con người độc đáo, cũng như những con người bình thường “tưởng không có gì để nói đến,” với ước mong và cầu nguyện cho nhau ý thức được sứ mệnh và lời mời gọi cao cả của Thiên Chúa gửi riêng cho từng người trong chúng ta. Sứ mệnh ấy là tiếp tục tiến bước với ân sủng và hành trình đức tin đã được lãnh nhận, cùng chung sức xây dựng một cuộc sống đẹp tươi hơn, khoan hoà và nhân ái hơn trong tinh thần của Đức Kitô, để tình yêu và lòng nhân ái không bao giờ tàn lụi như lời Thánh Phaolô: “Đức mến không bao giờ mất.” (1Cr.13:8), trong khi trông chờ ngày Ngài trở lại với lời khẩn cầu tha thiết... Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!
¶ CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN NĂM B - Lời Chúa : Ga 6, 54a. 60 – 69
Lm. Mark Link, S.J.
Một chiếc tàu đánh cá Xô Viết được đưa vào sửa chữa bên cạnh chiếc tàu tuần dương Hoa Kỳ tại bờ biển New England. Các quan chức Mỹ- Xô cùng ngồi trong chiếc tàu Nga bàn luận sôi nổi về kỹ thuật đánh cá ở Bắc Đại Tây Dương. Cuộc hội thảo đang tiến hành tốt đẹp thì vào đêm nọ, một sự cố bất ngờ đã đe doạ bầu khí thuận thảo giữa hai bên. Chuyện xảy ra là có một thủy thủ người Nga tên Simas Kudirka lẻn ra khỏi tàu Xô Viết, bơi khỏi mười bộ (khoảng 3m) qua bên tàu Mỹ. Kudirka nài nỉ được tỵ nạn chính trị, nhưng vị chỉ huy tàu Mỹ từ chối. Quyết định này về sau bị các thượng cấp quở trách. Còn chàng thuỷ thủ hụt hẫng ấy bị giao lại cho nhà cầm quyền Xô Viết, bị trả về Nga, sau đó bị giam vào tù. Trong thời gian ở tù, chàng đã nhiều lần tuyệt vọng. May thay giữa cơn thử thách ấy, một tù nhân khác đã dạy chàng vần thơ của thi sĩ Ruydyard Kipling người Anh. Về sau, Kudirka cho hay rằng chính những dòng thơ này đã giúp chàng đương đầu với tương lai. Một đoạn trích từ những dòng thơ ấy: “Nếu dành được chiến thắng hay gặp cơn hoạn nạn, con vẫn xử sự như nhau, Nếu điều chân thực con nói ra, lại bị những tên vô lại vu khống là gian dối hại người, mà con vẫn tỏ ra bình thản. Nếu nhìn toàn bộ sự nghiệp đời mình đang vỡ tan, mà con vẫn bình tâm nhẫn nhục xây dựng lại, bằng những phương tiện cùn lụt. Nếu con vẫn có thể dồn toàn bộ năng lực của tâm hồn, thần kinh và gân cốt, để tiếp tục sinh hoạt như bình thường, sau khi chúng gần như bại liệt… Và nếu con vẫn kiên gan bền chí, khi tất cả mọi sự đã tiêu tùng, chỉ còn lại ý chí trong con bảo con phải kiên trì… Nếu con làm được như thế, thì trái đất và mọi sự trên đó sẽ thuộc về con. Hơn thế nữa, hỡi con Ta, con sẽ là một con người đích thực.” Thỉnh thoảng, Kudirka lại nhẩm đi nhẩm lại những lời trên, dần dà chúng đem lại cho chàng một sức mạnh đáng kể giúp chàng kiên vững. Câu chuyện còn dài nhưng tôi xin rút ngắn lại Kudrika vẫn sống sót sau khi bị tù, và hiện nay anh đã được tự do. Kudirka cho rằng sở dĩ anh sống sót chính là nhờ sức mạnh tinh thần do bài thơ của Kipling đem lại. Bài thơ ấy giúp cho anh có sức mạnh để kiên trì khi nơi anh chẳng còn lại gì ngoài ý chí truyền bảo anh: hãy cứ bền gan. ********** Câu chuyện trên cho ta thấy rõ điểm trọng yếu trong bài Tin Mừng hôm nay, điểm trọng yếu đó là: Trong cuộc đời, có những lúc chúng ta dường như bị dồn vào chân tường và hầu như đang sắp sửa mất tất cả. Có những lúc chúng ta cần phải có một cái gì gíup chúng ta đừng nản chí. Chúng ta cũng thấy tâm trạng đó trong bài Tin Mừng hôm nay. Các môn đệ Chúa Giêsu cũng bị đẩy vào chân tường. Niềm tin của các ông nơi Đức Giêsu bị thử thách trầm trọng, vì trong bài giảng Ngài nói rằng Ngài sẽ hiến chính thịt Ngài cho họ ăn. Các môn đệ phản ứng lại thách đố đó bằng hai cách: Một nhóm cảm thấy không thể chấp nhận được những lời Đức Giêsu nói ấy, nên từ giã Ngài, không còn theo Ngài nữa. Nhóm còn lại thắng được cơn thử thách và vẫn trung thành với Đức Giêsu. Tại sao nhóm thứ nhất thất bại và nhóm thứ hai thành công trong cuộc thử thách ấy? Tin Mừng không trả lời câu hỏi ấy, nhưng đã ghi lại một manh mối để trả lời. Manh mối đó là: khi Chúa Giêsu hỏi nhóm thứ hai: “Các con cũng bỏ Ta chứ?” Phêrô trả lời thay cho cả nhóm: “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con biết theo ai đây? Thầy có lời ban sự sống đời đời. Và bây giờ chúng con biết và tin rằng Thầy là Đấng Thánh duy nhất từ Thiên Chúa đến”. Bị dồn vào chân tường, nhóm này biết dán mắt vào Chúa Giêsu. Những lời Đức Giêsu nói ra không hề khiến họ chao đảo. Bị dồn vào chân tường, họ vẫn tin tưởng vững chắc vào Đức Kitô, đang khi nhóm thứ nhất làm ngược lại. Họ chỉ biết chú tâm vào vấn đề của họ, thắc mắc của họ. “Sao ông này lại có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn?”