|
|
Số 87 Ngày 24-09-2006
Đức Tin và Lý Trí: Vấn Đề Muôn Thưở - Nguyễn An Thụ Thai Trong Ông Nghiệm- Đỗ Trân Duy Đối Với Bạn Đức Kitô Là Ai?- Trần Duy Nhiên Tìm Hiểu Về Các Thiên Thần – Sưu Tầm Thánh Nữ Tiến Sĩ Giáo Hội – Quang Ánh Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J. Hãy Làm Việc Này Mà Nhớ Đến Ta – Bùi Huy Minh Mỗi Ngày Chọn Một Niềm Vui – Pt. Nguyễn Định Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả,
Tuần lễ từ ngày 9 đến 14 tháng 9 vừa qua là một tuần lễ đáng ghi nhớ của nước Đức cũng như của Giáo Hội Công giáo tại đây: Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI về thăm quê hương lần thứ hai trong tổng số bốn lần tông du thế giới. Ghi lại hình ảnh trong dịp đặc biệt này, báo chí đã mô tả một đoàn gồm nhiều người mặc y phục truyền thống hân hoan chào đón Đức Bênêđictô XVI với rừng cờ và biểu ngữ mang màu sắc của Vatican và Bavarian khi chiếc xe hơi trắng nhỏ chở ngài đi vào trung tâm thành phố Bavarian, quê hương yêu dấu của ngài. Trong chuyến đi này, Đức Thánh Cha đã trở lại Munich, nơi ngài đã làm Tổng Giám mục từ năm 1977 cho đến 1982. Tại đây, trong thánh lễ ngoài trời với khoảng hơn 250,000 người tham dự, Đức Thánh Cha đã lên tiếng: “Thế giới cần đến Thiên Chúa để chiến thắng sự hoài nghi yếm thế của xã hội Tây Phương hiện nay,” cũng như “Họ bị bệnh lãng tai không nghe được những gì liên quan đến Thiên Chúa, đơn giản là vì có quá nhiều tần số khác đã làm đầy đặc tai con người thời nay.” Ngài cũng dành thì giờ để viếng thăm ngôi thánh đường St. Oswald, tại thành phố Marktl am Inn, nơi ngài đã được thanh tẩy, và đến đặt vòng hoa lên mộ của song thân và chị của ngài tại nghĩa trang gần thành phố Regensburg, sau đó dành thì giờ còn lại cho người anh là Đức Ông Georg Ratzinger và bạn bè cũ trong một buổi chiều tại căn nhà cũ tại ngoại ô. Đức Bênêđictô XVI kết thúc chuyến viếng thăm Đức quốc sau thánh lễ vào sáng thứ năm 14/9 cùng với các linh mục và phó tế tại Vương Cung Thánh Đường của giáo phận Freising, nơi mà Ngài đã được thụ phong linh mục vào năm 1951. Đức Thánh Cha đã chấm dứt cuộc viếng thăm Bavaria vào ngày 14 tháng 9 bằng một cuộc chia tay đầy xúc động. Ngài phó dâng quê hương cho “sự bầu cử của các thánh đã sống tại lãnh thổ Đức quốc.” Trong một nghi thức ngắn gọn tại phi trường Franz Joseph Strauss, trước khi lên máy bay về lại Roma, Đức Thánh Cha đã nói rằng chuyến đi này cho ngài cơ hội thấy người dân Bavaria sống đức tin sống động trong một xã hội càng ngày càng tục hoá. Trong chuyến viếng thăm mục vụ này, đặc biệt hơn cả, phải kể đến dịp Đức Bênêdictô XVI về thăm Đại Học Công Giáo Regensburg vào ngày 12/9, nơi mà ngài đã từng là giáo sư giảng dạy môn thần học. Trước một cử tọa rất đông gồm các sinh viên, thần học gia, triết gia và giảng sư đại học, Đức Thánh Cha đã lên tiếng kêu gọi: “Hãy giới thiệu cho thế giới trần tục này một đức tin đơn giản, thấm nhuần tình yêu.” Ngài cho rằng chủ nghĩa thế tục quân sự và ý thức hệ duy vật là mối đe dọa hạnh phúc của nhân loại, vì vậy Tin Mừng cần được rao giảng tức thời cho thế giới. Bài diễn từ trang trọng, súc tích và thâm sâu dành cho giới khoa bảng mời gọi mọi người ý thức lại việc cần thiết của cuộc đối thoại giữa Kitô giáo và thế giới hôm nay, khi mà lý trí và đức tin là vấn đề căn bản. Nhưng trong cả một diễn từ dài với chủ ý mời gọi sự đối thoại giữa tôn giáo và các nền văn hoá, dựa trên cơ sở của đối thoại và lòng khoan dung, khi trích dẫn một câu trong cuộc đối thoại giữa một vị Hoàng đế nước By-zan-tin của thế kỷ 14 là Manuel II Paleologus, và một học giả Ba Tư, ông Ibn Hazn, về chân lý của hai tôn giáo Kitô Giáo và Hồi Giáo, Đức Giáo Hoàng sau đó đã phải bày tỏ sự “tiếc xót sâu xa” về sự hiểu lầm (hay cố ý hiểu lầm) của những người Hồi Giáo quá khích. Câu trích dẫn: “Hãy chỉ cho tôi những điều mới mẻ mà Mô-ha-mét mang lại, người ta chỉ thấy xấu xa và vô nhân, chẳng hạn như lệnh truyền rao giảng đức tin bằng gươm giáo” đã được giới truyền thông lập đi lập lại nhiều lần và tạo sự giận dữ căng thẳng từ các nhóm Hồi giáo quá khích trong những ngày qua. Đã có hàng loạt những cuộc biểu tình bày tỏ sự chống đối Đức Giáo Hoàng. Quốc hội Pakistan còn nhóm phiên họp bất thường để thông qua một nghị quyết mạnh mẽ chỉ trích Đức Thánh Cha, cho rằng Ngài đã xúc phạm đến vị ngôn sứ Mô-ha-mét của Hồi giáo. Tình hình căng thẳng hơn khi người ta đặt bom phá hủy 5 nhà thờ tại Tây Ngạn và tấn công vào cửa nhà thờ tại Basra. Tại Ấn Độ, có những nhóm người giận dữ đốt hình nộm của Ngài. Tệ hại hơn nữa là việc giết hại nữ tu mang tên Leonella Sgorbita tại Somalia như một hành động trả đũa Đức Giáo Hoàng. Cũng tại Somalia, lãnh tụ người Sheikh tên là Abu Bakr Hassan Malin đã thúc giục người Hồi Giáo tìm cách hạ sát Đức Thánh Cha. Một nhóm võ trang khác tại Iraq thề sẽ thực hiện những cuộc tấn công vào Rôma và Vatican. Sự việc này đã gây xôn xao buồn phiền cho nhiều phía, cách riêng với chính Đức Giáo Hoàng. Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã phải đưa thông báo chính thức và lên tiếng khẳng định những lời nói của Đức Thánh Cha “bị diễn dịch trái với những ý hướng của Ngài.” Vatican và thế giới cũng ngỡ ngàng trước các sự việc đang liên tiếp xảy ra và tình hình có thể dẫn đến các xáo trộn trên thế giới với những hậu quả không thể lường trước được. Tuy vậy, vẫn có một số người lên tiếng ủng hộ Đức Bênêdictô XVI, điển hình là nhà văn Waleed Aly, chủ tịch Hội Đồng Hồi Giáo Victoria, một nhân vật được kính nể tại Úc Châu, đã phát biểu trên tờ The Age xuất bản tại Melbourne, khẳng định lập trường và quyền phát biểu những ý kiến về tôn giáo và đức tin của Đức Bênêđíctô XVI tại Đại Học Regensburg. Đặc biệt ông cũng đã lên tiếng chỉ trích những phản ứng bạo động của những người Hồi Giáo và nêu cho nhóm người quá khích này thấy rằng, “Chính những hành động quá khích này đã chứng tỏ cho thấy vì sao chúng ta bị coi là những kẻ bạo động.” Trong tuần lễ vừa qua, nhiều vấn đề đã được đặt ra khi vấn đề bùng nổ dữ dội. Một số bình luận gia đạo đời đặt nghi vấn lẽ nào một vị Giáo Hoàng sâu sắc, uyên thâm về thần học mà lại có thể vô cớ trưng dẫn một câu viết nảy lửa như thế trong bài nói chuyện của mình, dẫu cho đó là dành cho giới học thuật? Phải chăng đây là một cách “mời gọi độc đáo” của Ngài gửi đến thế giới nói chung và Hồi giáo nói riêng, để người ta nhìn lại cái gọi là “bạo lực” thật sự