Số 86 Ngày 10-09-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Suy Niệm Lời Chúa – CN XXIII Năm B – Lm. Vũ  Xuân Hạnh

Biểu Tượng Thập Giá Qua Các Thời Đại Trong Kitô Giáo Khánh Linh sưu tầm

Thiên Chúa Bày Tỏ Tình Yêu Của Ngài Cho Chúng Ta - Lm. Raniero Cantalamessa, OFM Cap.

Chiêm Niệm Bảy Sự Thương Khó Của Đức Mẹ Maria- Đỗ Trân Duy

Thiên Chức Linh Mục Theo Nhãn Giới Của Tân Ước- Lm. Raymond Brown, S.S

Linh Mục Là Ai?  - Lm. Giuse Vũ Đức

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Lòng Quảng Đại Đích Thực Elizabeth Cobb - Trần Duy Nhiên dịch

Điếc, Câm và Què Lm. Nguyễn Trung Tây, SVD

Tìm Ý Chúa - Kẻ Lữ Hành

Nhờ Ơn Chúa  – T.T.

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

 

Ngày 14 tháng 9 sắp đến, Giáo Hội dành riêng để suy tôn Thánh Giá Chúa Kitô, cũng còn được gọi là “Ngày Thánh Giá.”  Lễ này được hình thành từ năm 335, khi cung hiến đền thờ do hoàng đế Constantine cho xây dựng tại nơi thánh, mà người ta tin là đó là nơi Chúa đã được mai táng và sống lại. Thánh Helena Egeria, mẹ của hoàng đế Constantine cho rằng bà đã tìm ra được cây thập tự thật của Chúa Kitô vào chính ngày này. Bắt đầu thế kỷ thứ V, Giêrusalem đã có truyền thống kỷ niệm việc cung hiến Thánh Đường vào ngày 14 tháng 9 hàng năm, trong ngày này, thánh tích thập giá được đem ra trưng bày. Sau đó, Giáo hội Đông phương bắt đầu mừng lễ này vào thế kỷ thứ VI, và Roma chỉ du nhập lễ kỷ niệm này vào thế kỷ thứ VII. Chính vì thế, Sổ Bộ các Thánh Tử Đạo và Kinh Thần Vụ đã chỉ ghi lại việc kỷ niệm tôn kính thánh giá tại Giêrusalem vào năm 631, dưới triều hoàng đế Heraclius, là năm hoàng đế lấy lại Thánh
Giá từ tay người Ba Tư vào năm 614.

Đối với tín hữu chúng ta, thập giá là cây gỗ, và trên thân gỗ hình thập tự ấy, Chúa Kitô đã chịu đóng đinh để biểu lộ tình yêu cứu độ của Ngài dành cho nhân loại. Thập tự gỗ ấy giờ đây trở thành thánh giá, một biểu tượng thánh thiêng bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa ban cho nhân loại qua việc vâng phục trọn vẹn của Đức Kitô. Thập giá cũng là biểu tượng của những hy sinh, thử thách không ai tránh được trong cuộc đời trần thế này. Lời mời gọi thách đố của Chúa Giêsu dành cho các tông đồ cũng như cho mỗi tín hữu hôm nay, “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá của mình mà theo tôi.” (Mc 8: 34). Như thế, dù muốn hay không, thập giá sẽ luôn là dấu chỉ của người môn đệ Chúa Giêsu trong hành trình đức tin và cuộc sống, và việc đón nhận thập giá phải là niềm vui tự nguyện vì mang thập giá là điều kiện để trở nên môn đệ của Ngài. Thánh giá mà Chúa Giêsu lãnh nhận đã mang lại ơn cứu độ, và thập giá của chúng ta là để kết hiệp với mầu nhiệm thương khó của Đức Kitô, sẽ mang thêm ý nghĩa và sinh ơn ích thiêng liêng. Mang thập giá, theo đức tin, chính là đón nhận thử thách, và bày tỏ lòng quyết tâm theo Chúa của người tín hữu. Thật ra, nói thì dễ hơn làm và chúng ta luôn cần đến ân sủng của Chúa để đón nhận thập giá đời mình trong can đảm và bình an.

Trong những ngày này, Hoa Kỳ và các nước dân chủ Tây phương đều tưởng niệm lại biến cố “ngày 11 tháng 9.” Nhiều nghi thức và thánh lễ được tổ chức để cầu nguyện và tưởng nhớ những nạn nhân đã bị thiệt mạng trong cuộc khủng bố chưa từng có. Tại New York, 5 năm về trước, các khủng bố đã lái phản lực lao vào World Trade Center, phá đổ toàn bộ hai ngôi nhà cao tầng của Trung Tâm Thương Mại, giết hại gần 3 ngàn sinh mạng. Biến cố này đã làm rúng động thế giới và thay đổi biết bao suy nghĩ của con người về cuộc đời, sự sống và cái chết. Người ta nhận thức rõ ràng hơn rằng, sự an toàn và bình yên cho con người trên hành tinh này là điều rất mong manh, tạm bợ: không chỉ vì thiên tai bão lụt, mà còn do chính con người gây ra… Biến cố “9/11” xảy ra thật thảm khốc. Ngoài việc cướp mất bao sinh mạng của chính những người âm mưu thực hiện phá hoại, đến những nạn nhân vô tội, thảm họa này đã đặt ra những câu hỏi không lời giải đáp cho lương tri con người trong thiên niên kỷ thứ ba. Chúng ta không đi sâu hơn vào nguyên nhân và suy nghĩ, lập trường chính trị xã hội của từng phe phái, nhưng qua biến cố này, ta ý thức hơn nữa về sự hiện diện của sự dữ; và nhân loại hơn bao giờ hết cần được nhắc nhở về một khát khao chính đáng và muôn thưở: hoà bình cho toàn nhân loại hôm nay và luôn mãi.

Qua biến cố 9/11, chúng ta cũng thấy rõ hơn rằng: con người nhiều khi không chỉ vác thập giá của mình, mà rất có thể lại tạo ra hoặc trở nên thập giá của biết bao người khác. Câu hỏi đặt ra cho mỗi người chúng ta, “Có bao giờ tôi là thập giá hoặc tạo ra thập giá cho người khác?” Cầu nguyện cho tín hữu theo Chúa Kitô, qua việc suy tôn thánh giá của Ngài, không chỉ giúp chúng ta chiêm ngắm việc Chúa chịu chết và đau khổ vì chúng ta, mà còn ý thức vác lấy thập giá của bản thân, và ý thức để tránh không trở thành thập giá cho người khác.

Khi suy niệm về mầu nhiệm Thánh Giá, có lẽ Mẹ Maria đã cảm nghiệm trọn vẹn tình yêu và sống nỗi đau của con mình. Mẹ thực hiện lời Fiat: “Xin hãy thành sự cho tôi theo lời Ngài.” (Lc 1: 38). Một lời vâng phục, mặc dù trí khôn không có câu trả lời khi lặng thầm dưới chân thánh giá (Ga 19: 25). Tâm tình vâng phục dâng hiến của người-nữ-có-tâm-hồn-và-trái-tim-linh-mục thẳm sâu nhất, vì đã chia sẻ trọn vẹn tình yêu và sự hy sinh của Con Mình cho nhân loại được sống. Đức Mẹ cũng nêu gương chiêm ngắm và vác thập giá của mình cho tất cả chúng ta.

