|
|
Số 88 Ngày 15-10-2006
Huyền Nhiệm Ơn Gọi – Lm Vũ Xuân Hạnh Lịch Sử của Hiệp Hội Truyền Giáo – Maranatha sưu tầm Truyền Giáo và Sứ Mệnh của Người Tín Hữu- Khánh Hà Kinh Mân Côi – Timothy Radcliffe, OP Thời Điểm Dân Amish Giầu Nhất Thế Giới – Lm Trần Cao Tường Vì Tình Yêu Chúng Ta Phải Làm Nhiều Hơn Nữa – Mark Link, SJ Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J. Đức Tin Đã Cứu Con - Kẻ Lữ Hành Phương Pháp Thở Để Tự Chữa Bệnh – Chu Tất Tiến Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả,
Những tuần qua, một trong những tin thời sự quốc tế đáng chú ý là việc Bắc Hàn thử nghiệm vũ khí nguyên tử làm nhiều quốc gia xôn xao, lo sợ. Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc cũng phải lên tiếng cho nền hoà bình thế giới đang bị de dọa. Tại Hoa Kỳ, thảm cảnh trong một tuần mà có những đến 3 vụ thảm sát nơi truờng học và tình hình bạo lực gia tăng trong thời gian gần đây trong nhiều thành phố vùng Trung và Trung Tây. Riêng tại Việt Nam, cơn bão số 6 đã ập đến đã mang thêm nỗi khốn khó cho người dân miền Trung nước Việt thân yêu. Đây là cơn bão mà nhiều người có tuổi đã phải thú nhận mức tàn phá rất lớn trong lịch sử. Số nạn nhân thiệt mạng đã lên đến 69 người, thêm nhiều ngàn người lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, các thứ nhu yếu phẩm như gạo, mì gói lại tăng giá, chưa kể đến giá vật liệu xây dựng như tôn, gạch và gỗ. Người bị tai ương của thiên nhiên chưa kịp hoàn hồn thì lại xảy đến tai nạn thảm khốc của đoàn người đi cứu trợ. Trong chuyến đi giúp đồng bào bị bão lụt, phái đoàn thăm viếng của Uỷ ban Nhân dân phường 13, quận Tân Bình đã gặp tai nạn khiến 12 người trong đoàn mất mạng. Cái chết của những người đi cứu người lại càng thương tâm khi biết rằng những người đi cứu trợ phần nhiều đều có những cảnh đời khó khăn riêng. Cụ thể như ông Trần Đình Liêm, làm chủ tịch phường dẫn đoàn cứu trợ. Ông chết đi để lại một gia đình nheo nhóc. Người vợ đã từng phải bán xôi chiên trước nhà, sau ế quá nên phải thôi. Mà nhà của ông, chỗ ở của hai vợ chồng và ba người con, là một căn phòng rộng 7 mét vuông, bên một con hẻm kế bên cạnh chợ ồn ào. Người con út mới 14 tuổi, còn đang học lớp 8, hai con lớn thì phải bỏ học vì hoàn cảnh gia đình khó khăn. Nghĩ đến những mảnh đời “lá rách đùm lá nát” khiến mọi người phải ngậm ngùi, thương cảm và càng thấm thía câu Kinh Thánh trong thư Thánh Gia-cô-bê đoạn 2 câu 15-16, “Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: "Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no," nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì?” Những dấu chỉ thời đại này nhắc nhở chúng ta về điều gì khi Chúa nhật 22 tháng 10 sắp tới đây là Ngày Thế Giới Truyền Giáo? Người Công giáo Việt Nam chúng ta nghe nhiều về truyền giáo, vì chính Việt Nam đã là xứ được truyền giáo. Cách đây không lâu, chúng ta còn được các thừa sai ngoại quốc đến để giúp mở mang đạo Chúa. Thế nhưng khi hỏi cốt lõi của công việc truyền giáo là gì, thì nhiều người chẳng mấy quan tâm, vì nghĩ rằng đó là công việc của các cha, của các tu sĩ nam nữ, nhất là của các Giáo Hội ngoại quốc giàu có. Thật ra, công việc