. Tóm lại, họ không biết nhìn đăm đăm vào Đức Giêsu. Một đằng biết chú tâm vào Đức Giêsu, một đằng chỉ biết chú tâm vào những vấn đề của mình. Hai hình ảnh ấy cũng được diễn tả rõ ràng trong một đoạn Tin Mừng khác liên quan tới Chúa Giêsu và Thánh Phêrô: Một đêm nọ, các tông đồ đi thuyền trên hồ thì một cơn bão lớn thổi tới. Khi cơn bão mạnh đến cực điểm thì Đức Giêsu hiện ra đi trên sóng tới với họ. Các tông đồ kinh khiếp quá la lên: “Ma! Ma!” Lập tức Chúa Giêsu bảo họ: “Hãy can đảm lên! Ta đây! Đừng sợ!”. Bấy giờ Phêrô lên tiếng: “Lạy Thầy, nếu quả thực là Thầy, xin hãy ra lệnh cho con bước trên mặt nước mà đến với Thầy!”. Chúa Giêsu trả lời: “Cứ đến đi!” Thế là Phêrô bước ra khỏi thuyền và bắt đầu đi trên mặt nước đến với Chúa Giêsu. Nhưng khi thấy gió mạnh quá, ông liền kinh sợ, thế là ông bắt đầu chìm xuống nước… ông vội la to lên: “Thầy ơi, cứu con với!” Lập tức Chúa Giêsu đưa tay nắm lấy ông và nói: “Sao đức tin của con kém thế! sao con lại hồ nghi trong lòng?” (Mt 14: 26-31) Câu chuyện trên cho thấy: Bao lâu Phêrô biết vững tâm nhìn vào Chúa Giêsu, thì ông được an lành. Nhưng khi ông rời mắt khỏi Ngài và bắt đầu chỉ chú tâm lo vấn đề của riêng mình, thì lập tức ông lâm nguy hiểm ngay. Từ đó chúng ta có thể rút ra những kết luận thực tiễn: Khi gặp bão tố, chúng ta đều xử sự giống như Phêrô. Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta gặp những cơn bão tố cực kỳ nguy hiểm. Trong cuộc sống có những lúc chúng ta cảm thấy mình như muốn chìm lỉm như Phêrô. Khi gặp những cảnh như thế, chắc chắn chúng ta sẽ gặp trong tương lai, chúng ta đừng vấp phải cùng một lỗi giống như Phêrô. Chúng ta đừng chỉ biết chú ý đến cơn bão, nghĩa là chỉ biết chú tâm tới những vấn đề chúng ta. Tốt hơn, chúng ta hãy chú tâm vào Chúa Giêsu đang đứng trên thuyền và khích lệ chúng ta. Hoặc chúng ta có thể nghĩ tương tự như thế qua câu chuyện bài Phúc Âm hôm nay, tức câu chuyện Chúa Giêsu nói với các môn đệ Ngài về bí tích Thánh Thể. Trong cuộc sống sẽ có những giây phút chúng ta cũng bị thách đố bị cám dỗ từ bỏ Chúa, không theo Ngài nữa. Những lúc đó, chúng ta đừng vấp phải những lầm lỗi giống như các tông đồ ngày xưa đã vấp phải. Nghĩa là đừng chỉ lo chú tâm đến vấn đề đang xảy đến cho chúng ta, mà hãy đưa mắt nhìn vào Chúa Giêsu. Chúng ta hãy xác nhận lại niềm tin vào Ngài như Thánh Phêrô đã làm và hãy thưa với Ngài: “Lạy Chúa, Chúa có những lời ban sự sống đời đời. Chúng con tin… Ngài là Đấng Thánh duy nhất từ Thiên Chúa đến….” Trích nguoitinhuu
CVK Nguyễn Thế Bài
Có lẽ không ai mà không biết chuyện ngụ ngôn “ con gấu và hai người bạn” của La Fontaine: Thoát chết nhờ nhanh trí giả làm người chết khi bị gấu tấn công, người sống sót nầy trả lời với người bạn bất nhân đã bỏ mặc anh ta để thoát thân một mình, lại còn tò mò hỏi vì thấy có một lúc con gầu kề sát tai anh ta: “con gấu bảo với tôi: “Kẻ bỏ bạn trong cơn nguy khốn là đồ tồi, chớ nên chơi chung nữa." Chọn bạn mà chơi! Hôm nay, Chúa Giêsu thấm thía nỗi buồn, vì không chỉ những người đã nhìn thấy tỏ tường và tận hưởng phép lạ quay lưng chống đối, mà chính nhiều môn đệ cũng bỏ đi, sau khi đã buông những câu nặng nề để thanh minh cho mình, song chắc chắn khiến Chúa Giêsu càng đau lòng hơn: “Lời nầy thật chói tai, ai mà nghe cho được.” Trong cảnh cô đơn ấy, Chuá Giêsu nhìn nhóm Mười Hai vẫn quẩn quanh ở đó. Ngài sẽ chẳng ngạc nhiên nếu họ cũng âm thầm quay lưng bỏ đi. Nhưng chính trong lửa, vàng đã được thử : Chúa Giêsu cảm động biết bao (và cũng biết ơn nữa) vì lời nói chí tình và đầy ý nghĩa của Phêrô: “bỏ Thầy chúng con sẽ theo ai, vì Thầy có Lời ban sự sống đời đời.” Phêrô “ăn điểm” từ đó, vì lần nầy không phải hoàn toàn do “Cha ta trên trời đã mặc khải cho con biết,” như khi Phêrô sẽ tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, mà chủ yếu là bằng giác quan, bằng trí khôn và nhất là bằng tấm chân tình trong sáng, ngưỡng một và kính yêu, mà Phêrô đã nghe, đã thấy và đã hiểu. A friend in need, is a friend indeed (bạn trong khốn khó mới là bạn thật): câu châm ngôn của người Anh rất đúng cho hoàn cảnh nầy. Tình bạn giữa Chúa Giêsu và các môn đệ thành hình. Tình bạn giữa Đầu Của Nhiệm Thể và Thủ lãnh Giáo Hội được thiết lập. Nếu lần theo Kinh Thánh, chúng ta sẽ thấy ngay có năm tương-quan giữa Thiên Chúa và loài người, mà – nói theo ngôn ngữ điện ảnh và sân khấu - Thiên Chúa luôn luôn là người viết kịch bản, đạo diễn và đóng vai chính, đến độ chính con ngườI thụ-tạo đã phải ngạc nhiên: “Ồ, thế nhân có lạ chi mà Chúa để lòng nghĩ tới?” (Tv 8). Trước hết, đó là tương quan giữa Đấng Tạo Hóa và tạo vật: Đấng Tạo Hóa là Tất cả và Tự Hữu, trong khi tạo vật là hư vô, giữa Cái Có và Cái Không. Sự hiện hữu của loài thọ tạo hoàn toàn tùy thuộc vào ý chí và ước muốn của Đấng Tạo Hoá. Tương quan thứ hai là giữa Ông Chủ và Tôi Tớ: Ông Chủ vô cùng quyền năng, công thẳng nhưng cũng rất mực nhân ái và những người tôi tớ chỉ cậy trông vào lượng hải hà của Ông Chủ Tối Cao. Đây cũng là tương quan