Trong tâm tình ấy, Maranatha_86 trân trọng kính mời độc giả chia sẻ những suy niệm về tình yêu Thập Giá trong số này. Đây là những suy tư sâu lắng, chắt lọc và tâm tình của những người đang theo Chúa. Những con người này, dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân, tất cả đều mong muốn sống theo đúng lời mời gọi của Chúa Giêsu Kitô được trình bày trong Kinh Thánh, tất cả đều cố gắng thể hiện lời dạy của Thầy trong nẻo đường theo Chúa trên hành trình trần thế này.

Cầu xin cho quý độc giả và mọi người đang khi hướng lòng mình về quê thật, cũng như chiêm ngắm Thánh Giá của Chúa Giêsu và vác thập giá của mình, chúng ta ý thức và tiếp tục khẩn nài:

Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!

 

š¶›

 

CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN NĂM B 

Lời Chúa : Mc 7 : 31-37

Đức Giê-su lại bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xi-đôn, đến biển hồ Ga-li-lê vào miền Thập Tỉnh. Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Đức Giê-su, và xin Người đặt tay trên anh. Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. Rồi Người ngước mắt lên trời, rên một tiếng và nói: "Ép-pha-tha", nghĩa là: hãy mở ra! Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng. Đức Giê-su truyền bảo họ không được kể chuyện đó với ai cả. Nhưng Người càng truyền bảo họ, họ lại càng đồn ra. Họ hết sức kinh ngạc, và nói: "Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được."

Lm. Vũ Xuân Hạnh 

   Mới ngày nào người bạn trẻ ấy đã từng là một cậu giúp lễ, đến chào tôi và báo tin, em đã đậu đại học mỹ thuật… Thấm thoát em đã ra trường. Lần này đến thăm tôi, cùng với việc báo tin mình đã tốt nghiệp, em còn tặng tôi một bức tranh. “Thưa cha, con đã vẽ nhiều tranh. Nhưng đây là bức tranh con ưng ý nhất từ trước tới nay, con tặng cha,” em nói như thế trong khi trao bức tranh cho tôi. Nhìn bức tranh của em, tôi chẳng hiểu gì hết. Thú thật, đối với em, bức tranh là kiệt tác của chính mình, là vẻ đẹp, là ngôn ngữ nội tâm của chính em, nhưng tôi chẳng thấy gì cả, chẳng mường tượng được chút nào. Tôi chỉ hiểu phần nào khi được em giải thích mà thôi. Dù cám ơn em vì em yêu quý tôi, vì tấm lòng em dành cho tôi, nhưng tôi thấy trước thế giới nghệ thuật mà em đang theo đuổi, tôi là một kẻ vừa câm, vừa điếc. 

   Nói đến câm và điếc, thói thường, người ta vẫn hiểu đó là tình trạng tật nguyền của lưỡi và tai: lưỡi không thể nói và tai không thể nghe. Tình trạng bất hạnh ấy dễ làm người ta mặc cảm. Không nói được và cũng chẳng nghe được, tự thân đã khiến người bị tật khó hiểu thế giới bên ngoài, và thế giới bên ngoài cũng khó hiểu anh chị em bị tật ấy. Bởi thế, điều mà anh chị em cần nơi những người lành mạnh là thái độ thông cảm, tôn trọng và yêu thương. Hôm nay, Tin Mừng thánh Marcô cho biết, Chúa Giêsu chữa lành một người câm và điếc. Dù hành động chữa lành này mang nhiều ý nghĩa, thì bên cạnh những ý nghĩa đó, người ta không thể không nói tới lòng thương yêu mà Chúa dành cho người bị tật. 

   Dù vậy, bạn có bao giờ nghĩ rằng, sự điếc câm thể lý của một ai đó chưa phải là vấn đề cần nhất để ta phải ưu tiên đề cập đến? Đúng là bất hạnh nào cũng đáng thương, nhưng nếu chỉ dừng lại để nói đến sự điếc câm thể lý thì thật là thiếu sót. Chúa Giêsu, một khi chữa lành người bị tật, Người đâu chỉ nhắm đến sự chữa lành để bày tỏ lòng yêu thương mà thôi. Điều quan trọng ẩn trong những phép lạ, đó là Chúa Giêsu chứng tỏ mình là Đấng thiên sai, quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ, hay trong chính bài tường thuật hôm nay, từ ngữ mà thánh Marcô sử dụng: “mở ra,” “hết buộc lại,” cho thấy Chúa Giêsu không chỉ chữa lành những gì thuộc thể lý, nhưng còn có quyền cầm buộc và tháo cởi vận mạng đời đời của nhân loại…. 

   Nhìn bức tranh tôi không hiểu gì hết trong câu chuyện bên trên, làm cho tôi chợt nhận ra, dù mắt tôi vẫn xem thấy, tai tôi vẫn nghe, lưỡi tôi rất bình thường, thì câm điếc không dừng lại ở thể lý, mà còn là nỗi câm và điếc thuộc thế giới tinh thần. Chắc bạn đồng ý với tôi, sống giữa cuộc đời này, không chỉ là nghệ thuật hay mỹ thuật, bạn và tôi còn bị câm, bị điếc trước rất nhiều vấn đề, rất nhiều lãnh vực: là một linh mục, chưa bao giờ tham dự một lớp y khoa nào, làm sao tôi có thể chẩn đoán bệnh. Cũng thế, một bác sĩ dù giỏi đến đâu, vẫn không bao giờ làm được những việc hay sống những điều thuộc về thế giới của linh mục… Mỗi người có những chọn lựa cho riêng mình. Chọn lựa để phục vụ con người trong lãnh vực nào, người ta chỉ có thể từng trải trong lãnh vực của mình mà thôi. Chuyện câm và điếc ấy cũng bình thường đấy thôi.  

   Nhưng không phải mọi nỗi câm điếc thuộc thế giới tinh thần đều trở nên bình thường. Có những nỗi câm và điếc đáng tội. Càng tệ hại hơn khi chính ta bịt tai, ngậm miệng để tự mình trở nên kẻ câm và điếc. Đó là nỗi câm điếc của một người không bao giờ biết yêu mến, học hỏi và cố gắng sống Lời Chúa. Đối với họ, giáo lý là chuyện xa vời, thực hành nhân đức là điều vô ích, đời sống đạo đức là không cần thiết, Thiên Chúa là viễn vong, chỉ có những gì cảm nhận bằng giác quan, những gì thuộc thế giới thực nghiệm mới xác thực. Đó là nỗi câm điếc của một người không bao giờ biết đến anh em đồng loại, ngược lại chỉ sống ích kỷ cho riêng bản thân. Đó là nỗi câm điếc của một người làm mọi cách để tiến thân trong cuộc đời, miên man trong sự ham hố tiền của, và danh vọng. Đó là những lời cay nghiệt phun ra để chửi bới, nguyền rủa anh chị em mình. Đó cũng là tình trạng của ai ham hố dục vọng thấp hèn và để mình chìm trong sự khát khao bất chính, nếu không muốn nói là tội lỗi. Vì thế, nỗi câm điếc chính là thái độ cố tâm ở lỳ trong tội, cố tâm ở lỳ trong nỗi chết của linh hồn. Do đó dù điếc câm thể xác, hay tinh thần đều có thể coi là bất hạnh. Nhưng nỗi câm điếc của linh hồn không chỉ bất hạnh, mà còn gây nguy hiểm. Cái câm, cái điếc ấy nguy hiểm vì nó cản lối ta hướng về linh thánh, hướng về Thiên Chúa, Đấng là cội là nguồn của ta, cản lối hướng về ơn cứu độ mà Người rộng ban cho ta. Nguy hiểm vì lòng ta thiếu ơn thánh, Thiên Chúa trở thành xa lạ, linh hồn ta nên chốn hoang tàn và là môi trường xấu làm phát sinh nhiều dịch bệnh: cứng cỏi, kiêu căng, gian tham, ganh tị, ngông cuồng…