thẳm sâu trong lòng mỗi con người nhân loại? Lời “mời gọi độc đáo” này phải chăng là một thách đố cho thế giới hôm nay bởi vì người ta đang muốn tách rời lý trí với đức tin, đặt Thiên Chúa ra bên ngoài cuộc sống. Có phải chính vì thế mà Đức Giáo Hoàng đã phải lên tiếng trong bài diễn từ tại Đại Học Regensburg, “Không một hành động nào tuân hành theo lý trì mà có thể đi ngược lại với bản tính tự nhiên của Thiên Chúa.” Mà bản tính của Thiên Chúa là gì nếu không phải là Tình Yêu? Một tình yêu cho đi đến cùng trong Bí Tích Thánh Thể. Chính vì thế, khi mà một vài thành phần quá khích đang hung hãn tấn công nơi cách này cách khác thì tại Castel Gandolfo, trong buổi tiếp kiến Hội Đồng Tòa Thánh về Giáo Dân nhóm họp tại Roma từ 20 đến 23 tháng này, Đức Thánh Cha đã kêu gọi cần phải canh tân lại các giáo xứ bắt nguồn từ Thánh Thể và đời sống cầu nguyện. “Cộng đồng tiên khởi ở Jerusalem, kiên trì trong việc lắng nghe giáo huấn của các Tông Đồ, trong sự hiệp thông huynh đệ, trong sự bẻ bánh và cầu nguyện. Đó là một cộng đồng hiếu khách và liên đới, đến độ đặt mọi sự làm của chung” (Cvtđ 2: 42) phải là mẫu gương cho các giáo xứ hiện nay noi theo để “Từ sự kết hiệp mật thiết và liên lỉ với Chúa Kitô, giáo xứ múc được sức mạnh để dấn thân không ngừng trong việc phục vụ anh em, nhất là những người nghèo khổ.” Đức Thánh Cha đã nhắn nhủ với các thành viên của khóa họp của Hội Đồng Giáo Dân lần thứ 22 như thế trong phần đúc kết buổi gặp gỡ này. Hiệp với tâm tình này, Maranatha gửi đến quý độc giả bài viết của một tác giả và là chứng nhân của một giáo xứ sống Bí Tích Thánh Thể nhiệm mầu. Đứng trước những khó khăn hiện nay của những hiểu lầm hoặc dị biệt của các tôn giáo, văn hoá và các quốc gia, phải chăng chúng ta cần đặt lại câu hỏi Đức Kitô là ai, có ảnh hưởng gì với nhân loại và với bản thân tôi? Câu trả lời chỉ được thể hiện bằng chính cuộc đời của từng người chúng ta. Cuộc đời đó, bên cạnh những lời dạy của Thầy Ki-tô, chúng ta có những gương sáng của các Thánh, đặc biệt hai vị thánh nữ tiến sĩ của Giáo Hội sẽ mừng kính trong tháng Mười tới đây: Thánh Têrêxa Avila và Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Trong tâm tình chia sẻ này, Maranatha mời quý độc giả hiệp thông trong lời cầu nguyện để Chúa ban bình an và hiệp nhất cho thế giới, trong Giáo Hội, nhưng trước hết để Chúa đến với từng người trong chúng ta, và lời cầu nguyện luôn vang vọng trong đời mình và trong thế giới hôm nay:
Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!
¶
TIN MỚI NHẬN Trong khi Maranatha 87 chuẩn bị phát hành thì Truyền Thông Công Giáo Quốc Tế (CWN) đưa tin:
“Trong buổi gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI với 22 đại diện các nước Hồi Giáo tại Castel Gandolfo, nước Ý vào sáng thứ hai 25.9 với mục đích “cùng nhau kiến tạo một thế giới hòa bình, huynh đệ mà mọi người thiện chí đều khao khát,” và “đề phòng tất cả các hình thức bất khoan dung và chống lại tất cả các biểu hiện của bạo lực,” Đức Giáo Hoàng đã kêu gọi những người có trách nhiệm của các tôn giáo và các nhà lãnh đạo chính trị cần nhận lấy trách nhiệm trong việc hỗ trợ các quốc gia chống lại mọi hình thức bạo động. Ngài cũng đề cao tầm quan trọng của sự đối thoại giữa các tín hữu Kitô và Hồi giáo phải được tiếp tục phát triển trong tinh thần của sự chân thành và lòng tương kính. Các vị đại sứ của các nước có đa số dân theo Hồi Giáo đều tỏ vẻ rất hài lòng vì cuộc gặp gỡ trong thân tình và cởi mở này, và hy vọng những bạo động trong thời gian vừa qua sớm chấm dứt.
ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ – VẤN ĐỀ MUÔN THUỞ
(Về bài nói chuyện của Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI tại Đại học Regensburg, Đức) Giu-se Nguyễn An
Cuộc viếng thăm mục vụ của Đức giáo hoàng Bê-nê-đi-tô XVI từ ngày 9 đến 14 tháng 9 tại quê hương của Ngài là một chuyến đi mang nhiều ý nghĩa đối với nước Đức, và cũng là chuyến đi đuợc nhiều báo chí đạo đời nhắc đến mặc dù đã nhiều ngày qua đi. Sở dĩ như thế là vì bài diễn văn của Ngài đọc tại trường Đại học Regensburg đã tạo một phản ứng có nhiều bất lợi cho việc đối thoại tôn giáo, đặc biệt giữa Hồi Giáo và Công Giáo, là hai tôn giáo cùng chung niềm tin vào một Thiên Chúa, nhưng lại có quá nhiều dấu vết căng thẳng và đổ máu trong lịch sử phát triển của hai tôn giáo này. Thực ra, bài diễn văn của Đức giáo hoàng trình bày về những vấn đề muôn đời của nhân loại, bài nói chuyện đó nói lên mối quan hệ giữa đức tin và lý trí. Bài phát biểu này được Đức Bê-nê-đíc-tô XVI trình bày trong môi trường học thuật của một đại học, là nơi hướng dẫn con người có lý trí biết suy tư, không phải là một phát biểu cho công chúng bình dân, hoặc là một bài giảng thuyết trong giáo đường. Bài nói chuyện cũng kết hợp những hồi ức của một giáo sư thần học lỗi lạc mà bây giờ đang có vai trò lãnh đạo tinh thần của cả tỷ con người Công giáo trên hành tinh. Trong lãnh vực học thuật và tư duy, người ta có thể nghi ngờ tất cả, để đặt câu hỏi cho mình về những vấn đề niềm tin. Cũng như Descartes đã nghi ngờ tất cả nội dung kiến thức, ngoại trừ chính cái nghi ngờ ấy, rồi từ đó rút ra được chân lý, “Tôi suy tư, vì thế tôi tồn tại.” (Cogito, ergo sum). Con người chúng ta tự hào hơn các sinh động vật khác là do biết tư duy, và dám đặt những câu hỏi đôi khi “xấc xược” như nghi ngờ cả sự hiện diện của một Đấng Tối Cao. Trong tác phẩm “Đêm Đen,” tác giả Elie Wiesel, người được giải Nô-ben hoà bình năm 1986 đã đặt câu hỏi, tại sao phải cầu nguyện, và nhân vật Moishe đã trả lời, “Cầu nguyện với Thiên Chúa trong ta để có sức mạnh hỏi Ngài các câu hỏi thực sự đáng hỏi.” Và Wiesel cũng cho rằng, con người đến gần Thiên Chúa qua những câu hỏi mà ta đặt cho Ngài. Nói lên những điều trên để biết rằng các câu hỏi, các vấn đề đặt ra và các trao đổi để đến gần chân lý là điều không thể không làm, đặc biệt trong môi trường học thuật. Thế nhưng, vấn đề mà Đức giáo hoàng Bê-nê-đi-tô XVI đặt ra đã không được người đối tác chấp nhận. Đúng ra, những người đối tác trực tiếp mà Ngài nói đến thì có thể chấp nhận dễ dàng, nhưng thông tin và phản ứng của giới quá khích Hồi giáo đã đi quá vấn đề Ngài đặt ra khi mời gọi con người “suy nghĩ lại.” Quan niệm thánh chiến Jihad của người Hồi giáo được mô tả trong sách Qur’am (tên chính thức thay cho chữ Koran) đoạn 9, câu 20 cho rằng: “người tín hữu phải chiến đấu cho Đấng Allah, và