truyền giáo là bổn phận của mỗi người tín hữu tin vào Chúa Giêsu Kitô. Trong sứ điệp lần thứ 80 của Chúa Nhật Truyền Giáo tới đây, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh, bác ái là linh hồn của truyền giáo, thế nên, việc quan tâm đến người đồng loại, đặc biệt những người đang đau khổ khó khăn là bước đầu căn bản cho việc truyền giáo. Tuy biết rằng không phải bất cứ việc bác ái nào cũng là công cuộc truyền giáo, nếu việc bác ái không bắt nguồn từ Thiên Chúa Tình Yêu, thì việc truyền giáo kiểu “no cơm ăn, đủ áo mặc” sẽ đơn thuần là một hoạt động cứu trợ xã hội. Tuy nhiên, cũng không thể chỉ lo truyền đạo mà quên đi những khốn cùng của con người đồng loại. Hiện nay, ngoài các điểm truyền giáo trong nước có sự hiện diện của nhiều linh mục, tu sĩ, nữ tu và giáo dân trong mọi môi trường, người Công giáo Việt Nam cũng đã và đang góp phần trong công tác truyền giáo trên khắp thế giới. Đặc biệt, phải kể đến các linh mục dòng Tên ở Đài Loan; tại Thái Lan, có hai cặp vợ chồng Michael Thái Bình (từ Texas) và Hiệp-Vân (từ California) thuộc dòng Maryknoll. Những gia đình này đã từ bỏ cuộc sống tiện nghi ở Hoa Kỳ để sống ơn gọi truyền giáo của mình nơi một miền đất lạ; đó là chưa đến Phi Châu và Nam Mỹ có các linh mục Dòng Ngôi Lời đang sống ơn gọi truyền giáo của mình. Trong môi trường sống hàng ngày, người tín hữu giáo dân có điều kiện để truyền giáo hơn bao giờ hết khi sống trọn vẹn sứ mạng ơn gọi của mình. Nếu chúng ta biết làm cây viết chì nhỏ bé trong bàn tay Thiên Chúa toàn năng, thì những đóng góp, hy sinh bé nhỏ, lời nguyện đơn sơ sẽ giúp cho cánh đồng truyền giáo bội thu. Câu chuyện của ông Yunus, người được vinh dự nhận giải Nobel Hoà Bình năm nay chứng minh lần nữa cho ta thấy giá trị của những việc nhỏ bé nhưng đưa đến những kết quả không ngờ. Với sáng kiến cho vay số tiền tuy rất khiêm tốn nhằm nâng cao đời sống của người nghèo khó, giúp họ thoát khỏi trung gian và làm nô lệ những món nợ kéo dài không bao giờ trả hết, ông Yunus và ngân hàng do ông sáng lập (Banker for The Poor) đã giúp đỡ hàng trăm triệu người thoát khỏi cảnh nghèo. Học hỏi và làm theo phương cách này, đã có biết bao tổ chức đã thật sự giúp ích cho nhân loại thoát khỏi cảnh nghèo đói áo cơm và qua đó giúp họ sống đúng với nhân phẩm cao quý của con người. Tuy nhiên, cũng có những người chẳng hề ra khỏi nhà, mà vẫn làm những công việc truyền giáo thật lớn lao. Vị quan thầy của những nhà truyền giáo - Thánh Têrêxa Hài Đồng Giê-su - mặc dù suốt đời chỉ vào ra trong nội vi của dòng Kín, nhưng đã không từng đến các xứ truyền giáo (trong đó có Việt Nam, quê hương ta) bằng lời cầu nguyện và ao ước của Chị sao? Hy sinh của những con người không tên tuổi, suốt đời chỉ quẩn quanh gốc chuối bụi rau, nhưng vẫn chắt chiu từng đồng xu cắc bạc, chút thì giờ nhỏ bé của mình để đóng góp vào công việc mở rộng Nước Chúa, một người mẹ hiền lành đạo đức, chỉ lo việc nhà, bếp núc và chăm sóc các cháu các con, dù vất vả và bận rộn nhưng vẫn sống trọn vẹn tình yêu và lòng biết ơn đối với cuộc đời, con người. Những hy sinh âm thầm đó quyện với lời cầu xin cho những người chưa biết Chúa hiểu về