Quả là nguy hiểm không cùng, nhưng sự điếc câm của linh hồn không phải là vô phương chữa trị. Chỉ cần ta để lòng mình được mềm đi và đừng cứng cỏi nữa, ta sẽ dễ dàng nhận ra con người thật của mình: biết bao gai góc cần gọt giũa; biết bao thói xấu cần chữa trị; biết bao đam mê hạ cấp, tư tưởng không lành mạnh, hành động sai quấy cần loại bỏ. Biết khiêm nhu để nhận ra như thế là bước đầu tiên để từ đó, ta có thể phá bỏ dần tình trạng điếc câm của linh hồn mình. Và chính khi biết mình như thế, ta sẽ để Chúa chạm đến bản thân ta, chạm đến cuộc đời ta. Người bị câm điếc trong bài Tin Mừng đã không làm gì khác hơn là để Chúa chạm đến mình, nhờ đó anh được thoát khỏi tình trạng câm điếc.

   Cũng vậy, ta hãy đến với Chúa, hãy thực tâm tôn thờ Chúa, hãy chăm lo cho đời sống cầu nguyện của mình, hãy vâng nghe Lời Chúa dạy và mau mau thực hành Lời của Người trong suốt cuộc đời mình… Chắc chắn khi ta đến với Chúa bằng một tấm lòng thành của người con yêu mến Cha như thế, Chúa sẽ chạm đến linh hồn ta, Người sẽ biến đổi ta, và ta sẽ sớm lành mạnh. Lịch sử Giáo Hội đã chẳng để lại biết bao nhiêu tấm gương của nhiều vị thánh thoát khỏi tình trạng câm điếc, đui mù và trở thành thánh nhân nhờ để Chúa chạm vào cuộc đời, chạm vào linh hồn mình đó sao. Đó là tấm gương cao đẹp của thánh Augustinô; của thánh Phanxicô Asisi; của cha Charles de Foucauld…  

   Bạn và tôi sẽ cùng nhắc nhở nhau một điều rất chắn chắn: « Chỉ sợ mình bất trung với Chúa, chứ không bao giờ sợ Chúa bỏ ta. »

  Trở về mục lục >>

š¶›

 

Lời Nguyện Lễ Suy Tôn Thánh Giá

 Lạy Chúa, Chúa đã muốn Con một Chúa chịu khổ hình thập giá để cứu độ loài người, chúng con nài xin Chúa cho chúng con sau khi hiểu biết mầu nhiệm Người dưới đất, thì đáng được hưởng phần thưởng cứu dộ của Người trên trời. Nhờ Ðức Giêsu Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con, là Thiên Chúa hằng sống hằng trị cùng Chúa làm một với Chúa Thánh Thần muôn đời. Amen

 

                                                                        š¶›                                      

BiỂu TưỢng ThẬp Giá qua các ThỜI ĐẠi

trong Kitô Giáo

 

Khánh Linh sưu tầm

 

            Mừng lễ Suy Tôn Thánh Giá Chúa Kitô, chúng ta xem lại một số biểu tượng của thập giá qua các thời đại và đã được du nhập chính thức vào Kitô giáo. Dấu chỉ chữ thập, được hiểu là một cam kết khẳng định trong một giao ước, đã trở thành dấu của Phép Rửa khi ta chịu bí tích Thánh Tẩy, biểu hiện giao ước của Thiên Chúa với con người: Thiên Chúa chính thức là Cha của người nhận Phép Rửa, và người đó là con của Thiên Chúa. Ta có thể hiểu mối liên kết giữa Phép Rửa và Thập Giá mà thánh Phaolô đề cập (Rm 6: 5-6). Việc cầu nguyện giang tay cũng gợi lên hình ảnh của thập giá. Và cầu nguyện cũng đem lại cho chúng ta sự sáng và sự sống từ nguồn sống vĩnh cửu của Chúa Giêsu.

 

1. Thập giá hình tròn thường dùng trong ma thuật.

> 2. Thập giá chìa khóa, tên la-tinh là crux ansata, biểu tượng cho sự sống và sinh lực của người Ai cập; được Kitô hoá vào trước năm 391.

> 3. Thập giá Hy lạp, còn gọi crux quadrata.

> 4. Thập giá của Thánh An-rê (cũng như thập giá Hy lạp để nghiêng), còn gọi crux decussata, thấy xuất hiện trong nghệ thuật của Do thái.

> 5. Thập giá La-tinh, gọi là crux immissa; vào cuối thế kỷ thứ IV, được vẽ thêm các trang trí hình vỏ sò ở các đầu cạnh (xem hình 11).

> 6. Hình chữ thập, hoặc còn gọi (tuy không chính xác) là crux monogrammatica, có lẽ là biểu tượng Kitô giáo cổ xưa nhất. Gồm hai chữ cái Hy lạp rho tau chồng lên nhau, thoạt tiên được coi là viết tắt của người ngoại đạo, nhưng sau đó được đưa vào các thủ bản Tin Mừng tiếng Hy lạp vào khoảng năm 200. Được coi là một dấu thánh, nomen sacrum.

> 7. Thập giá của thánh An-tôn, còn được gọi là thập giá tau hay crux commissa, lấy chữ Hy lạp tau, và được cho là có dạng của thập giá ở Golgotha (sách giáo phụ Justin Martyr 91.2).

> 8. Thập tự xoắn thường thấy trong các văn bản.

> 9. Thập giá của người Malta, biểu tượng của trật tự.

> 10. Thập giá có hình chiếc nĩa, còn gọi thập giá mang bệnh dịch, phổ thông vào cuối thời Trung Cổ. Nó nhấn mạnh đến vẻ đau khổ của thập giá, còn khi vẽ có các nhành lá, thì mang biểu tượng của Cây Sự Sống.

> 11. Thập giá hình giọt nước mắt, như mở rộng cánh tay, biểu tượng tính chiến thắng của thập tự.

> 12. Thập giá Giêrusalem, mang 5 dấu thương tích của Chúa Giêsu. 

> 13. Thập giá kép, còn gọi là crux gemina, sau này trở thành thập giá của các thượng phụ, trên thanh ngang có thêm gạch đầu; nếu có ba thanh ngang là thập giá của giáo hoàng.

> 14. Thập giá bên nước Nga, có thêm gạch dưới để chân.

> 15. Thập giá ánh sáng, còn gọi crux radiata, có màu vàng, hay 4 tia sáng chiếu ra.

> 16. Thập giá có hoa văn, còn gọi crux florida, hay thập giá cây mang sự sống, gợi ý về thiên đàng (Khải Huyền 22: 2).

> 17. Thập giá kết hợp hai chủ đề của Tân Ước là ánh sáng (ΦωC / phōs) và sự sống (ΖωH / zōē; xem Tin Mừng Gioan 8:12), kết hợp được hai thập giá 15 và 16.