ban đầu giữa Thiên Chúa và dân Israel, kéo dài cho đến thời kỳ Tân Ước. Tương quan thứ ba, được nói đến khá nhiều trong Kinh Thánh Cựu Ước, nhưng thực tế lại khác xa: quan hệ Cha và con. Thiên Chúa được kể đế như Người Cha Uy Quyền, còn dân Israel, dân riêng Chúa chọn, cũng giống người con. Tất cả dân Israel là người con. Không một ai dám nghĩ một cá nhân nào trong dân là “con” trong một tương quan mật thiêt “cha – con” theo quan niệm trần thế, Vì vậy phải chờ đến mặc khải Tân Ước, con người mới khám phá rằng tất cả và mỗI một ngườI đều là con trước mặt Thiên Chúa và Thiên Chúa luôn đối xử với con người - tất cả và mỗi một cá nhân - với tình phụ tử bao lao, âu yếm, yêu thương, nhân hậu. Chúa Giêsu phải nhấn mạng rất nhiều lần, để xóa bỏ ranh giới sợ hãi, lấm la lấm lét của loài người đối với Chúa Cha, thay đổi cả hình thức mà bao đời con người nghĩ sai về Thiên Chúa, lẫn những suy nghĩ và cách sống tương quan đối với NGƯỜI CHA mà quyền năng không phải để làm con cái chết sợ hay để trừng phát con người phản bội, xấu xa, mà chỉ để “phục vụ” những thể hiện Tình Yêu và lòng Nhân Hậu Bao Dung, như việc “yêu trần gian đến nỗi đã sai Con Một của Người đến trần gian,” đã phó, mặc Con Một bị mọi khổ đau, chịu chết ê chề, chỉ để nói lên tấm lòng của Cha Trên Trời: yêu con cái loài ngườI đến vô cùng! Và hôm nay, một tương quan hết sức lạ lùng được chính Chúa Giêsu thiết lập và sẽ được Ngài địng nghĩa không thể lẫn vào đâu được: “Thầy gọi các anh là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì thầy đã cho các anh biết.” Và Người đánh tan sự hiểu lầm: “Thầy không còn gọi các anh là tôi tớ, vì tôi tớ thì chẳng biết việc chủ mình làm.” (Ga 15,15). Đây là tương-quan cuối cùng, mà có nằm mơ, loài người cũng chẳng dám nghĩ tới. Chúa Giêsu tự nguyện xóa bỏ hàng rào ngăn cách cuối cùng giữa Thiên Chúa và con người, chí ít là để từ nay, con người không còn có thể viện vào bất cứ lý do, tình huống nào, mà suy nghĩ, hành động ngược với tình bạn nầy. Biết bao triết gia, hiền nhân, biết bao sách vở nói về và viết về tình bạn. Điều mọi người đều thống nhất, ấy là một tình bạn thật sự thì rất hiếm hoi và vô cùng đáng quý. Đã có lần chúng ta kể cho nhau nghe chuyện Lưu Bình – Dương Lễ: khích tướng để bạn mình quyết chí cao và cho vợ hầu hạ giúp bạn tập trung trau dồi đèn sách để đỗ đạt cao. Tình bạn bao dung, chia sẻ, vị tha, khác với tình yêu mang tính ích kỷ và chiếm hữu. Tình bạn đòi phải chân thành, muốn điều thiện hảo nhất cho bạn mình, vì thế biết cảm thông, tha thứ, nhưng lại không thông đồng, bỏ qua những khiếm khuyết sai sót của bạn. Nhưng tình bạn cao cả nhất, đẹp đẽ nhất, vẫn là như Lời Chúa Giêsu được Ngài chứng minh bằng hành động: “không ai yêu bạn hữu, hơn kẻ hy sinh mạng sống vì bạn hữu.” Ánh mắt của Phêrô hôm nay chan chứa cảm thông, chia sẻ và yêu mến, nhất là tin tưởng, mặc kệ ai khác lung lay, do dự bất định hoặc đổi thay. Ánh mắt của Chúa Giêsu còn nói lên nhiều hơn thế: cả thế gian từ ngày tạo thiên lập địa cho đến tận thế, không ai có thể nói một câu ý nghĩa, chân thành và cảm động lòng người như là Phêrô! Chúa ơi, bài ca hôm nay con muốn mượn câu hát và điệu nhạc mà con vẫn nghe và quen hát, để thưa chuyện với Ngài: “Chúa không lầm khi Ngài dựng nên con” (Chúa Không Lầm, Kim Long). Chúa đã không lầm và sẽ không lầm đâu, vì dù trong cuộc đời, có những khi con băn khoăn do dự, có nhiều khi con có cảm tưởng lạc mất tình Ngài; có những khi chạy theo đam mê tội tình, nhưng tự đáy lòng, tự con tim và tâm trí con, con biết rằng: bỏ Chúa, con sẽ mất sự sống và rằng “Chúa biết mọi sự: Chúa biết con yêu Chúa.” (Ga 21,17b), dù thân xác và linh hồn con đã hơn một lần đi hoang. A friend in need: những khi con khốn khó, làm sao Chúa có thể bỏ con cho được, khi chính Ngài khẳng định NGÀI LÀ BẠN CON! ¶
ĐỨC BÊNÊĐICTÔ XVI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA GIÁO HỘI - THẾ GIỚI Maranatha
Một lần nữa, Đức Giáo hoàng Bênêđictô lại làm thế giới ngạc nhiên khi trả lời phỏng vấn của phóng viên của hãng truyền hình Đức DW và đài phát thanh Vatican vào ngày 13 tháng 8 vừa qua. Đây là bài trả lời phỏng vấn truyền hình thứ hai của triều đại giáo hoàng của ngài, và cuộc phỏng vấn này đã kéo dài với những câu hỏi liên quan đến nhiều vấn đề thế giới, xã hội và Giáo Hội hiện nay. Nếu “Muối cho Đời,” tác phẩm trả lời phỏng vấn của ký giả Peter Seewald đã cho thấy một hồng y Ratzinger như một thần học gia lỗi lạc, chân thành trong suy tư và lý luận về những vấn đề sâu xa đụng chạm đến niềm tin, thì bài phỏng vấn thứ hai dưới triều giáo hoàng dành cho hãng truyền hình Đức gần đây cũng đề cập đến khá nhiều vấn đề. Qua những câu trả lời ngắn gọn, người tín hữu và thế giới đã có dịp nhận ra một khuôn mặt khác của vị Giáo hoàng thế kỷ 21.