nếu cần thì phải hy sinh cả mạng sống.” Suy nghĩ này cũng tương tự như người Công giáo tin rằng nếu cần hy sinh để bảo vệ đức tin vào Thiên Chúa thì mạng sống ta cũng không từ. Nhưng cũng như người Hồi giáo muốn chiến đấu, họ phải đặt Allah lên trên hết, và những động cơ ích kỷ hoặc trần tục không thể là động cơ cho những hy sinh này, thì người Công giáo cũng không thể dùng những động cơ “mở rộng nước Chúa,” khi tìm số đông người theo đạo để chứng tỏ đạo mình đông, tốt và hay hơn các đạo khác. Trong suy nghĩ mở rộng nước Chúa kiểu trên, có ai thực lòng là vì Danh Chúa, hay chỉ vì danh cá nhân mình? Anh em Hồi giáo chân chính hẳn cũng phiền lòng với sự phản ứng bằng bạo động hại người vô tội chỉ vì những động cơ rất cá nhân để “bảo vệ đạo” của mình. Người ta có thể cho rằng vì Thiên Chúa là Đấng Siêu Việt, ta không thể hiểu hết động cơ của Ngài, nên nếu Chúa muốn, con người cũng phải thờ thần tượng cho “đúng ý Chúa.” Có người dùng lý lẽ như trên để giải thích sự dữ và đau khổ trên thế gian, cho rằng có khi sự dữ, sự khổ là do Ý Chúa. Khi chấp nhận lối suy nghĩ như thế, con người đã vô tình đẩy Thiên Chúa ra khỏi phạm vi lý trí, mà theo họ, lý trí đó chỉ là sản phẩm của tư duy Hy lạp, là một trong muôn vàn lối tư duy của một vùng địa lý nhỏ bé mà thôi. Cũng theo lý luận trên, vì là sản phẩm của Hy lạp, tức là sản phẩm ứng nhập văn hoá riêng của Hy lạp, nên ta có quyền từ chối không chấp nhận lý trí này. Giáo hội Công giáo trái lại, luôn tin rằng mặc dù giữa Thiên Chúa và con người có sự cách biệt vô cùng lớn lao không thể nào so sánh được, nhưng sự cách biệt này không loại trừ mối tương quan và hiểu biết đi ngược lại lý trí con người. Thiên Chúa đã làm người và ở cùng chúng ta. Một Thiên Chúa hiện thân của Lời (Logos), tức là Ngôn và Lý, đã mặc khải chính Thiên Chúa để chúng ta biết mà tin và bước vào cuộc sống vĩnh cửu với Ngài. Thiên Chúa đó không làm những điều phi lý, mặc dù đôi khi chúng ta không hiểu hết được Thánh Ý của Ngài. Cuộc tìm kiếm Thánh Ý theo lý trí của con người, do đó, phải được tiếp tục không ngừng, và chính đó là mục đích của các Trường Đại Học, đặc biệt là mục đích của các Khoa Thần Học. Trong quá khứ, theo như bài nói chuyện của Đức Giáo hoàng Bê-nê-đi-tô XVI, đã có ba lần người ta muốn loại trừ lý trí ra khỏi niềm tin, cho rằng đó chỉ là sản phẩm tư duy của người Hy lạp. Lần đầu tiên do anh chị em Cải Cách muốn tin vào Kinh Thánh mà thôi, còn tất cả những tư duy thần học dựa trên triết học đều bị loại trừ. Họ cho rằng đó là niềm tin chân chính. Đến khi triết gia Kant nói rằng phải bỏ qua lý trí tư duy để mà tin thôi, thì các nhà Cải Cách thấy vấn đề đã đi quá xa. Đức tin kiểu này chỉ cắm neo vào thứ lý trí thực dụng, không tiếp cận được trọn vẹn hiện thực. Lần thứ hai xảy ra vào các thế kỷ 19 và 20, khi người ta muốn phân biệt giữa Thiên Chúa của các triết gia và Thiên Chúa của A-bra-ham, I-sa-ac và Gia-cóp. Những người theo suy nghĩ này cho rằng Chúa Giê-su đã đặt dấu chấm hết vào việc thờ phượng, thay vào đó Ngài đề cao một tính luân lý. Mục đích của họ là đem Ki-tô giáo hoà hợp với lý trí hiện đại, tức là phù hợp với thứ khoa học cân đong đo đếm được. Khi đề cao vào một thứ khoa học được kiểm nghiệm bằng kỹ thuật, con người đã bắt khoa học nhân văn phải phù hợp với khoa tự nhiên, mà như thế chính là làm cho sự hiểu biết con người hạn hẹp lại. Ai trong chúng ta cũng biết, con tim có những lý lẽ riêng của nó, (Pascal) mà không có thứ cân khoa học nào có thể đo lường. Một sai lầm lớn hơn của lối suy nghĩ này là khi chấp nhận suy tư “khoa học” như thế, con người đã chối từ Thiên Chúa. Người ta không thể cân, đong, đo đếm hay quan sát hết các hiện tượng siêu nhiên, đừng nói đến làm như thế với Đấng Vô Hình. Rồi vì không làm được như thế, việc gạt bỏ Đấng Vô Hình đó ra ngoài tư duy con người là chọn lựa dễ dàng hơn cả. Lần thứ ba người ta muốn từ bỏ lý trí, cho rằng với niềm tin, lý trí chỉ là sản phẩm Hy lạp, và ứng nhập văn hoá Hy lạp thì chỉ có giá trị riêng cho tư duy Hy lạp thôi. Tuy nhiên, ai cũng biết rằng Tân Ước được viết bằng Hy lạp, và mang dấu ấn tinh thần Hy lạp, không phải là một sản phẩm dịch thuật để nói rằng đấy chỉ là một ứng nhập văn hoá riêng cho Hy lạp. Thực ra, những quyết định căn bản về đức tin và lý trí chính là một bộ phận của đức tin, phát triển cùng đức tin, và không thể nói đức tin mà không nói đến lý trí. Đức tin cũng là một ân huệ, nhưng cũng là một quyết định của lý trí, có thể kết luận như thế mà không sợ sai lầm. Diễn từ của Đức Thánh Cha tại Đại Học Regensburg rất súc tích, lời kêu gọi đối thoại thật rõ ràng (với người quen suy tư), và vấn đề đặt ra cho thấy tư duy của một nhà thần học triển nở cao độ. Tiếc thay, một số người chỉ nhắm vào hoặc “chỉ muốn nghe” “dừng lại” ở một câu trích dẫn trong bài diễn văn đó, để lên án hoặc xuyên tạc thiện ý của diễn giả, và trong khi đó thì một số quần chúng bị xách động để nhìn thấy vấn đề hạn hẹp, để rồi bạo lực đã xảy ra. Câu hỏi của Đức Bê-nê-đi-tô XVI đã không chỉ dành cho thế giới Hồi giáo, nhưng đặt vấn đề cho xã hội phương Tây, nơi mà Thiên Chúa đã và đang bị gạt ra ngoài tư duy, khỏi chính sách lập pháp để đề cao một xã hội thế tục hoàn toàn. Vấn đề cũng lộ rõ thêm khi đối diện với một xã hội tục hoá như thế, thì một thế giới Hồi giáo lại rất trung thành với sách Qur’am chỉ nhìn và hành xử theo một cung cách đức tin, có thể bị biến dạng bởi sự từ chối lý trí trong đức tin này, sẽ là một vấn đề lớn cho thế giới. Khi tôn trọng niềm tin của nhau, chúng ta cũng cần có lý trí, nếu không, thì khá nhất là so sánh niềm tin của “tôi” khác niềm tin của “anh”, mà tệ hơn là niềm tin của “tao” đối đầu với niềm tin của “mày.” Khi nhìn nhau bằng kẻ thù, dù dựa trên một niềm tin nào đi nữa, thì con người rất dễ trông nhờ vào bạo lực để giải quyết những xung đột, những căng thẳng mà người ta không thấy lời giải đáp nào hơn là nghiền nát kẻ thù. Nếu phải đến như thế, như chúng ta vẫn thấy mỗi ngày trong những xung đột của thế giới, thì văn minh tiến bộ của con người chỉ là con số không to tướng, và người ta chỉ thấy tương lai sẽ lập lại những Hiroshima, Pearl Harbor, 9/11, và của chiến tranh tương tàn không bao giờ ngưng nghỉ. Lúc bấy giờ, chúng ta chỉ có thể thốt lên, “Than ôi, cái thời chưa khai hoá!”