> 18. Thập giá kết hợp hai chữ Hy lạp chi (X) và rho (P) viết chồng lên nhau. Thật ra không phải là thập giá theo đúng nghĩa, vì đó là dấu chỉ tên của Chúa Giêsu, chứ không mang nghĩa phải thập giá

  Trở về mục lục >>

š¶›

 

Thiên Chúa Bày TỎ Tình Yêu cỦa Ngài cho Chúng Ta

Lm. Raniero Cantalamessa, OFM Cap. – Maranatha dịch

 

LTS: Thứ Sáu Tuần Thánh năm nay, ngày 14 tháng 4 năm 2006, cha Raniero Cantalamessa, thuộc dòng Phan-xi-cô Ca-pu-xi-nô và là linh mục giảng thuyết cho Văn Phòng Quản Gia Giáo Hoàng, đã chia sẻ về mầu nhiệm đau khổ và thương khó của Chúa Giêsu trước 10 ngàn tín hữu. Maranatha xin trân trọng giới thiệu bài giảng này, nhân lễ Suy Tôn Thánh Giá vào ngày 14 tháng 9 sắp đến.

 

1.       Anh Chị Em Kitô Hữu, Xin Cẩn Trọng Trong Hành Động!

Thật vậy, sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình mà kiếm hết thầy này đến thầy nọ, bởi ngứa tai muốn nghe. Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường.” (2 Tm 4:3-4)

Lời Thánh Kinh này – đặc biệt ám chỉ đến việc nôn nóng muốn biết bất cứ điều gì mới lạ - đang biến thành hiện thực dưới một kiểu cách mới lạ gây ấn tượng trong thời đại chúng ta. Đang khi chúng ta cử hành nơi đây việc tưởng niệm cuộc thương khó và cái chết của Chúa Cứu Thế, thì hàng triệu người bị quyến rũ bởi những chuyện viết lại các huyền thoại cổ xưa cho rằng Chúa Giêsu Na-da-rét chẳng hề bị đóng đinh bao giờ. Một trong các quyển sách bán chạy nhất hiện nay tại Hoa Kỳ là Phúc Âm của Tô-ma, được giới thiệu là cuốn Phúc Âm “cứu ta khỏi chuyện đóng đinh, nên không cần có chuyện phục sinh, và chẳng có một Thiên Chúa tên là Giêsu[1]

Cách đây ít năm, cha Raymond Brown, một học giả Kinh Thánh xuất chúng chuyên về đề tài Thương Khó có viết:Bản chất con người có một nhận thức kỳ cục là việc gì càng kỳ quái, thì càng được người ta chú ý quan tâm, và càng trở thành thời trang lôi cuốn. Có người chẳng hề quan tâm đọc một bài phân tích đàng hoàng việc Chúa Giêsu chịu đóng đinh, chịu chết, bị chôn, và phục sinh; nhưng lại tò mò thích thú với bài viết cho rằng có một ‘cái nhìn mới’ nói rằng Chúa chẳng hề bị đóng đinh, cũng chẳng chịu chết, đặc biệt nếu hồi sau đó nói rằng Chúa đã chạy trốn qua Ấn độ với bà Maria Ma-đa-lê-na. Những lý thuyết này cho thấy trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu, trái với lẽ thường hiểu, chuyện ba xạo thì ly kỳ hơn chuyện thật, và thông thường thì, có chủ ý hay không, các chuyện này đều mang lại lợi nhuận nhiều hơn.[2]

Người ta nói nhiều đến việc Giuđa phản Chúa, mà không ý thức sự phản bội ấy đang được lặp lại. Chúa Kitô đang bị đem bán lần nữa, không phải cho các kỳ mục Do thái lấy ba mươi đồng bạc nhưng cho các chủ bút và các lái sách để lấy hàng tỉ bạc. Không ai có thể ngăn chặn nổi làn sóng đầu cơ buôn bán này, mà trái lại còn làm bùng lên việc phát hành ngay một phim ảnh nào đó; nhưng là người đã có nhiều năm nghiên cứu lịch sử Kitô Giáo Cổ Đại, tôi thấy mình có bổn phận phải kêu gọi mọi người chú ý đến cái sai lầm lớn lao nằm dưới lớp vỏ văn chương phi lịch sử này. 

Các Phúc âm ngụy thư mà họ dựa vào là những văn bản người ta đã biết đến từ lâu, trọn bộ hay từng phần, nhưng ngay cả các sử gia chuyên phê phán hay thù hận với Kitô Giáo nhất, cho đến hôm nay cũng chưa bao giờ nghĩ rằng lịch sử đã diễn ra như thế. Làm như thế chẳng khác nào trong vòng hai thế kỷ sắp tới, sẽ có người viết lại lịch sử hiện nay mà lại dựa trên một cuốn tiểu thuyết viết trong thời đại này.

 Điều sai lầm rất lớn là người ta đang dùng những văn bản này để nói ngược lại chính những gì mà văn bản đó muốn trình bày. Các văn bản này thuộc loại văn chương ngộ giáo của thế kỷ thứ hai và thứ ba. Cái nhìn của phái ngộ đạo - một thứ tổng hợp của thuyết nhị nguyên Platon và các giáo điều Đông Phương, mặc thêm lớp áo tư duy của Kinh Thánh - cho rằng thế giới vật chất không có thật, chỉ là sản phẩm của một Thượng Đế thời Cựu Ước, tức là một ác thần, hoặc một vị thần thuộc hàng lớp dưới; Chúa Kitô không hề chết trên thánh giá, vì ngài không hề mặc lấy thân xác loài người. Mọi việc xảy ra chỉ có vẻ bên ngoài mà thôi, vì thân xác con người không xứng đáng để Thiên Chúa mang lấy. (lạc giáo tên Docetism)

Theo Phúc Âm của Giuđa, mà người ta gần đây nói đến nhiều, thì chính Chúa Giêsu đã truyền cho môn đệ hãy phản bội Ngài, để khi Ngài chết, thần linh bên trong Ngài sẽ được giải thoát khỏi thân xác và bay lại về trời. Nếu tin như vậy thì phải tránh có con khi kết hôn; và người phụ nữ chỉ có thể được cứu độ khi "nữ tính ” (thelus) hiện thân trong họ, được chuyển hóa thành nam tính, nghĩa là, không được làm phụ nữ.[3]

Điều khôi hài là hiện nay có người tin rằng họ tìm thấy trong những bản văn này việc suy tôn nữ tính, ngợi ca tính dục, và cổ suý cho việc hưởng thụ trọn vẹn và phóng túng cái thế giới vật chất, trái với huấn quyền chính thức của Giáo Hội luôn ngăn cản sự quá trớn này. Cũng cần lưu ý đến một sai lầm tương tự liên quan đến thuyết đầu thai. Trong các tôn giáo Đông Phương, đầu thai là hình phạt của tội lỗi kiếp trước, và người ta phải hết sức cố gắng để tránh cái vòng luân hồi này. Trái lại, theo Tây Phương thì đầu thai được coi là một cơ hội tuyệt vời giúp con người sống và hưởng thụ thế giới này mãi mãi.