Trả lời câu hỏi đầu tiên về việc thăm quê Bavaria, về nỗi nhớ nhà của một Giáo hoàng thế nào, Đức Bênêđictô vừa bày tỏ nỗi ước mong gặp lại những con người, cảnh vật trên quê hương đã tạo nên con người của mình, vừa đồng thời hướng đến một nỗi nhớ quê cao hơn, đó là việc tìm gặp lại một Thiên Chúa mà người ta đã từ lâu đánh mất. Thiên Chúa ngày nay đối với con người trong thế kỷ 21 thường rất chung chung, là một vị thần thánh cao siêu nào đó, không hiện hữu hoặc cụ thể tác động đến con người mình. Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh đến việc gặp gỡ lại một Thiên Chúa mang khuôn mặt con người cụ thể. Đó cũng là bài học cho người tín hữu Công giáo chúng ta, trong cuộc sống và hành trình đức tin, chúng ta cần phải có một sự gặp gỡ thực sự với Chúa Giêsu Kitô. Chính Chúa Giêsu sẽ là khởi điểm cho chúng ta gặp gỡ người khác, từ gia đình đến liên hệ giữa các dân tộc.
Tình hình trên thế giới hiện nay cho thấy một xã hội trần tục hóa, vắng bóng người đi nhà thờ, ít người theo đạo, và dường như vắng bóng Thiên Chúa trong bình diện xã hội, vì theo lời Đức Giáo hoàng, người ta đã uống nước từ một nguồn khác, từ các bình nước đã rót sẵn do con người không có niềm tin Kitô giáo chuẩn bị. Việc tìm kiếm Thiên Chúa do đó càng khó khăn hơn. Đặc biệt tại Tây phương, Thiên Chúa gần như bị con người đối xử cách rất hờ hững. Nhưng điều đặc biệt là tuy Tây phương bị ảnh hưởng bởi các tôn giáo Đông phương, nhưng chính những nền đạo đức Đông phương lại hết sức ngỡ ngàng vì thái độ thờ ơ này. Do đó, việc tìm kiếm một cái gì cao hơn, sâu hơn lại là chuẩn mực để chuẩn bị cho niềm tin. Đức tin do đó là một điều gì đó rất đẹp và đáp ứng cho những nhu cầu của xã hội con người.
Khi trả lời đề cập đến người trẻ, Đức Giáo hoàng đã có một nhận xét rằng người trẻ ngày nay quảng đại, dấn thân và mong muốn gặp gỡ nhau để cùng thực hiện những điều tốt đẹp. Ngài cũng khuyên họ tiếp tục dấn thân làm điều tốt lành. Ngài cho rằng tuy họ quảng đại, nhưng lại sợ cam kết lâu dài trong một đời sống gia đình hoặc dấn thân trong ơn gọi tu trì. Thực ra, nhận xét này này có lẽ khá mâu thuẫn, vì nếu thực tâm quảng đại, con người sẽ dễ dàng cam kết hơn. Tuổi trẻ có thể dễ bồng bột, nhưng nếu được hướng dẫn đúng với tình nhân ái quảng đại, người trẻ có thể sẵn sàng cam kết lâu dài mà không sợ hãi. Về mặt tâm lý thì khi còn sợ bị tổn thương, người ta chưa thể quảng đại đủ. Chính vì thế mà người ta có thể dễ nhận lãnh hơn là cho đi, trao tặng; và qua đó người trẻ phát triển thái độ tâm lý sống hưởng thụ chứ không phải cống hiến. Những hình ảnh của một xã hội tiêu thụ trong những nước giàu có hay cả những nước nghèo trên thế giới cho chúng ta thấy điều này.
Đức Giáo hoàng cũng phát biểu rằng Giáo hội không có ảnh hưởng chính trị, cũng như không muốn có quyền lực chính trị. Ngài nhận xét rất đúng rằng: “chiến tranh hầu như không mang lại giải pháp tốt nhất cho cả hai phía: phía chiến bại hay chiến thắng cũng thế.” Tuy nhiên, nhận xét Giáo hội không có ảnh hưởng chính trị có lẽ không đúng hoàn toàn. Người Công giáo thường thờ ơ với những biến cố, sự kiện chính trị, nhưng thật ra, nếu được tận dụng, sức mạnh chính trị của Công giáo sẽ rất lớn. Hình ảnh một Giáo hội mất dần quyền lực chính trị chắc chỉ nổi bật ở phương Tây, nơi các tổ chức chính quyền và luật pháp càng lúc càng rời xa những giá trị của văn minh Kitô giáo, nên những quyết định cho hôn nhân đồng tính, ly dị, phá thai được chấp nhận dễ dàng. Ảnh hưởng của Giáo hội trên xã hội do đó càng lúc càng yếu dần. Nhưng nếu thật lòng những người tin vào Giáo hội cùng đoàn kết, tình hình chắc sẽ thay đổi.