● Ghi chú 1. Bài nói chuyện của Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI là một diễn từ mang tính triết học và thần học. Đọc và thông hiểu được trọn vẹn bài diễn văn này không dễ dàng như đọc chuyện Da Vinci Code. Thế nhưng, đang khi Da Vinci Code đầy những xuyên tạc, bóp méo và kết hợp thực hư lẫn lộn thì tác giả không những không bị đe doạ mạng sống, mà còn thu lợi nhuận khổng lồ. Trong khi đó, khi trình bày trong một môi trường học thuật và nghiên cứu, thì câu Đức Giáo Hoàng trích dẫn trong bài nói chuyện, lời nói của một vị Hoàng đế nước By-zan-tin vào thế kỷ 14, lại bị lên án nặng nề. Đức Giáo hoàng đã bị đe dọa, nhiều nhà thờ Công giáo bị ném bom, một nữ tu người Ý đã bị hạ sát. Câu trích dẫn trong bài diễn văn của Đức Bê-nê-đic-tô XVI như sau: “Hãy chỉ cho tôi những điều mới mẻ mà Mô-ha-mét đã mang lại, ta chỉ thấy xấu xa và vô nhân, chẳng hạn như lệnh truyền rao giảng đức tin bằng gươm giáo.” Một số bình luận gia cho rằng với cương vị một lãnh tụ tôn giáo, Đức Giáo Hoàng không nên đề cập đến câu trích này. Còn nếu đã trích, vẫn theo ý kiến một số người, thì nên nhấn mạnh đây là câu trích, không phải ý kiến riêng mà Ngài đồng tình. Hoặc Đức Thánh Cha có thể nói thêm rằng trong quá khứ, người Công giáo cũng đã có những lần dùng lưỡi gươm bên cạnh thập giá để truyền đạo. Tuy nhiên, để chuẩn bị cho câu trích này, Đức Giáo hoàng cũng đã trích một phần câu 256, chương 2 sách Qur’am của Mô-ha-mét. Trọn câu viết rằng, “Không có cưỡng bức trong tôn giáo. Sự thật không thể sai lầm: ai từ bỏ tà đạo, và tin vào Allah thì đã nắm chắc được Điều đáng tin cậy không gì bẻ gẫy được, và Allah nghe và biết mọi sự.” 2. Anh chị em Hồi giáo, gọi là Muslim, có nghĩa là người quy phục Thiên Chúa, cũng thờ một Thiên Chúa. Đó là những người tin vào đạo Hồi, gọi là Islam, tiếng Ả rập mang ý nghĩa phó thác, tùng phục, dấn thân và hoà bình. Đạo Hồi tin ngôn sứ Giê-su, nhưng không tin Chúa Giê-su là con Thiên Chúa, vì họ tin chỉ có một Thiên Chúa. Người Hồi giáo cũng tin rằng Thiên Chúa Allah là duy nhất, sách Qur’am là kinh cao quý nhất, và ngôn sứ cuối cùng là Mô-ha-mét. Tuy có hơn 1 tỷ 200 triệu người Muslim trên khắp thế giới, nhưng chia ra hai phái chính là Sunni (90%) và Shi’ism (10%). 3. Theo như giải thích chính thức của Hội đồng Giáo dục Hồi giáo tại Hoa kỳ, danh từ Jihad tiếng Ả rập có nghĩa là “cố gắng, phấn đấu.” Các nghĩa khác cũng bao gồm kiên trì, đấu tranh. Thường được hiểu đây là nỗ lực cố gắng cho bản thân, nhưng cũng có thể là chiến đấu để bảo vệ mạng sống, tài sản, đức tin của mình hay của người khác. Vì thế, cũng theo Hội đồng này, không nên dùng từ Jihad để nói lên ý “thánh chiến.” Tuy nhiên, trên thực tế, các phái Hồi giáo quá khích hay dựa vào khái niệm này để tạo ra những cực đoan bạo động. ¶ Đỗ Trân Duy LTS: Để trả lời cho một số thắc mắc của độc giả về việc thụ thai trong ống nghiệm và lập trường của Giáo Hội, Maranatha trân trọng giới thiệu bài nghiên cứu của tác giả Đỗ Trân Duy sau đây. Cám ơn tác giả Đỗ Trân Duy đã nhận lời giúp nghiên cứu về đề tài tế nhị này để đáp ứng mong ước hiểu biết của quý độc giả.
Hiếm muộn con cái là vấn đề lớn của văn hóa và nhân sinh. Từ xưa người ta giải quyết bằng cách cho người chồng lấy vợ khác. Công Giáo khuyến khích phương án nhận con nuôi. Ngày nay y khoa đưa ra kỹ thuật thụ thai trong ống nghiệm (TTTON). Kỹ thuật TTTON được phát minh vào đầu thập niên 70. Người đầu tiên ra đời bằng phương pháp này là cô Louise Brown, sanh tại bệnh viện Oldham, Anh quốc, năm 1978. Cả thế giới xôn xao trong ngày sinh của cô. Giới truyền thông gọi cô là “bé ống nghiệm” (test-tube baby). Từ đó đến nay đã có cả triệu trẻ em được sinh ra theo kỹ thuật TTTON. Trên bình diện khoa học, đó là một bước tiến về y học và kỹ thuật, nhưng đàng khác TTTON đã có quá trình lạm dụng trong hành vi trợ sinh nhân tạo. Vì vậy, TTTON là một vấn nạn luân lý thường xuyên cần được tái thẩm định. Tiến Trình Thụ Tinh Trong Ống Nghiệm
Năm 1969, nhà sinh lý học Robert Edwards và bác sĩ Patrick Steptoe, Anh quốc, đã thành công trong việc rút trứng trong tử cung ra rồi nuôi nó trong một dung dịch hóa chất. Dựa vào kết quả đó, kỹ thuật TTTON ra đời. Có 4 thể thức được áp dụng để đi tới mục tiêu. Căn bản chung vẫn là việc thụ thai không do cha mẹ giao hợp, nhưng do sự phối hợp nhân tạo của phòng khảo nghiệm. Sau khi những phôi bào thành hình chúng mới được chuyển vào tử cung của người mẹ. 1) Kỹ thuật IVF (in vitro fertilization, thụ thai trong ống nghiệm) Phát minh ở Anh, năm 1970. Chuyên viên ngành phôi bào dùng thuốc kích thích để có nhiều trứng chín (số lượng có thể lên tới 12 trứng). Họ lấy những trứng này từ tử cung ra rồi nuôi chúng trong ống nghiệm. Sau đó họ lấy trứng và tinh trùng của người chồng trộn với nhau trong một cái dĩa thủy tinh. (“in vitro”, tiếng Latin, có nghĩa “trong dĩa thủy tinh”). Tinh trùng và trứng phối hợp, vào khoảng 12 giờ sau thì thành phôi bào ([1]). Phôi bào được nuôi trong khoảng 5 ngày. Đó là thời gian để các chuyên viên theo dõi để loại bỏ những phôi bào hư khuyết hay có mầm bệnh. Cuối cùng họ chọn một số phôi bào lành mạnh đặt nó trở lại trong tử cung của bà mẹ. 2) Kỹ thuật GIFT (gamete intra-fallopian transfer, chuyển giao tử qua ống dẫn trứng) Được giới thiệu vào năm 1984 tại Mỹ. Đây là phương pháp IVF cải thiện. Khi việc thụ thai thành công, những phôi bào tốt thay vì được nuôi trong dĩa thủy tinh thì chúng được nuôi trong ống dẫn trứng của bà mẹ. Như vậy chúng được sống trong môi trường thiên nhiên trong bụng mẹ. Khi đến thời hạn chúng sẽ tự động rơi xuống tử cung. Phôi bào sau đó phát triển thành thai nhi. 3) Kỹ thuật ZIFT (zygotes intra-fallopian transfer, chuyển hợp tử qua ống dẫn trứng) Cũng như phương pháp GIFT, nhưng khác về thời gian dẫn chuyển. Với kỹ thuật ZIFT, sau khi tinh trùng phối hợp với trứng đến lúc hợp tử tăng trưởng từ 6 đến 12 tế bào thì được chuyển ngay vào ống dẫn trứng của bà mẹ. Chúng sẽ phát triển thành phôi bào sau đó, rồi tự động theo ống dẫn trứng rơi xuống tử cung của bà mẹ. 4) Kỹ thuật ICSI (intra-cytoplasmic sperm injection, thụ tinh nhân tạo) Sáng tạo ở Bỉ, năm 1990. Trường hợp người chồng quá ít tinh trùng. Chúng không đủ sức kết hợp với trứng. Nhà phôi bào học dùng một kim chích thật nhỏ hút con tinh trùng lành mạnh, rồi bơm thẳng nó vào trung tâm của trứng, để tạo cuộc thụ thai. Sau khi sự kết hợp thành công, một số phôi bào tuyển lựa được đặt vào tử cung của người vợ theo phương pháp IVF.