Những vấn đề này không đáng được đề cập đến tại nơi đây và trong hôm nay, nhưng chúng ta không thể cho phép người ta hiểu lầm rằng việc các tín hữu yên lặng đồng nghĩa với việc họ xấu hổ và niềm tin chân chính (hay ngu xuẩn?) của hàng triệu con người bị các phương tiện truyền thông bóp mép thô bạo, mà không biết lên tiếng phản đối, không chỉ vì đức tin của mình, nhưng cũng vì một lương tri và lý trí lành mạnh. Lúc này đây là lúc mà tôi tin rằng cần phải nghe lời quở trách của nhà thơ Dante Alighieri: Anh chị em Kitô hữu, xin cẩn trọng trong hành động:

Đừng chao đảo như lông tơ trước gió,

Đừng nghĩ rằng nước nào cũng thanh tẩy được mình.

Anh chị em có sách Tân và Cựu Ước

Và Mục Tử của Hội Thánh dẫn dắt;

Chỉ bấy nhiêu là cần thiết cho ơn cứu độ của mình...

Hãy là người trưởng thành, đừng là cừu non khờ khạo.[4]

 

2.       Thương Khó Đã Xảy Ra Trước Nhập Thể!

Chúng ta hãy dẹp những chuyện tưởng tượng đó sang một bên. Các chuyện đó có cùng lời giải thích: Chúng ta đang sống trong thời đại truyền thông, mà truyền thông thích chuyện mới lạ hơn sự thật. Chúng ta hãy chú tâm vào mầu nhiệm đang được cử hành. Năm nay, cách tốt nhất để suy niệm về mầu nhiệm Thứ Sáu Thánh là đọc lại toàn bộ phần đầu thông điệp của Đức Thánh Cha "Thiên Chúa chính là Tình Yêu." Vì không thể thực hiện điều đó nơi đây, ít nhất tôi xin được bình luận về một vài đoạn có liên hệ  trực tiếp với mầu nhiệm ngày hôm nay. Chúng ta đọc thấy trong thông điệp:

“Việc chiêm ngắm cạnh sườn Chúa Kitô bị lưỡi đòng đâm thấu, như thánh Gioan mô tả, giúp chúng ta hiểu được điểm bắt đầu của Thông Điệp này ‘Thiên Chúa chính là tình yêu’. Chính tại trên thánh giá, là nơi ta suy niệm về sự thật này. Và bắt nguồn từ đó mà giờ đây chúng ta phải định nghĩa tình yêu là gì. Và cũng nhờ chiêm ngắm như thế, người Kitô hữu khám phá ra định hướng của cuộc sống và tình yêu của mình.[5]

Đúng vậy, Thiên Chúa chính là tình yêu! Người ta nói rằng nếu tất cả các sách Kinh Thánh trên trái đất này bị hủy diệt bởi một thiên tai khủng khiếp nào đó hay bởi một sự điên cuồng thịnh nộ phá bỏ hết kinh sách ảnh tượng, mà chỉ còn sót lại một bản; mà bản đó cũng bị hư hại đến nỗi chỉ còn lại một trang sách, nhưng trang đó nhăn nheo đến độ chỉ có thể đọc được một dòng: và nếu dòng đó lả của Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan viết rằng “Thiên Chúa chính là tình yêu!” thì coi như toàn bộ nội dung Thánh Kinh vẫn còn đó, bởi vì toàn bộ nội dung Kinh Thánh chính là ở đó.

Thuở thiếu thời, tôi sống trong một căn nhà ở đồng quê bé nhỏ, chỉ cách đường dây điện cao thế có vài mét, nhưng chúng tôi đã phải sống trong bóng đêm, hoặc phải đốt đèn cầy mới có ánh sáng. Giữa chúng tôi và đường giây điện là một đường rầy xe lửa, và vì đang có chiến tranh, nên không ai nghĩ đến việc khắc phục trở ngại này. Điều này cũng giống như tình yêu của Thiên Chúa: tình yêu của Ngài ở đó, trong tầm với của chúng ta, tình yêu đó có thể chiếu sáng và sưởi ấm mọi thứ trong đời ta, nhưng chúng ta cứ sống trong bóng đêm và lạnh lẽo. Đó là lý do thực sự duy nhất của những buồn đau trong cuộc đời.

Thiên Chúa là tình yêu, và thập giá của Chúa Kitô là bằng chứng tối thượng, là chứng cớ lịch sử. Nhà văn Nicholas Cabasilas của Giáo Hội Chính Thống Đông Phương Byzantine nói rằng, có hai cách để thể hiện tình yêu của mình cho người khác. Cách thứ nhất là làm điều tốt cho người mình yêu, tặng quà cho họ; cách thứ hai đòi hỏi hơn, là phải chịu đau khổ thế cho người mình yêu. Thiên Chúa đã yêu chúng ta theo cách thứ nhất, bằng một tình yêu quảng đại, khi sáng tạo, khi tuôn đổ trên ta với ân sủng tràn đầy, trong cũng như ngoài chúng ta; Ngài cũng đã yêu chúng ta với một tình yêu khổ đau cứu chuộc, khi Ngài có sáng kiến hủy diệt chính mình, chịu đau khổ quằn quại ghê gớm nhất vì ta, để minh chứng cho ta thấy tình yêu của Ngài.[6] Do đó, chính là trên thập giá mà ta chiêm ngắm sự thật “Thiên Chúa là tình yêu.”

Chữ “thương khó” có hai nghĩa: Hoặc là một tình yêu mãnh liệt, “đam mê,” hay là sự đau khổ chết người. Hai nghĩa này nối liền với nhau và kinh nghiệm hàng ngày cho chúng ta thấy hai nghĩa này qua lại với nhau dễ dàng đến thế nào. Nơi Thiên Chúa, và bắt nguồn từ Thiên Chúa cũng như thế. Giáo phụ Origen đã viết, tình yêu đam mê đã có trước việc nhập thể. Đó là thứ “đam mê tình ái” mà Thiên Chúa luôn dưỡng nuôi với con người, và khi tới thời viên mãn, “đam mê “ này đã đưa Thiên Chúa đã xuống trần và chịu đau khổ cho nhân loại chúng ta.[7]

 

3. Ba Thứ Bậc của Sự Vĩ Đại

Thông điệp "Thiên Chúa Chính Là Tình Yêu" đề ra một cách thức mới trong việc bảo vệ đức tin Kitô Giáo, cũng có lẽ là cách thức khả thi duy nhất hiện nay và chắc chắn là cách hiệu quả nhất. Nó không đối chọi trực tiếp những giá trị siêu nhiên với những giá trị tự nhiên, tình yêu Chúa với tình yêu nhân loại, ái tình eros với tình yêu agape, nhưng cho thấy sự hài hoà nguyên thuỷ, cần phải được liên tục khám phá và hàn gắn, do tội lỗi và mỏng dòn của con người.[8] Tin Mừng không chỉ trùng hợp tương ứng với những lý tưởng cao đẹp của nhân loại, mà chính xác là đã thể hiện chúng, Tin Mừng tái lập, thăng hoa và bảo vệ chúng. Tin Mừng Chúa không loại trừ ái tình khỏi cuộc sống, mà trái lại loại trừ nọc độc vị kỷ của nó.