Qua câu hỏi về quyền lãnh đạo của Giáo hoàng và quan hệ với giám mục đoàn, Đức Giáo hoàng có một cái nhìn khá lạc quan. Ngài cho rằng việc gặp gỡ giữa Ngài với các Giám mục địa phương vẫn xảy ra đều đặn. Hơn nữa, Ngài xác nhận dù không phải là một ông vua độc đoán, nhưng tư cách đại diện cho phép Ngài đại diện một sức mạnh độc lập, không bị các thế lực chính trị tác động, và do đó người tín hữu Công giáo không quá đồng hoá mình với một dân tộc, mà vượt qua được giới hạn ấy không gian ấy, để ôm trọn một thế giới đề cao sự tổng hợp nhiều dân tộc. Cũng trong tinh thần trên, thì cần phải có sự hoà hợp đại kết, và tinh thần đoàn kết này có thể bảo đảm một sự nhất quán liên tục cho các giá trị đạo đức xã hội. Ngài ý thức rằng chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa, và hình ảnh đó khẳng định con người không phải là một sản phẩm biến hoá bỗng trở nên xấu xa. Con người cần tiến hành song song trên hai bình diện: (1) bình diện dựa trên những quy chiếu luân lý quan trọng và bình diện chứng minh được sự hiện hữu của Thiên Chúa. Mà Thiên Chúa đây là một Đấng cụ thể. Nếu chúng ta khởi hành đúng hướng, thì từ nội tâm sâu xa nhất, chúng ta sẽ có thể đến gần nhau hơn và nếu chưa có biểu hiện nhanh chóng bên ngoài thì bên trong chúng ta vẫn có thể có sự thống nhất, và nếu ngày giờ của Chúa đến, chúng ta đạt được sự thống nhất bên ngoài nữa.
Khi nói về những vấn đề xã hội, chẳng hạn như hôn nhân đồng tính, các nhà quan sát và phóng viên đã nêu lên nhận xét rằng họ không nghe Đức Giáo hoàng đề cập đến vấn đề này tại Đại Hội Thế giới về Gia đình. Qua câu trả lời, Ngài đã nhấn mạnh và đưa ra những mặt tích cực của Giáo hội Công giáo. Cần cho thiên hạ biết rằng Giáo hội không phải là một mớ tín điều và cấm đoán, trái lại, đó là một chọn lựa rất tích cực. Trong Giáo hội có quá nhiều điều tích cực cần được nêu lên trước những cấm đoán. Rao truyền Nước Chúa cũng thế, trước hết phải nhấn mạnh những gì chúng ta muốn rồi mới đến những gì ta không muốn. Chẳng hạn cần nêu lên được việc người nam và nữ được tạo thành là để cho nhau (không phải là phát minh của Công giáo), rồi giết thai nhi đâu phải là chuyện lỗi phạm tính dục, mà chính ra đó là một việc sát nhân. Qua đó, ta có thể khẳng định được rằng con người luôn đòi hỏi sự tôn trọng, dù ở hoàn cảnh, địa vị nào đi nữa.
Trong các vấn đề cấp bách, Đức Thánh cha nêu lên tầm quan trọng của giáo dục. Không phải Giáo hội chỉ luôn đòi hỏi một vài vấn đề luân lý dường như xa lạ không ăn nhập gì đến con người bao nhiêu; việc giáo dục con người là rất cần thiết, và qua đó học để hiểu biết cách sống, và đối với nhau càng quan trọng hơn nhiều lần. Con người cần được giáo dục trên hai bình diện. Không chỉ đơn thuần là giáo dục kỹ thuật, dạy nghề hay kiến thức, dạy cách dùng vũ khí máy móc, cách dùng thuốc ngừa thai: nếu chỉ dạy như thế thì người ta vẫn còn dựa vào chiến tranh, dịch Siđa hay AIDS. Cần phải huấn luyện lương tâm con người. Con người không chỉ biết phá hoại mà còn phải xây dựng cuộc sống với nhau, giữa người với người, giữa tôn giáo với nhau.
Trả lời cho nhận xét Giáo hội dường như không có tương lai trên Âu châu nữa, và sẽ trở thành một vấn đề riêng tư của thiểu số người, Đức Giáo hoàng đã cho thấy Âu châu rất đáng hãnh diện, vì dù Kitô giáo bắt nguồn từ Á châu, Đạo Thiên Chúa đã phát triển gây ảnh hưởng rộng lớn về mặt trí thức và văn hoá từ Âu châu. Mặc dù ngày nay trên toàn thế giới, tiếng nói của các Giáo hội Phi châu, Á châu, Mỹ châu và Mỹ châu La-tinh đều quan trọng như nhau trong sự phát triển của lịch sử thế giới, họ vẫn gióng lên tiếng nói cần đến Âu châu. Vì thế, Âu châu không cần phải mặc cảm và tự co vào thiểu số của mình để mặc cảm đau buồn. Âu châu vẫn có thể mở rộng quan hệ và trao đổi. Ở Âu châu ngày nay có nhiều linh mục gốc Phi châu hay Ấn độ: rõ ràng là có mối quan hệ “cho và nhận” hỗ tương. Sức mạnh sẽ đến nếu chúng ta linh động mở rộng và can đảm cho đi trong tính năng động cũng như trong việc đón nhận.