Những Dữ Kiện Liên Hệ TTTON không phải là phương pháp hoàn hảo. Mọi người chỉ biết phôi bào Louise Brown thành công, nhưng không biết đã có 500 trường hợp thất bại xảy ra trước đó. Mặc dù với kỹ thuật hiện tại, rất nhiều phôi bào bị hư trước khi có một vụ thành tựu. Cho đến nay sự thành công chỉ có 15%. Theo thống kê của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật (Center for Disease Control) trong năm 1999 có 86,822 vụ thực hiện TTTON. Tổng số trứng đậu là 21,501 vụ. Tổng số phôi bào được tạo nên là 170,000. Như vậy số phôi bào dư thừa là 83,178. Sự khó khăn cũng xảy ra trong mỗi vụ thụ thai. Nếu chỉ chuyển một phôi bào vào tử cung cơ hội thành công sẽ rất mong manh. Nhưng nếu chuyển nhiều phôi bào một lần, có thể sẽ có vài phôi bào cùng đậu, bà mẹ sẽ sanh đôi hay sanh ba. Theo quy tắc chung, người ta chuyển phôi bào làm nhiều lần (cycle), mỗi lẩn có số lượng phôi bào khác nhau tùy theo mỗi phòng mạch. Những phôi bào còn dư sẽ ra ra sao? Có nơi cha mẹ chúng hiến tặng chúng cho viện nghiên cứu tế bào gốc. Có nơi người ta hủy bỏ hoàn toàn. Có nơi người ta đông lạnh chúng để lưu trữ. Anh quốc chỉ cho phép lưu trữ đông lạnh trong 10 năm. Bên Mỹ thời gian đông lạnh tùy theo quy định riêng của mỗi phòng mạch. Khi hết hạn lưu trữ, nếu muốn dùng lại phôi bào vấn đề hư hỏng nhất định phải đặt ra. Tuy nhiên cho đến nay không có luật lệ nào kiểm soát trình trạng này. Cũng có rất nhiều trường hợp vợ chồng ly dị hoặc qua đời. Những phôi bào đông lạnh của họ trở thành mồ côi. Không ai chịu trách nhiệm về chúng. Có nhiều phụ nữ đã lớn tuổi hoặc còn trẻ nhưng trứng có mầm bệnh. Có những nam nhân không có tinh trùng. Để có con, những người này phải xin trứng và tinh trùng của người khác. Vì vậy có hiện tượng bán trứng và tinh trùng. Năm 1998, Trung Tâm Y Khoa St. Barnabas trả $5000 cho người hiến trứng. Giá biểu này nhiều gấp đôi so với những trung tâm cạnh tranh khác.
Những Xáo Trộn Do Phương Án TTTON Gây Ra Những lạm dụng của TTTON đã trở nên phổ thông. Xin dẫn chứng một số trường hợp cụ thể: Cấy lầm phôi bào. Một vụ án nổi tiếng tại New Jersey về trường hợp sanh đôi. Bác sĩ đã cấy lầm phôi bào của người khác vào tử cung của thân chủ. Hậu quả là bà mẹ có hai con, nhưng một bé da đen và một bé da trắng. Tại California, trong lúc bà vợ có thai thì cặp vợ chồng được giấy báo cho biết đã có sự lầm lẫn. Phôi bào của họ vẫn còn giữ trong phòng mạch. Đôi khi bác sĩ cố tình lạm dụng quyền hành của mình. Năm 1996 truyền thông khám phá ra bác sĩ của Đại Học California Irvine đã lấy phôi bào dự trữ cấy vào tử cung của bà muốn có con, nhưng không có sự chấp thuận của người hiến tặng. Mang thai với tinh trùng của người chết. Năm 1999 bà Baby Vernoff ở Los Angeles sinh ra hài nhi qua TTTON với tinh trùng của chồng bà, nhưng ông này đã chết trước đó 4 năm. Tinh trùng của ông đã được đông lạnh khi ông còn sống. Điều này trái với nguyên tắc, bởi vì đứa con được sinh ra bất cần sự đồng ý của người cha. Nó tạo ra vấn đề vì người chết không thể phản đối, nếu người giám hộ muốn sử dụng tinh trùng của họ trong ý đồ riêng thì sẽ ra sao. Thêm nữa, tâm trạng của đứa trẻ sẽ ra sao khi cha nó là một người chết. Mang thai thế. Với TTTON, phụ nữ có thể mang thai mà không cần có giao hợp nam nữ. Vì vậy nhiều bà có tử cung hư hỏng đã nhờ người khác mang thai thế cho mình. Ở Mỹ đa số những người mang thai thế là những người được mướn bằng tiền. Nhưng đã xảy ra hiện tượng hai bên là thân thích của nhau. Năm 1987, một bà ở Nam Phi mang thai giùm cho con gái. Bà đã sinh ra ba đứa trẻ. Năm 1991 ở Mỹ, bà Arlette Schweitzer mang thai thế cho con gái. Bà đã sinh đôi. Mẹ quá tuổi và loạn luân. Thể thức TTTON cho phép những bà độc thân thụ thai với tinh trùng của người đàn ông không phải là chồng họ. Bà cụ Adriana Liescu 63 tuổi, Lỗ-ma-ni, có con bằng thể thức TTTON. Người ta tin rằng bà sẽ để lại đứa bé mồ côi trong một ngày không xa. Năm 2001 tại Pháp, một cô có thai bằng trứng hiến tặng và tinh trùng của anh cô. Những trẻ con không cha. Những người đàn bà độc thân và những cô gái đồng tính luyến ái dùng phương pháp TTTON để có con. Họ đã tạo ra những gia đình không có người cha. Con của họ ra đời nhưng không biết cha mình là ai. Mọi nghiên cứu khoa học đều công nhận người cha là một yếu tố quan trọng trong đời sống tâm lý của đứa trẻ Những con trẻ không cha và không mẹ. Ông John và vợ là bà Luanne không thể có con. Họ mướn bà Pamela mang thai với phôi bào “dư thừa” của một người nào đó. Vài tháng sau 2 người ly dị. Đứa bé ra đời được Luanne nuôi và được đặt tên là Jaycee. Luanne đưa John ra tòa đòi tiền cấp dưỡng đứa trẻ. John từ chối cấp dưỡng vì Jaycee không phải là con của mình. Đồng thời Luanne cũng không phải là mẹ nên không có quyền đòi hỏi. Tòa Tối Cao California đồng ý và tuyên bố Jaycee không có cha và cũng không có mẹ. Vị thế hàm hồ của liên hệ mẫu tử. Ông Mark và vợ Crispina Calvert mướn bà Nana Johnson mang thai. Lúc đứa bé ra đời bà Anna đổi ý đòi giữ đứa bé. Tòa Tối Cao California, năm 1990, lúng túng khi phân xử quyền mẫu tử giữa mẹ đẻ và mẹ ruột. Toà phải dựa vào văn tự hành chánh để xét xử. Tòa bác bỏ quyền giữ con của bà Anna vì bà đã ký một giao kèo mang thai thế cho bà Crispina. Nếu bỏ ra ngoài tờ giao kèo này, khó có thể xác định ai là mẹ của đứa bé. Lập Trường Của Giáo Hội Công Giáo Văn kiện chính thức của Giáo Hội về chủ đề tôn trọng nhân sinh là văn kiện Donum Vitae (Ơn Huệ của Sự Sống), năm 1987. Thông điệp Donum vitae khảng định TTTON sai lầm trên nguyên lý đạo đức. Thiên Chúa ban cho con người được quyền sinh sản nhưng không được quyền sản xuất mạng sống qua những tiến trình nhân tạo. “Con trẻ là một tặng phẩm không phải là món nợ” (Giáo Lý #2378). Bỏ rơi luật Thiên Chúa, con người sẽ chỉ nhận được những hỗn loạn. Giáo Hội khảng định tình ân ái vợ chồng phải hội đủ 2 yếu tố: 1) Hai-thân-xác-nên-một (giáo lý hôn ước). 