Trong tác phẩm nổi tiếng "Pensées,"[9] tác giả Pascal cho rằng có ba thứ bậc của sự vĩ đại. Bậc thứ nhất là liên quan đến vật chất hay thân xác con người: những ai giàu có, người có sức khoẻ lực sĩ hay dung nhan xinh đẹp thuộc về bậc này. Giá trị của bậc này không nên coi nhẹ, nhưng lại là hạng thấp nhất. Bậc tiếp theo là của các thiên tài, thông minh mẫn trí: các nhà tư tưởng, phát minh, khoa học gia, nghệ sĩ và văn thi sĩ ở nhóm này. Bậc này có phẩm chất khác. Giàu hay nghèo, đẹp hay xấu, không thêm vào hay lấy bớt điều gì của những thiên tài. Thân thể có bị tật nguyền dị dạng không lấy mất được vẻ đẹp suy tư của Socrates, hay nét đẹp của thi ca Leopardi.

Giá trị của tài năng thì chắc chắn là cao hơn giá trị vật chất, nhưng đó cũng chưa phải là cao nhất. Trên nó còn một thứ bậc cao hơn, và đó là thứ bậc của tình yêu, của lòng nhân ái. (Pascal gọi đó là thứ bậc của thánh thiêng và ân sủng). Nhạc sĩ Gounod nói, một giọt thánh thiện đáng giá hơn một đại dương thiên tài. Đẹp hay xấu, học thức hay dốt nát không thêm hay bớt điều gì nơi một vị thánh. Sự vĩ đại thánh nhân nằm ở một thứ bậc khác.

Kitô giáo thuộc về bậc thứ ba này. Trong tác phẩm Quo Vadis, khi một người ngoại giáo hỏi Tông Đồ Phêrô khi ngài mới đến Rôma: ‘A-then cho chúng tôi sự khôn ngoan, Rô-ma đem đến quyền lực, còn tôn giáo của ông cho chúng tôi cái gì? Thánh Phêrô đã trả lời: Tình yêu!’[10] Tình yêu là thứ mong manh nhất trên đời; nó được biểu hiện như một em bé thơ và quả thật nó như một em bé. Một chút xíu gì đó cũng có thể giết nó chết, như hiện nay chúng ta vẫn kinh hãi thấy việc giết chết một trẻ nhỏ dễ dàng như thế nào. Nhưng quyền lực và khôn ngoan, đồng nghĩa với sức mạnh và tài năng, sẽ trở thành cái gì nếu không có tình yêu và lòng nhân ái? Chúng trở thành nhà tù diệt chủng Auschwitz, quần đảo bị bom nguyên tử Hiroshima và Nagasaki và tất cả những kinh hoàng khác mà chúng ta đều biết rất rõ.

 

4. Tình Yêu Tha Thứ

Thông điệp viết tiếp: “Ái tình eros của Thiên Chúa dành cho loài người cũng hoàn toàn là tình yêu agape. Không chỉ vì tình yêu này được trao ban hoàn toàn nhưng không, nhưng cũng vì đó là một tình yêu tha thứ.” (10).

Phẩm chất tình yêu này được toả sáng mạnh mẽ nhất trong mầu nhiệm thánh giá. Chúa Giêsu đã nói nơi bàn Tiệc Ly, “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15:13). Ta có thể thốt lên: Lạy Chúa Kitô, có một tình yêu còn cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình. Đó là tình Chúa! Chúa không chỉ thí mạng cho bạn hữu nhưng cho cả kẻ thù của mình! Thánh Phaolô nói, "Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi." (Rm 5:7-8).

Tuy nhiên, ta có thể thấy ngay sự phân biệt tương phản chỉ biểu hiện ở bên ngoài. Chữ "bạn" hiểu theo nghĩa chủ động dùng cho những ai thương ta, còn trong nghĩa thụ động dùng để chỉ người ta thương mến. Chúa Giêsu gọi Giuđa là "bạn" (Mt 26:50) không phải vì Giuđa thương Ngài, nhưng bởi vì Ngài thương Giuđa! Không một tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh tính mạng cho kẻ thù, coi kẻ thù là bạn hữu: đó là ý Chúa muốn nói. Con người có thể là kẻ thù của Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa sẽ không bao giờ là kẻ thù của con người. Đó là lợi thế lớn lao vô cùng của con cái với cha mẹ.

Chúng ta phải suy tư như thế nào, đặc biệt để tình yêu của Chúa Kitô trên thánh giá có thể giúp con người ngày nay tìm thấy "định hướng của cuộc sống và tình yêu của mình" như thông điệp đã nói. Đó là một tình yêu thương xót, một tình yêu giải phóng và tha thứ, không hề muốn tiêu diệt kẻ thù, trái lại chỉ tiêu diệt lòng thù hận nếu có (Ep 2:16). Ngôn sứ Giê-rê-mi-a, con người đau khổ gần gũi nhất với Chúa Kitô Thương Khó cầu nguyện với Thiên Chúa rằng: "xin cho tôi thấy hình phạt giáng trên chúng" (Gr 11:20); Trái lại, Chúa Giêsu khi hấp hối đã nói “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ  không biết việc họ làm.” (Lc 23:34).

Ngày nay, chúng ta cần đến chính lòng thương xót này và khả năng tha thứ, để khỏi lao vào vực thẳm của bạo lực trên toàn cầu. Vị tông đồ đã viết cho tín hữu Cô-lô-sê “Là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương, Anh chị em hãy mặc lấy lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau.” (Cl 3:12-13).

Có lòng thương xót tức là cảm thông đau khổ (misereor) trong tâm (cordis) với kẻ thù của mình, để hiểu chúng ta được tạo dựng từ đâu và qua đó mà tha thứ cho nhau. Điều gì sẽ xảy ra nếu do một phép lạ lịch sử nào đó mà hai dân tộc Cận Đông đang chiến tranh với nhau hàng chục năm rồi, thay vì đổ lỗi cho nhau, lại bắt đầu nghĩ đến những đau thương của phía bên kia, và cảm thông đau khổ của nhau. Bức tường ngăn cách giữa họ sẽ không còn cần thiết nữa. Cũng cần phải nói về một phép lạ tương tự như thế với bao nhiêu cuộc xung đột đang tiếp diễn trên toàn thế giới, kể cả những xung đột giữa các niềm tin tôn giáo khác nhau và các giữa các Giáo hội tin vào Chúa Kitô.

Vần thơ của Pascoli thật đúng biết bao: “Con người ơi, Hãy giữ lấy hoà bình. Trong trái đất bị ngã gục này, huyền nhiệm thật quá lớn lao.”[11]. Số phần chung của mọi người là gặp tử thần. Nhân loại bị bóng đêm dầy đặc bao phủ và quằn quoại dưới muôn vàn khổ đau đến mức chúng ta cần phải có lòng trắc ẩn và liên đới với nhau.

5. Bổn Phận Phải Yêu Thương

Còn một giáo huấn khác cho chúng ta bắt nguồn từ tình yêu của Thiên Chúa thể hiện trên thập giá Chúa Kitô. Tình yêu Thiên Chúa dành cho con người thì thủy chung và vĩnh cửu. Qua các ngôn sứ, Thiên Chúa nói cùng con người: “Ta đã yêu con bằng mối tình muôn thưở,” (Gr 31:3); và lần khác: “Ta quyết không đoạn tình dứt nghĩa, quyết không hề bội tín thất trung” (Tv 89:34). Thiên Chúa đã tự trói buộc Ngài vào một tình yêu vĩnh hằng; Ngài đã tự lấy mất cái tự do rút lui quay gót. Đây là ý nghĩa sâu xa của Giao Ước đã trở nên “mới và vĩnh cửu” trong Chúa Kitô.