Nếu thế giới ngày nay không lấy giá trị thước đo luân lý của Kitô giáo làm chuẩn mực, hoặc chỉ nhìn nhận Giáo hội làm một tiếng nói báo động cảnh báo thì theo Đức Giáo hoàng Bênêđictô, ta cần sự đối thoại giữa các văn hoá và tôn giáo. Lục địa của Phi châu, tinh thần Phi châu và Á châu đều hoảng sợ khi thấy một Âu châu lạnh lùng do quá lý trí. Đức tin Kitô giáo không phải là một bước cản trở, nhưng chính là cầu nối cho việc đối thoại giữa các thế giới với nhau. Nói rộng ra, chúng ta cần một “tâm điểm tôn giáo” để quy chiếu, từ đó phát sinh cũng như là quy tụ những người muốn mở ra một mối quan hệ. Phải thấy được Thiên Chúa trong sự hoà hợp của lý trí. Theo Đức Giáo hoàng, người Công giáo có một bổn phận quan trọng, đó là cho thế giới biết rằng Lời mà chúng ta có, không phải là một món hàng bỏ đi của lịch sử, nhưng đó chính là “điều” mà thế giới đang cần đến.
Hai vấn đề quan trọng khác mà Đức Giáo hoàng đề cập đến trong bài phỏng vấn là vai trò của phụ nữ và việc phong thánh. Về người phụ nữ, Đức Giáo hoàng khẳng định lại việc không phong chức linh mục cho phụ nữ. Ngài nêu lên một vài nhân vật trong lịch sử Giáo hội như Hildegard Bingen, Catherine Siena và Brigit của Thuỵ Điển. Tuy họ không là linh mục, nhưng cũng đã đối đáp phản đối kịch liệt các giám mục và Giáo hoàng. Vì thế, dù giáo luật không cho phép người không có thánh chức quyết định các vấn đề mang tính ràng buộc, nhưng họ vẫn có thể sử dụng “sức mạnh tâm linh” của mình để đóng góp và xây dựng Giáo Hội. Và trên hết, các phụ nữ cần noi gương Mẹ Maria và Maria Mađalêna. Câu trả lời này của Đức Giáo hoàng chắc hẳn làm cho nhiều người, đặc biệt các thần học gia muốn đề cao vai trò của phụ nữ không hài lòng, cũng như niềm hy vọng vào một thay đổi về sứ vụ linh mục trong tương lai gần chắc không thể xảy ra. Về việc phong thánh, Đức Giáo hoàng cũng tế nhị cho biết cần chọn lọc để có những nhân vật tiêu biểu hơn, vì có thể một vị thánh của Guatemala có lẽ không làm cho người dân Đức quan tâm bao nhiêu, cũng như một người từ thành phố Altotting của xứ Bavaria cũng chẳng gây chú ý bao nhiêu cho những người ở Los Angeles. Vì thế, việc tiến hành phong thánh cũng được tản quyền cho Giáo hội địa phương. Hội đồng Giám mục địa phương có trách nhiệm nêu lên những người đã để lại dấu ấn và ảnh hưởng tâm linh sâu đậm cho các tín hữu, nhưng cũng không cần nhiều vị quá. Vả lại, cần làm mọi phương cách để phổ biến đức tin cho giáo hữu: dạy giáo lý, rao giảng, và cả phim ảnh. Phim ảnh không chỉ toàn là những điều xấu xa, nhưng còn có thể sử dụng để mô tả những nhân vật mà cuộc đời họ nổi bật và gây được cảm hứng thiêng liêng tốt lành. Giáo hội cần nhiều phim ảnh như thế.
Bài phỏng vấn còn đề cập đến nhiều vấn đề rất riêng tư, mang tính con người như nói về sự cô đơn của Giáo hoàng, tuổi già tác động đến công tác, đi mục vụ các nước, cũng như những biến cố mới trong Giáo hội do có nhiều người quan tâm đến đạo, tính vui vẻ và thái độ bộc phát, bộc trực của Đức Giáo hoàng. Đức Giáo hoàng trả lời từng điểm một trong tinh thần hiền hoà, khiêm tốn và vui vẻ. Để trả lời cho nhận xét rằng Đức Giáo hoàng Bênêđictô khác với hồng y Ratzinger, Ngài đã vui vẻ cho một cái nhìn so sánh giữa hai con người, cũng như khẳng định rằng nhân cách căn bản của ngài cũng như tầm nhìn của Ngài có phát triển, nhưng những yếu tố căn bản nền tảng vẫn giữ nguyên, không thay đổi. Ngài còn bày tỏ niềm vui vì thấy một số tính cách của Ngài trước đây không được nhìn nhận, nay càng tỏ lộ rõ ràng hơn.
Câu hỏi sau cùng liên quan đến công việc của Giáo hoàng, và phóng viên qua suy diễn dựa trên những trả lời trước đó, cho rằng Ngài thích công việc Giáo hoàng, và coi đó không phải là gánh nặng, Đức Bênêđictô đã trả lời thẳng thắn, “Nói thế thì cũng hơi quá, vì thật sự công việc thì cũng nặng nhọc. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, tôi cũng cố tìm gặp niềm vui ở đây.”
Không biết Đức Giáo hoàng nói niềm vui ở đây là trả lời phỏng vấn, hay là công việc ở Rôma, nhưng qua bài trả lời phỏng vấn, một lần nữa chúng ta thấy các Giáo hoàng từ giữa sau của thế kỷ XX đã để lại dấu ấn của sự dễ mến, gần gũi với tín hữu nói riêng, và thế giới nói chung. Bắt đầu với một Gioan XXIII xuất phát từ người nghèo, sống nghèo và chết nghèo; vị Giáo hoàng đã mở cửa cho Thần Linh Chúa thổi vào các cung điện và tâm hồn các tín hữu, đến một Phaolô VI ra khỏi cung cấm Vatican để viếng thăm mục vụ đến tín hữu toàn thế giới; đến Gioan Phaolô I và nhất là Gioan Phaolô II đã thực sự làm cách mạng với những chuyến viếng thăm các quốc gia Hồi giáo, Thánh địa Giê-ru-sa-lem; và bây giờ là một Bênêđictô XVI với những bước đi diệu kỳ, chúng ta tiếp tục nhìn thấy sự quan phòng của Thiên Chúa. Chắc hẳn còn nhiều điều cần bàn cãi, cũng như còn những vấn đề chưa giải quyết được trọn vẹn, cũng như có khi phải lên tiếng như người con trong gia đình trước công việc chung của căn nhà Giáo hội, nhưng người tín hữu Công giáo vừa tin tưởng, vừa tiếp tục cầu nguyện và sống rao truyền bằng gương sáng, hành động và lời nói dựa trên Lời Chúa để cho Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Và cũng đừng quên cầu nguyện cho người Cha chung và những người con trong một Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền ¶
ÂU TINH: MỘT CON NGƯỜI - MỘT CHỦ CHĂN - MỘT VỊ THÁNH
Trần Duy Nhiên NHÂN VẬT
AUG : ÂU-TINH (Augustine) ALY : ALYPIÔ Giám mục HON : HONORAT Giám mục BON : BONIFACIÔ Tổng trấn Phi Châu MON : MONICA POS : POSSIDIO Giám mục ANT : ANTÔN Giám mục PON : PONTICIANÔ quan Hoàng đế
Âu tinh 60 tuổi ngồi ở bàn, nhìn vào Thánh giá đặt trên bàn, ưu tư... Possidiô vào.