2) Sáng tạo sự sống mới (giáo lý sinh sản). Giáo Hội phủ nhận tuyệt đối kế hoạch sinh con cái ngoài hôn nhân và không qua thể thức thụ thai thiên nhiên. TTTON đã phá hủy giá trị gia đình vì tách rời sự thụ thai qua sự giao hợp giữa cha và mẹ; đã đặt sự can thiệp của người thứ ba vào cuộc hôn nhân. Tất cả những sự kiện như hiến trứng, hiến tinh trùng, đông lạnh hoặc tiêu hủy phôi bào đều không thể chấp nhận. Nó “vi phạm quyền con trẻ được sinh ra bởi cha mẹ ruột đã kết hợp trong hôn ước” (Giáo Lý # 2376). Giáo Hội phản đối hành vi hủy hoại phôi bào cùng với lý do phản đối phá thai. Các chuyên viên đã tự quyền định đoạt số mạng của những người không có khả năng tự vệ. Danh xưng “dư thừa” tự chính nó đã phỉ báng nhân phẩm của những phôi bào bị bỏ rơi. Hành vi này có thể dẫn tới chủ nghĩa ưu sinh. Con người phải được nhận diện và tôn trọng ngay từ giây phút thụ thai. Thiên Chúa biết rõ cá nhân trước khi được sinh ra. Người tạo hình cho cá nhân từ trong bụng mẹ (Jer 1:15). Xâm phạm quyền sống của phôi bào là xúc phạm Thiên Chúa và phạm tội sát nhân. Ngoài Donum Vitae, còn có rất nhiều văn thư của Giáo Hoàng và của các vị Giám Mục phản đối kỹ thuật TTTON. Chẳng hạn, năm 1988 Hội Đồng Giám Mục Mỹ gửi kháng thư phản đối chính phủ ủng hộ TTTON. Lý do vì có tới 95% phôi bào dư thừa bị hủy bỏ, hoặc bị dùng làm mẫu thí nghiệm. Hội Đồng nhận diện những phôi bào bị đông lạnh trong thời kỳ thành người là những con trẻ bị đông lạnh. Chúng không phài là khối tế bào đông lạnh. Năm 1995 đức Gioan Phaolô II, qua tông huấn The Gospel of Life (Tin Mừng về Đời Sống), tái khảng định nhân phẩm và quyền sống của phôi bào. Năm 2001, trước sự kiện trứng, tinh trùng và phôi bào được rao bán, Hồng Y Sean P. O’Malley, Giám Mục Boston, báo động rằng khoa học kỹ thuật đang thành lập xưởng chế tạo người. Họ đã mở cửa cho sự dữ xâm nhập vào đời sống. ([2])
Nhận Định Của Các Nhà Thần Học Quan điểm của TTTON đã sai lầm trên nguyên lý. Kỹ thuật TTTON chỉ cần 3 thành tố: trứng, tinh trùng, và tử cung. Rõ ràng mỗi thành tố này đều có thể đến từ những nguồn khác nhau. Ngoài ra lại có vấn đề dùng phương thức thủ dâm để lấy tinh trùng trong đa số trường hợp. Sự phối hợp của 3 thành tố đã tạo ra tình trạng hỗn loạn về luân lý và pháp luật. Khi đứa con sinh ra không phải từ trứng/tinh trùng của mình, bóng đen của “người cha/mẹ huyền bí” sẽ là một ám ảnh cho người chồng/vợ và đứa con. Khi một bà mang thai cho con dâu hay con gái, đứa trẻ sinh ra sẽ là cháu hay con? Về liên hệ sinh thể nó có cha mẹ theo di truyền, nhưng về liên hệ gia tộc nó lại là em của cha mẹ nó. Có chiều hướng chọn lựa phôi bào dựa trên quyền lợi. Cha mẹ sinh ra con cái không phải trong tình yêu thương thuần túy vô điều kiện. Ngược lại họ có điều kiện là chỉ chọn những đứa con hợp ý cho ra đời. Ở Á châu còn có nhu cầu chỉ muốn có con trai. Để vừa ý người đặt hàng, các chuyên viên đã phải sửa đổi, tuyển lựa, hoặc giết bỏ những phôi bào không thích hợp. Số phận của những phôi bào trong ngục tối đông lạnh cũng được định đoạt dựa trên quyền lợi. Do đó trứng, tinh trùng và phôi bào đều bị coi là những vật liệu. Tự quyền sinh sát này chẳng khác gì sự thanh lọc của nhóm Đức Quốc Xã. Với những người lớn tuổi và những vụ thụ thai loạn luân, “người chủ” chỉ để ý tới sở thích của mình hơn là tới sự an nguy và sự phát triển một tâm hồn lành mạnh của con trẻ. Họ, những “người chủ”, đã coi người khác như tài sản của mình. Một kỹ thuật phi nhân bản. Chủ đề của của nhóm ủng hộ kỹ thuật TTTON cho rằng “phôi bào tiền thời” (pre-embryonic) chỉ là một khối tế bào chưa phải là người. Danh xưng “phôi bào tiền thời” chỉ là tên gọi do họ đặt ra để tránh né đối tượng đạo đức. Danh xưng này không có trong ngôn ngữ sinh vật học. Phôi bào dù chưa phải là một cá nhân (human person) nhưng vẫn là một nhân thể (human individual). Nó là một thực thể mà nếu không có nó cá nhân và mọi giá trị sẽ không hiện hữu. Dù có cho phôi bào chưa phải là người cũng vẫn phải chấp nhận bản chất người của phôi bào. Như vậy không lẽ nhân loại có 2 ngành. Một ngành có bản chất người và một ngành là người. Không phải cái “bản chất người” được sinh ra, nhưng một cá nhân. Trước sau chỉ là một người. Lầm lẫn giữa bản thể siêu việt và thể chất. Một số nhà khoa bảng lập luận rằng một cá thể chỉ có thể được coi là người nếu nó có trung tâm thần kinh. Luận cứ này không có cơ bản sinh vật học. Sự thành hình của một cá nhân là một tiến trình liên tục theo luật di truyền và bắt đầu từ lúc 2 giao tử kết hợp. Từ đó sự sống liên tục không có sự phân chia hữu hình giai đoạn