Trong xã hội chúng ta, càng ngày người ta càng hỏi nhiều hơn rằng giữa tình yêu của hai người trẻ và ràng buộc của luật lệ hôn nhân, có thể tồn tại một mối quan hệ nào; tình yêu có nhu cầu gì, nhu cầu nào thúc đẩy tự phát cần bị “ràng buộc” lại. Vì thế nên càng lúc càng có nhiều người từ chối cơ chế hôn nhân và chọn cái gọi là tình yêu tự do hoặc đơn giản, thực tế là sống với nhau.[12]

Chỉ khi nào người ta nhận ra mối quan hệ sâu xa và sống còn giữa lề luật và tình yêu, giữa quyết định và thể chế, thì người ta mới có thể trả lời đúng đắn cho những câu hỏi này và cho người trẻ một lý lẽ đủ sức thuyết phục để bị "trói buộc" mãi vào tình yêu và không sợ biến tình yêu thành một "bổn phận."

Một triết gia sống sau Plato đã viết những điều tốt đẹp nhất về tình yêu: “Chỉ khi người ta có được bổn phận yêu thương, thì lúc đó tình yêu mi được bảo đảm vĩnh viễn không đổi thay; được giải phóng mãi mãi trong tinh thần độc lập phúc lành; được bảo đảm hạnh phúc trường cửu không còn tuyệt vọng.”[13] Những lời này có nghĩa là với người biết yêu thương, càng yêu mãnh liệt bao nhiêu thì càng nhận thức âu lo mối tình của mình gặp nguy nan. Mối hiểm nguy không từ ai cả mà là từ nơi chính mình.

Con người đó biết rõ tính mình hay thay đổi và rằng ngày mai, hỡi ôi, mình có thể mệt mỏi và không còn yêu nữa hay muốn thay đổi đối tượng tình yêu của mình. Và, giờ đây, đang lúc còn dưới ánh sáng tình yêu, người đó thấy được rõ ràng cái mất mát không thể bù đắp được do thay đổi mang lại, nên sẽ bảo vệ mình bằng cách ràng buộc bản thân mình vào tình yêu có sự ràng buộc của bổn phận, và như thế thì mãi gắn bó hành động yêu thương của mình với thời gian.

 Vị thần Ulysses mong muốn quay về để thăm lại quê xưa và người vợ yêu thương, nhưng phải băng nơi các nữ thần Sirens luôn quyến rũ các thuỷ thủ bằng tiếng hát hầu lôi kéo họ lái thuyền xô vào bờ đá. Thần phải làm gì? Ulysses đã phải tự cột mình vào cột buồm sau khi đã bịt kín lỗ tai những bạn đồng thuyền bằng sáp. Khi đến chỗ hiểm nguy, bị quyến rũ mê hoặc, thần la lớn cho bạn bè mở giây trói để đến với các nữ thần. Nhưng các bạn đồng thuyền không nghe được điều Ulysses nói, nhờ thế, thần có thể thấy lại quê hương, và ôm vào lòng người vợ cùng cùng con trai yêu dấu[14]. Đó là một huyền thoại, nhưng nó giúp chúng ta hiểu được lý do "bất khả phân ly" của hôn nhân, và trên một bình diện khác, tính “không thể tháo gỡ” của những lời tuyên khấn.

Bổn phận yêu thương bảo vệ tình yêu khỏi sự “tuyệt vọng” và làm cho tình yêu “được chúc phúc và độc lập” theo nghĩa là nó bảo vệ con người khỏi sự tuyệt vọng rằng mình không thể yêu mãi mãi. Cũng chính nhà tư tưởng này đã nói -- Hãy cho tôi gặp một người thực sự đang yêu, và anh ta sẽ nói cho bạn biết trong tình yêu, có hay không sự đối nghịch giữa hoan lạc và bổn phận; cũng như ý nghĩ "phải" yêu suốt đời đem lại sự sợ hãi và lo âu cho người đang yêu, hay trái lại, đem niềm vui và hạnh phúc tuyệt vời.

Chúa Kitô khi hiện ra cùng Chân Phước Angela của vùng Foligno vào một ngày trong Tuần Thánh, đã nói với Chân Phước một câu danh tiếng: "Ta không đùa khi yêu con!" [15] Thật vậy, Chúa Kitô đã không yêu chúng ta như trò đùa. Trong tình yêu, có một chiều kích vui chơi và đùa giỡn, nhưng tình yêu không phải là trò chơi; tình yêu là điều hệ trọng và gắn bó với nhiều hệ lụy nhất trên thế giới này; cuộc sống con người tùy thuộc vào nó. Kịch tác gia Aeschylus so sánh tình yêu như một con sư tử con được nuôi trong nhà “ban đầu thì ngoan ngoãn và hiền lành hơn cả trẻ con,” nên người ta có thể đùa chơi với nó, nhưng một khi khôn lớn, nó có thể tàn sát và vấy máu ngôi nhà.[16]

Những điều cân nhắc này không đủ để thay đổi nền văn hóa hiện nay chuyên đề cao sự tự do đổi thay và tính bốc đồng tự phát, thói quen “dùng xong vất đi" được áp dụng cả trong tình yêu. (Cuộc đời, chẳng may, sẽ hành xử như thế khi đến cuối đời, chúng ta thấy mình chỉ có nắm tro trong tay và nỗi buồn vì đã chẳng xây đắp được gì vững bền với tình yêu). Nhưng điều này ít nhất cũng giúp khẳng định sự tốt lành và vẻ đẹp trong sự lựa chọn của những người đã quyết định sống tình yêu giữa một người nam và một người nữ theo chương trình của Thiên Chúa, và giúp lôi kéo nhiều bạn người trẻ cùng chọn lựa như thế.

Điều duy nhất chúng ta cùng làm là hoà giọng với Thánh Phaolô trong bài thánh ca ca ngợi tình yêu chiến thắng của Thiên Chúa. Ngài mời gọi chúng ta cùng đạt được với ngài trong kinh nghiệm tuyệt vời của việc hàn gắn nội tâm. Thánh Phaolô nghĩ đến tất cả mọi điều tiêu cực và những thử thách nguy khốn của đời ngài: gian truân, phiền muộn, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm và gươm giáo. Ngài chiêm ngắm những điều này dưới ánh sáng xác tín về tình yêu của Thiên Chúa và đã thốt lên: “Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta!” (Rm 8, 37).

Anh chị em hãy hướng mắt nhìn lên trên; từ cuộc sống cá nhân mình hướng ra thế giới chung quanh và cuối cùng nhìn đến nhân loại trên hoàn cầu, để một lần na chúng ta hân hoan xác tín:Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta.” (Rm 8:37-39).

Chúng ta lập lại lời mời gọi của thánh Phaolô trong Thứ Sáu Thương Khó này, và chúng ta lập lại những lời đó cho chúng ta trong khi chúng ta tôn vinh thánh giá Chúa Kitô

 Trở về mục lục >>

š¶›

CHIÊM NIỆM BẢY SỰ THƯƠNG KHÓ CỦA ĐỨC MẸ MARIA

Đỗ Trân Duy

   Cuộc đời đức Mẹ Maria là cuộc đời của bà Mẹ có trăm nghìn đau khổ nối tiếp nhau kể ra không hết. Tước hiệu Đức Bà Sầu Bi (Our Lady of Sorrows) phần nào nói lên lòng thương cảm và tôn kính của Kitô hữu đối với Đức Bà. Lòng tôn kính này phổ biến rộng rãi từ thế kỷ XII. Để Kitô hữu có thể chiêm niệm sự đau khổ của Đức Mẹ một cách cụ thể, Hội Thánh chọn bảy sự thương khó tiêu biểu gắn liền với lịch sử cứu độ của Đức Giêsu để tưởng niệm.