POS: Thưa Đức cha, con có thể gặp Đức cha sáng nay được không? AUG: À, Đức cha Possidiô. Sao? Đức cha đã khoẻ chưa? POS: Cám ơn Đức cha... Thưa Đức cha, Đức cha đang có chuyện gì phải ưu tư nhiều? AUG: Đức cha cũng biết cái gánh nặng Chúa đặt lên vai chúng ta khi Ngài chọn chúng ta làm giám mục cho đoàn chiên của Ngài. POS: Nhưng hình như hôm nay có một cái gì đặc biệt? AUG: Đúng ra là những tháng vừa qua bao nhiêu chuyện phiền muộn đã xảy ra trong giáo phận này. POS: Theo con được biết, giáo phận Hippone này là một trong những giáo phận đạo đức nhất. AUG: Than ôi, có đoàn chiên nào mà không có những con chiên lạc... Điều đau lòng là có những con chiên lạc lại là mục tử... Có một cha đã đem ngụy thư vào đọc trong thánh đường cho giáo dân nghe. Có một cha đã ly khai với Giáo Hội, lôi cuốn theo 2 nữ tu. Một cha khác bỏ xứ đạo mình, lên Hippone cờ bạc, rượu chè. Một cha nữa, đêm Vọng Phục Sinh nói rằng mình về nhà xứ, nhưng lại không về và đi say sưa ở một nơi đê tiện... Thế đấy... Và còn bao nhiêu chuyện không hay. Đức cha bảo làm thế nào mà bình thản được. POS: Nhưng Đức cha đã giải quyết ổn thỏa rồi mà. AUG: Giải quyết ổn thỏa! Thế nào là ổn thỏa? Chúng ta phải cư xử như thế nào? Phải nghiêm khắc hay rộng lượng? Phải xử phạt hay thứ tha? Có thể xử phạt sẽ làm cho người lầm lỡ trở nên chai lì... Nhưng nếu khoan dung thì một con chiên khác vấp phạm. Vả lại... POS: Vả lại... AUG: Vả lại làm sao mà tránh thất bại. Có những người mà mọi biện pháp đều vô hiệu...Và chúng ta đành phải chịu đựng, bởi vì con người không thể chữa trị này là người nhà của mình, là một người thuộc về Giáo Hội, một Giáo Hội thông công. Người đó vẫn ở trong lòng Giáo Hội. Ta phải làm gì? Ta phải đi đâu? POS: Con thấy những ray rứt này dằn xéo cha rất nhiều. AUG: Tôi không bao giờ được yên hàn. Tôi sợ quá Possidiô à. Tôi bước đi trong sợ hãi và trong đêm tối... Biết bao lần, từ đáy lòng tôi tớ của tôi, tôi muốn lánh mình vào cô độc, xa rời các cộng đoàn đầy ân sủng nhưng cũng đầy vấp phạm này. Nhất là ngày hôm nay. POS: Tại sao nhất là ngày hôm nay, thưa Đức cha? AUG: Đức cha Possidiô này, Đức cha là một trong những anh em gần gũi tôi nhất. Có thể Thiên Chúa đã gởi Đức cha đến để chia sẻ gánh nặng của tôi hôm nay... Nhưng tôi không biết phải bắt đầu thế nào. POS: Thưa Đức cha, vấn đề gì vậy? AUG: Hôm nay, tôi phải giải quyết vấn đề của cha Januariô. POS: Vấn đề thế nào, thưa Đức cha? AUG: Januariô vừa qua đời và để lại một số tiền. POS: Có vấn đề gì đâu, thưa Đức cha? AUG: Januariô là một anh em trong cộng đoàn của chúng tôi mà lại có của riêng. POS: Thưa Đức cha, một linh mục có một số tiền riêng thì, theo con nghĩ, có gì tội lỗi đâu? AUG: Tội lỗi thì không, nhưng phản bội thì có. POS: Thưa Đức cha, sao lại phản bội ạ? AUG: Đây là một chuyện dài... Năm 390, tôi đến thành phố này để thăm một người bạn. Bỗng người ta bắt lấy tôi, phong cho tôi làm linh mục và 6 năm sau, phong làm giám mục. Tôi không có gì cả ngoài bộ đồ mặc trên người khi đến nhà thờ. Đức cha Valère biết rằng tôi chỉ ao ước sống cuộc sống ẩn tu, ngài cho tôi một khu vườn để làm tu viện. Tôi qui tụ được một số anh em. Tôi đã bán tài sản nhỏ bé của mình để phân phát cho người nghèo; các anh em cũng làm như vậy và chúng tôi sống nghèo với nhau. Của cải duy nhất và dư dật của chúng tôi chính là Thiên Chúa. Khi làm giám mục, tôi đưa tu viện về tòa giám mục... Trong cộng đoàn chúng tôi, không ai được phép có bất cứ một cái gì làm của riêng... Vậy mà bây giờ xảy ra câu chuyện nản lòng về Januariô. POS: Nhưng thưa Đức cha, Đức cha nói rằng cha Januariô đã chết rồi cơ mà. AUG Januariô đã chết, nhưng bao nhiêu anh em khác còn sống. Tôi phải làm gì đối với họ đây? Tôi phải làm gì hở Possidiô? Ở vào vị trí của tôi, Đức Kitô sẽ xử sự thế nào? (Tiếng nói:) Kính thưa Đức cha, có Đức cha giáo phận Fussala xin yết kiến. AUG: Không! Nói với Antôn là tôi không thể gặp anh ấy hôm nay... Nhưng mà này, thôi, cứ mời vào đi. POS: Đức cha cho phép con về nghỉ. AUG: Không sao Đức cha à. Đức cha cứ ở lại đây, đây