nào quan trong hơn giai đoạn nào. Triết học và y học không thể dựa vào cấu trúc thể xác làm biểu thị để định nghĩa về con người. Tinh túy của con người bắt nguồn từ sự sống không phải từ một dạng thể vật chất. Siêu việt hơn động vật, con người còn có linh hồn. Linh hồn không thể là đối tượng để quan sát như vật thí nghiêm trong phòng mạch hay phân tích bằng những khái niệm triết học. Nếu không chấp nhận linh hồn đã có từ giây phút thụ thai, không ai dám nói vào giai đoạn nào phôi bào có linh hồn và giai đoạn nào chưa có linh hồn. Phương án TTTON mất phương hướng vì đã coi hiếm muộn như bệnh tật. Sự hiếm muộn không đơn thuần là chủ đề của y học mà còn là chủ đề của luân lý và nhân sinh. Vì cho hiếm muộn là bệnh tật nên y khoa đã đi lạc đường. Để bảo đảm thành công, phòng thí nghiệm đã tạo ra nhiều phôi bào hơn là số cần dùng. Với những lần thụ thai nhân tạo bất thành, số lượng phôi bào bị chết yểu lên rất cao. Số phận của tất cả phôi bào đều bị đặt trong tình trạng nguy hiểm. Dù phôi bào có thành tựu và thai nhi được sinh ra, nó cũng không đáp ứng trọn vẹn ý nghĩa là hoa trái kết hợp của cha mẹ. Nó không phải là “được sinh ra” nhưng là kết quả của tác động “được tạo thành” trong sự phân ly cha mẹ. Con trẻ được sinh ra theo kỹ thuật TTTON không có lỗi gì cả, nhưng nguyên lý TTTON là sai lầm. TTTON là tội ác vì đã hủy bỏ những phôi bào dư hoặc ngục tù chúng trong đông lạnh rồi quên lãng chúng trong cõi u tối. Chuyên viên muốn đóng vai Thượng Đế. Thần học nhận định rằng phôi bào có nguồn sống từ Thiên Chúa, được sinh ra trong yêu thương, trong hình ảnh Thiên Chúa, và cũng được cứu chuộc bởi Chúa Giêsu Kitô. Vì vậy con người có giá trị nhân phẩm nội tại nhờ nối kết với Thiên Chúa. Giá trị tiên khởi của cá nhân là nét độc đáo duy nhất trong vũ trụ không có trùng hợp hay lập lại. Giá trị này không căn cứ vào những phù phép biến chế của phòng thí nghiệm gán ghép cho cá nhân. Phôi bào phải được đối xử như một cá nhân với tất cả sự tôn trọng phải có. Xúc phạm phôi bào là xúc phạm nhân phẩm con người nói chung. Thiên Chúa ban cho con người ý chí tự do. Nhiều người đã nhân danh tự do để phủ nhận ngay cả Thiên Chúa. Đức Gioan Phaolô II nhận định rằng vấn đề TTTON hiện hữu trong văn hóa, xã hội và tầng cấp chính trị. Tuy nhiên ở những nơi này đã biểu lộ sự tàn ác trong những chiều hướng rối loạn. Chưa bao giờ, cho bằng thời đại chúng ta, lại có sự phổ biến rộng rãi và diễn dịch tội ác chống lại sự sống dưới nhãn hiệu diễn đạt hợp luật của quyền tự do cá nhân. Đáng buồn thay cái gọi là “quyền tự do cá nhân” ấy đang được luật pháp bảo vệ (The Gospel of Life, #18). Trong thế luân lý hỗn mang của nền văn hóa duy lý, Hồng Y Joseph L. Bernardin, địa phận Chicago, kết luận: nói cho cùng, cặp vợ chồng phải can đảm tự quyết định con đường phải theo● ¶
Trần Duy Nhiên
ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ AI?
Những người đồng thời với Đức Giêsu thì khó mà có một câu trả lời đúng về Ngài. Đối với những người từng biết Ngài thì đa số cho rằng Ngài là Giêsu, con bà Maria và ông thợ mộc Giuse. Nhưng đồng thời họ cũng thấy nơi Ngài có một cái gì đó vượt hẳn cái thường tình, vượt hẳn những người khác, vì thế nên các tông đồ nhắc lại nhiều ý kiến khác nhau: Đối với người này thì Thầy là Gioan Tẩy Giả, người kia cho là Êlia, người khác nữa thì Giêrêmia hay một tiên tri nào đó... Nhưng đối với Chúa Giêsu, ý kiến của ‘người ta’ không phải là điều quan trọng, mà điều chính yếu là Ngài muốn biết quan điểm của các tông đồ, những cộng sự viên, những người thân cận của Ngài, vì thế Ngài hỏi họ: Đối với anh em, Thầy là ai? Ta hãy tưởng tượng hôm nay Thầy Kitô ở giữa chúng ta cũng đặt câu hỏi ấy cho mỗi người: “Còn anh, anh Tứ, anh Dũng, anh Tường... Còn chị, chị Đông, chị Thủy, chị Tuyết.. Anh/chị nghĩ thầy là ai? Hãy nói lên suy nghĩ của anh/chị chứ đừng lặp lại lời của một ai khác, dù là lời của tông đồ Phêrô!” Câu hỏi này không dễ trả lời như mình thoạt tưởng.
Câu trả lời của quần chúng. Trong lúc mỗi người suy nghĩ, ta xem lại bao nhiêu thế hệ qua đã nghĩ gì về Ngài. Điều chua chát đầu tiên là rất nhiều người từng thực hiện câu mỉa mai của Voltaire: “Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Chúa, và loài người đã trả đũa một cách đích đáng: họ tạo dựng Thiên Chúa theo hình ảnh họ!”
Thế là chúng ta thấy Đức Giêsu Kitô dưới mọi lớp áo: - Đức Giêsu, nhà bất bạo động. - Đức Giêsu, nhà cách mạng. - Đức Giêsu, nhà thần bí - Đức Giêsu, nhà truyền thống - Đức Giêsu, nhà cấp tiến - Và thậm chí có cả Đức Giêsu Siêu Sao nữa đấy! Quả là điên đầu!
Đối với một số người Công Giáo, Đức Kitô là đấng mà người ta trình bày cho trẻ em vào giờ giáo lý để cho các em sống ngoan ngoãn và biết vâng lời. Đối với một số khác, Ngài là đấng mà mình không được làm mất lòng để được Ngài ban ơn đời này, và đời sau được hưởng thiên đàng... Những người sâu sắc hơn sẽ tuyên xưng rằng Ngài là đấng đã đến để mặc khải Thiên Chúa cho loài người, và cho biết rằng Thiên Chúa là Cha chứ không phải là một Ông Cảnh Sát luôn rình rập để phạt vạ. Hơn thế, Đức Kitô là đấng đã yêu thương chúng ta đến nỗi hy sinh mạng sống vì chúng ta; và Ngài chỉ mong sao cho chúng ta yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta.