   1. Lời Tiên Tri Của Thầy Cả Simêôn (Sử liệu: Luca 2:22-35; Maria Agreda: The Mystical City of God).

Sau khi sinh nở được 40 ngày, Đức Maria phải làm lễ thanh tẩy và dâng con trai đầu lòng lên Thiên Chúa theo luật Do Thái. Thánh gia hành lễ tại đền Giêrusalem. Trong đền thờ có lão thầy thượng phẩm Simêôn vẫn hằng cầu nguyện xin được gặp Đấng Cứu Độ trước khi ông lìa trần. Một đêm, Thánh Linh cho biết ông sẽ thấy Đấng Kitô vào ngày mai. Hôm sau ông đứng sẵn trước bàn thờ hằng giờ chờ đợi. Ông thấy thánh gia đi tới có hào quang phủ xung quanh. Ông nhận ra ngay con trẻ Giêsu là Đấng Mêsia. Ông ẵm Hài Nhi và xúc động nói: “Giờ đây tôi tớ Chúa xin được ra đi vì mắt tôi đã thấy ơn cứu độ.” Rồi ông nói với Đức Maria: “Hài nhi sẽ là dấu cho người ta chống đối và là sinh mệnh cho nhiều người ngã xuống hay chỗi dậy trong dân Israen. Còn bà! Một lưỡi gươm sẽ xuyên thấu hồn bà, nhờ vậy mà ý nghĩ trong những tâm hồn khác được phơi bày.”

   Tuy được Thánh Linh chỉ dẫn nhưng phát ngôn của Simêôn chỉ là một trực giác siêu hình, không phải là một hiểu biết, nên ông không thể giải thích. Cả Simêôn lẫn Đức Bà đều cảm nhận một cái gì cao cả bao la và hàm chứa nhiều điều không thể khai triển. Những điều này may ra có thể hiểu được khi chúng ứng nghiệm trong thời gian. Hài Nhi Giêsu được xác định là một đối tượng bị khổ nạn (trong xứ Israen) và sẽ mang lại đau khổ cho cha mẹ. Đây là một đau khổ nội tại, như một thiên mệnh. Có bà mẹ nào không đau lòng khi biết số phận tương lai con mình như vậy. Nỗi khổ nạn của Hài Nhi không thể tránh vì nó không phải là một tai nạn nhưng là nền tảng siêu việt phát sinh ra sự sống cho nhiều người. Cũng vậy lưỡi gươm đâm thấu tim đức Maria không thể bỏ, vì nó là nguồn vận hành cho các ý nghĩ (ý thức về Thiên Chúa) của nhiều tâm hồn được nẩy nở. Đức Maria âm thầm chịu đựng sự đau khổ từ phút nghe Simêôn nói. Đức Mẹ hồi hộp không biết cái gì sẽ xảy ra trong ngày mai, nên chỉ biết kéo dài sự thổn thức lo lắng cho đến hết đời mình.

   2. Lẩn Trốn Qua Ai Cập (Sử liệu: Mt 2:13-18; Maria Agreda: The Mystical City of God; The Revelations of St. Bridget).

   Khi Đức Giêsu sinh ra, vua Hêrốt được ba đạo sĩ cho biết có vua Do Thái mới ra đời. Hoảng sợ bị mất ngôi, Hêrốt ra lệnh tìm giết Hài Nhi. Sau buổi lễ thanh tẩy nói trên được 5 ngày, thánh Giuse được thiên sứ báo tin dữ trong giấc mộng. Nửa đêm, thánh vội vàng thu tóm đồ đạc, lén lút mang Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập. Gia tài của thánh gia chỉ có 1 con lừa và ít mẩu bánh khô. Bấy giờ trời còn trong mùa Đông giá buốt, Đức Mẹ chỉ là cô gái yếu đuối 17 tuổi, còn Hài Nhi thì mới sinh. Cuộc đi trốn bằng đường bộ dài 400 dặm xuyên qua sa mạc và những cánh rừng hoang. Họ đi ban ngày, ban đêm ngủ trên cát sa mạc hay dưới gốc cây trong rừng sâu. Đức Giuse lấy chiếc áo của mình phủ lên vài cây cọc để làm lều cho Đức Mẹ và Hài Nhi trú thân. Sau 30 ngày lạc lõng, đói khát, và giá lạnh, thánh gia thất thểu tới thành Hêlipôli (Thành Mặt Trời), Ai Cập. Thánh gia lưu trú tại đó trong 7 năm trời. Cuộc sống của kẻ di cư hết sức bơ vơ và cùng cực. Đức Giuse làm công thợ mộc và đức Maria đan áo để sinh sống. Đức Giuse thường bị ông chủ bạc đãi không trả tiền công. Nhiều lần cả nhà phải nhịn đói, không có đến một mẩu bánh nhỏ cho Hài Nhi ăn.

   Vì Thiên Chúa truyền cho thánh Giuse đi trốn, nên Đức Mẹ chấp nhận nỗi đau khổ với lòng khiêm nhường vâng theo Thánh Ý. Không phải Đức Mẹ không muốn một hoàn cảnh tốt đẹp hơn theo bản tính tự nhiên của con người, nhưng đức tin và đức cậy thuần khiết giúp Đức Mẹ vượt lên trên những ước vọng cá nhân trần thế. Vì thế Đức Mẹ càng nhẫn nhục trong đau khổ thì lại càng chìm sâu trong tình yêu Thiên Chúa. Nhờ đó Đức Mẹ sống trong Thiên Chúa một cách sâu xa. Thánh Benard nói: “Nếu không có đức khiêm nhường thì đức Maria cũng không được Thiên Chúa chấp nhận,” bởi vì Thiên Chúa đã phán: “Ai là kẻ được Ta đoái nhìn, ấy là người khốn khó trong tâm hồn khiêm nhường.” (Is 66:2).

   3. Đức Mẹ Lạc Con Trong Ba Ngày (Sử liệu: Lc 2:41-50; Maria Agreda: The Mistical City of God).

   Lúc Đức Giêsu lên 12 tuổi, Thánh Gia tới đền Giêrusalem để dự lễ Vượt Qua. Tới nơi gia đình tách ra làm hai, vì theo tục lệ phái nam và phái nữ có chỗ thờ tự riêng trong đền thờ. Xong lễ hai ông bà ra về. Bà tưởng Con đi với ông, trong khi ông tưởng Con đi với bà. Sau một ngày đường ông bà gặp nhau bấy giờ mới biết không có Con Trẻ đi theo. Từ đó Đức Mẹ sầu khổ khóc lóc não ruột không ngừng, bà nghĩ rằng có thể nhà vua tìm ra Con Trẻ và đã bắt mang đi. Cả ngày hôm sau ông bà tìm kiếm khắp chỗ, hỏi thăm họ hàng và những người quen nhưng không ai biết gì. Điều đó càng khiến ông bà sợ hãi hơn. Trong