cũng là một ung nhọt tôi cần chia sẻ. ANT: (vào) Kính chào Đức cha. AUG: Anh Antôn... Anh đã về đấy à? Chúng ta có nhiều điều cần nói với nhau lắm đấy. ANT: Thưa Đức cha, con từ Fussala về, có mang dâng Đức cha một chút quà mọn. (Trao một gói) AUG: Anh biết rõ là quà cho cộng đoàn thì chỉ một mình cha quản gia được phép nhận thôi. ANT: Thưa Đức cha, đây là chiếc áo choàng dành riêng cho Đức cha. AUG: Nếu như thế thì tôi không thể nhận. ANT: Thưa Đức cha, một giám mục cần có một áo choàng xứng đáng, mà Đức cha thì không có chiếc nào. AUG: Một áo choàng tốt có thể cần thiết cho giám mục, nhưng không cần thiết cho Âu Tinh, một người nghèo, sinh ra từ một gia đình nghèo. Nhưng thôi, anh cần gặp có chuyện gì thì nói ngay đi. Sắp đến giờ tôi gặp các cha rồi. ANT: (Nhìn Possidiô) Thưa Đức cha, con xin gặp riêng Đức cha. AUG: Anh cứ nói trước mặt Đức cha Possidiô... Giữa các thành phần của Giáo hội, không có gì là riêng tư cả... Hoặc là anh nói... hoặc là anh về. ANT: Thưa Đức cha, con đến để hỏi về quyền giám mục của con... Có phải chính Đức cha đã... AUG Đúng đấy. Chính tôi đã đề nghị ngưng quyền giám mục của anh... Vài ngày nữa sẽ có quyết định. ANT: Thưa Đức cha, con không hiểu vì sao Đức cha đã làm như vậy. AUG: Chính tôi là người đã đề nghị anh làm giám mục vì tôi muốn đề cử một tôi tớ Chúa để phục vụ đoàn chiên của Ngài... Thế mà anh chỉ nghĩ đến quyền hành khi trở thành giám mục. ANT: Thưa Đức cha, một giám mục không có quyền thì làm sao hướng dẫn đoàn chiên? AUG: Người giám mục, tiên vàn phải là một Kitô hữu. Cho đoàn chiên, chúng ta là giám mục; với đoàn chiên, chúng ta là Kitô hữu. Danh hiệu giám mục là một danh hiệu nguy hiểm; danh xưng Kitô hữu là danh xưng của người được cứu độ. Anh đã quên rằng mình là một Kitô hữu mà chỉ nhớ rằng mình là một giám mục. ANT: Con không hiểu sao Đức cha lại quan trọng hóa vấn đề như vậy. AUG: Tôi không quan trọng hóa vấn đề, nhưng mà vấn đề tự nó là quan trọng. Làm giám mục là hướng dẫn đoàn chiên về với Chúa Kitô; nhưng nếu chính anh, anh không còn là một người của Đức Kitô thì anh hướng dẫn họ về đâu? ANT: Làm sao Đức cha có thể nói với con như vậy? Con đã tổ chức bao nhiêu công trình bác ái, con đã sống chay tịnh... Đức cha cứ hỏi những người ở Fussala, họ đều biết. AUG: Tất cả những gì bác ái làm thì lòng kiêu ngạo cũng làm. Bác ái cho kẻ đói ăn, cho kẻ rách mặc, lòng kiêu ngạo cũng thế. Nhưng bác ái nhằm ngợi khen Thiên Chúa còn lòng kiêu ngạo thì nhằm ca ngợi mình. ANT: Đó là điều Đức cha suy luận. Trên thực tế, Đức cha đòi hỏi con cái gì? AUG: Tôi không đòi hỏi anh cái gì cả. Nhưng Thiên Chúa đòi hỏi Tình Yêu nơi người giám mục của Ngài. “Phêrô, con có yêu mến Thầy không? Hãy chăn dắt chiên Thầy.” Ngài đòi hỏi một lần, hai lần, ba lần...Nhưng anh, anh đã yêu thương chính bản thân anh. Anh đã lấy quyền hành mà cai trị dân Ngài. ANT: Xin Đức cha hãy ngưng lời đề nghị lại, con sẽ cố gắng sửa đổi. AUG: Anh sẽ cố gắng sơn phết cái vỏ bên ngoài để bám lấy quyền hành... Trong khi đó Đức Kitô lại đòi hỏi Tình yêu ở bên trong. ANT: Thưa Đức cha, Đức cha nói về Tình Yêu mà Đức cha đối xử với con thật tàn nhẫn. AUG: Chính đức ái đòi buộc tôi làm như vậy. Chính sự dữ mới xúi dục ta bao che, xuề xòa. Có những lúc bác ái cần phải được thể hiện bằng những hành động cứng rắn, thậm chí có vẻ tàn nhẫn. Anh hãy về và suy nghĩ về điều lệnh duy nhất của Chúa chúng ta: “Hãy yêu thương rồi muốn làm gì tùy ý...” ANT: Chính Đức cha đề nghị con làm giám mục, con đã từ chối, nhưng Đức cha đã khuyến khích. Bây giờ con là giám mục, Đức cha lại đề nghị ngưng quyền quản trị giáo phận. Con không thể nào chấp nhận cái nhục này. AUG: Nếu anh chỉ nghĩ đến vinh quang của anh thì anh đã lầm đường, nhưng tôi còn có thể chịu đựng anh như một chi thể bệnh hoạn trong nhiệm thể Chúa Kitô. Đằng này, anh coi thường vinh quang của Thiên Chúa và đối xử đoàn chiên của Ngài như nô lệ của anh. Đã như thế thì tôi không còn cách nào để chọn lựa...Anh sẽ không cai quản giáo phận Fussala hay bất cứ một giáo phận nào khác. ANT: &nb |