Câu trả lời của một số nhân vật có uy tín. - Bà Cecil John Saunders sinh tại Luân Đôn, thủ đô Anh quốc. Bà làm đủ thứ nghề trước khi đến Roma dịp Năm Thánh 1975 và ở lại đây luôn. Năm 1987 vì quá nghèo, không thể trả tiền thuê nhà nên bị đuổi. Từ đó bà sống lang thang ngoài đường phố Roma và đi lượm giấy để bán. Khi được hỏi: ‘‘Đối với bà, Chúa Giêsu Kitô là Ai?”, bà tuyên xưng không do dự: Chúa Giêsu, tôi học biết Ngài ngay từ khi còn nhỏ. Mẹ tôi dạy tôi cầu nguyện cùng Chúa Giêsu mỗi sáng khi thức dậy, trước mỗi bữa ăn và vào mỗi buổi tối trước khi lên giường ngủ. Đối với tôi, Chúa Giêsu luôn luôn và mãi mãi là Đấng Cứu Độ Thế Giới. Ngài là Đấng Duy Nhất - trong tất cả các tôn giáo trên thế giới - là Đấng Duy Nhất có thể cứu thoát loài người. Và chỉ mình Chúa Giêsu mới có thể cứu loài người, vì Chúa Giêsu hoàn tất mọi ước muốn của Thiên Chúa Cha. - Đối với Đức Đức Hồng Y Albert Decourtray, Tổng Giám Mục giáo phận Lyon, nguyên chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Pháp, thì Chúa Giêsu Kitô mang một hình ảnh khác. Trong cuộc phỏng vấn dành cho tuần báo ‘‘Paris Match”, số ra ngày 22-12-1988, Đức Hồng Y nói: Nếu chiều nay bất ngờ có ai hỏi tôi: ‘‘Đối với ngài, Đức Kitô là ai?”, hẳn tôi sẽ dành thời giờ để tuyên xưng rằng: Chúa Kitô là ai ư? Thì bạn chỉ cần nhìn Ngài. Chưa bao giờ có người nào trên thế gian này biết kính trọng người khác giống như Đức Kitô! Chưa bao giờ có người nào yêu thương sâu đậm con người hơn Đức Kitô! Và cũng chưa bao giờ có người nào yêu mến Thiên Chúa, Cha Ngài, hơn Đức Kitô. Chúa Kitô là trung tâm điểm trí thông minh, cuộc đời và sự sống tôi. Tôi chỉ muốn nói về Người và chỉ ước ao sống trung tín với Người. - Đối với Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Chúa Kitô là một lời đối thoại với từng người để cho mỗi một người được trở nên chính mình. Ngày 1 tháng 6 năm 1980, tại Parc des Princes ở Paris, trong buổi tiếp kiến giới trẻ, ngài đã nói: “Các con muốn nghe cha nói về Chúa Giêsu Kitô, và hỏi cha rằng: đối với cha, Chúa Giêsu Kitô là ai. Trước khi trả lời, cha muốn trả lại câu hỏi ấy cho các con: Đối với các con, Chúa Giêsu Kitô là ai? Như thế, cha không lẫn tránh câu hỏi mà sẽ trả lời cho các con biết Ngài là ai đối với cha. Toàn bộ phúc âm là một cuộc đối thoại với con người, với mọi thế hệ, với mọi quốc gia, với mọi truyền thống; và Chúa Kitô mãi mãi và liên lỉ là một lời đối thoại với con người, với từng người, độc nhất, duy nhất, tuyệt đối cá biệt... Trong phúc âm có nhiều lần Chúa đối thoại, và cha xem cuộc đối thoại độc đáo nhất là cuộc đối thoại với người thanh niên... Vì sao Chúa Kitô lại đối thoại với người thanh niên? ... Tại vì ‘thanh niên’ là biểu tượng của một con người, một cách đặc biệt, một cách quả quyết, đang đi trên con đường tự đào tạo để trở nên chính mình.”
Câu trả lời của Giáo Hội: Từ thời sơ khởi, Giáo Hội đã đưa ra câu trả lời rõ ràng và đầy đủ về Chúa Kitô qua Bản Tuyên Tín các Tông Đồ (Symbole des Apôtres), mà vào thế kỷ thứ tư, Công Đồng Nicée Constantinople đã làm rõ nét hơn để củng cố đức tin của Dân Chúa. Tất cả những chân lý ấy được quảng diễn trong văn kiện gần đây nhất, được ký vào ngày 6 tháng 8 năm 2000: Dominus Jesus (Trích bản dịch của Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách) Trung thành với Kinh Thánh và bác bỏ những giải thích sai lầm và giảm thiểu, Công Đồng Nicê thứ nhất đã ấn định đức tin của mình vào: "Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Con Một được sinh ra bởi Chúa Cha, nghĩa là bởi bản thể của Chúa Cha, là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, là Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, là Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra chớ không phải tạo thành, cùng một bản thể với Chúa Cha, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, trên trời và dưới đất. Vì loài người chúng ta và để cứu chuộc chúng ta, Người đã xuống thế và đã nhập thể, làm người, chịu khổ hình và sống lại ngày thứ ba. Người lên trời và sẽ trở lại để phán xét kẻ sống và kẻ chết". Vâng theo những huấn giáo của các Giáo Phụ, Công Đồng Chalcedon cũng đã tuyên xưng: "Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta là Con Một và là chính Chúa Con, vừa trọn hảo trong thần tính vừa trọn hảo trong nhân tính, vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật… cùng một bản thể với Chúa Cha theo thần tính và cùng một hữu thể với chúng ta theo nhân tính … được sinh ra theo thần tính bởi Chúa Cha trước mọi thời đại và, trong những ngày sau hết, vì chúng ta và vì phần rỗi chúng ta, được sinh ra theo nhân tính bởi Đức Maria, Mẹ Đồng Trinh của Thiên Chúa".... Chân lý về Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, là Chúa và là Đấng Cứu Thế duy nhất, Đấng qua biến cố nhập thể, tử nạn và phục sinh của Người, đã đem lịch sử cứu độ tới chỗ viên mãn, và lịch sử cứu độ được viên mãn trong Người và lấy Người làm trung tâm, chân lý đó phải được tin vững vàng như là một yếu tố kiên định của đức tin Giáo Hội. Tân Ước minh chứng sự kiện này cách minh bạch: "Chúa Cha đã sai Con của Người đến làm Đấng cứu độ thế gian" (1 Ga 4, 14), "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian" (Ga 1, 29). Trong bài diễn từ của Ngài trước Thượng Hội đồng, Thánh Phêrô, đã minh chứng sự chữa lành cho một người què từ lúc mới sinh nhân danh Chúa Giêsu, công bố: "Ngoài Người ra không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới gầm trời này, không có một Danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ vào Danh đó mà được cứu độ' (Cv 4, 12). Hơn nữa, Thánh Phaolô nói rằng Chúa Giêsu Kitô "là Chúa mọi người", "là quan xét kẻ sống và kẻ chết", và như vậy "phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ Danh Người được ơn tha thứ" (Cv 10, 36.42.43). Thánh Phaolô khi ngỏ lời với cộng đoàn Côrintô, viết: "Thật thế, mặc dầu người ta cho là có những vị thần ở trên trời hay dưới đất - quả thật thần cũng lắm, mà chúa cũng nhiều - nhưng đối với chúng ta, chỉ có một Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo thành vạn vật và là cùng đích của chúng ta, và cũng chỉ có một Chúa là Đức Giêsu Kitô, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, nhờ người mà chúng ta được hiện hữu" (1 Cr 8, 5-6). Hơn nữa, Thánh Gioan tông đồ tuyên bố: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả thật, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ." (Ga, 3, 17-17). Trong Tân Ước, ý muốn cứu độ phổ biến của Thiên Chúa liên kết chặt chẽ với sự trung gian của một Chúa Kitô mà thôi: "(Chúa) muốn cho mọi người được ơn cứu độ và nhận biết chân lý. Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và con người, đó là một con người, Đức Giêsu Kitô Đấng tự hiến và làm giá chuộc mọi người" (1 Tm 2, 4-6).
Câu trả lời của Kinh Thánh Lên thêm một bước, ta có thể tìm ngay trong Kinh Thánh, là Lời của chính Thiên Chúa, những điều mà Giáo Hội đã loan truyền cho muôn dân về Đức Giêsu Kitô - Ngài là một người phàm.
Philiphê 2,
6-7: Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ
phải nhất quyết duy trì - Ngài là Đấng đại diện cho nhân loại Rôma 5, 8: Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. (cf Rm 3,25; Is 53, 5; Gl 3,13; Rm 4,25; 1Cr 5,14.21) - Ngài là sứ điệp của Thiên Chúa: Gioan 1, 1.14: Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa.... Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. (cf Dt 1, 1-3; Cl 1, 15) - Ngài là Đấng Cứu Độ: |