một Thiên Chúa của Tình Yêu, cho Nước Chúa “được trị đến,” hẳn là những nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo Hội Chúa Ki-tô. Như vậy, Ngày Thế Giới Truyền Giáo là một nhắc nhở cho những người tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giê-su. Không phải chỉ là một nhắc nhở có lệ, nhưng để giúp chúng ta ý thức sống ơn gọi người tín hữu. Trách nhiệm của tôi là ở đâu, tôi phải làm gì với những đòi hỏi của niềm tin mang lại? Câu trả lời không có chung cho mỗi người, vì hoàn cảnh sống mỗi người riêng biệt. Nhưng chúng ta không ai có thể nghĩ mình không có bổn phận phải cầu nguyện, hy sinh và đóng góp cụ thể. Đóng góp gì, cho ai? Nếu việc truyền giáo của chúng ta phải bắt nguồn từ Bác Ái, thì việc chia sẻ cho đồng bào đang bị thiên tai bão lụt hoặc gặp hoàn cảnh khó khăn cần được giúp đỡ phải là những ưu tiên cho công việc bác ái? Rồi bổn phận cho những người anh chị em xa lạ nhưng lại ngay bên cạnh chúng ta, trong gia đình, bên hàng xóm, trong trường học, nơi công sở… Có bao giờ ta nghĩ phải cầu nguyện cho họ, hoặc quan tâm đến đời sống tình cảm, vật chất và tinh thần, tâm linh của những người chúng ta gặp mỗi ngày? Hay nói như Dostoievski trong tác phẩm Anh Em Karamazov, càng yêu thương con người bao la bao nhiêu, tôi càng thấy khó chịu với những tên hàng xóm không thể ưa được. Để sống ơn gọi và sứ mệnh truyền giáo trong xã hội và môi trường hiện tại xem ra không dễ dàng và hình như xa lạ đối với một số người. Vì khó khăn, bận rộn với cuộc sống riêng tư? Vì đã có nhiều người và nhiều lý do chính đáng khác. Đạo gì mà đòi hỏi oái oăm quá? Rõ ràng sức con người không thể, nhưng chính vì thế chúng ta cần đến ơn Chúa, cần đến cầu nguyện. Và có ai đã sống đời cầu nguyện tuyệt đẹp cho bằng Đức Trinh Nữ Maria? Chúng ta đang ở trong tháng Mân Côi, cầu nguyện với Đức Mẹ Maria bằng Kinh Mân Côi chắc chắn phù hợp. Có điều, nhiều tín hữu đã bày tỏ sự hoài nghi về một kiểu kinh đọc đi đọc lại, đôi khi hoàn toàn vô ý thức, chẳng có suy niệm hay nâng tâm hồn lên Chúa chút nào. Thế mà Giáo Hội cứ tiếp tục nhắc nhở, mời gọi, khẩn nài. Trong tâm tình này, mời quý độc giả thân thương cùng tìm hiểu lại lần nữa Kinh Mân Côi qua bài chia sẻ của linh mục bề trên tổng quyền dòng Đa-minh, để khi đọc kinh này, chúng ta cùng được chia sẻ tâm tình và tâm sự với Chúa và Mẹ qua những biến cố trong Kinh Thánh, tức là vừa đọc được Lời Chúa, vừa suy niệm cầu nguyện, đúng tinh thần Hội Thánh dạy. Nguyện xin Mẹ Maria là hiền mẫu, là người môn đệ đầu tiên, là nhà truyền giáo với tước hiệu cao quý, Nữ Vương các Tông Đồ và Tử Đạo cầu nguyện và phù hộ cho chúng ta, để có thể cùng nhau tuyên xưng cho mọi người, đặc biệt cho những người chưa từng nghe về Tin Mừng: Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!
¶
Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA THÁNG 10 NĂM 2006 Ý CHUNG: Cầu cho những người đã chịu phép rửa có một đức tin chín chắn và phong phú. Xin cho mọi người đã chịu phép rửa có được một đức tin chín chắn, và biểu lộ đức tin trong đời sống qua những lựa chọn rõ ràng, can đảm và phù hợp với đức tin. Ý TRUYỀN GIÁO: Cầu cho Ngày Thế giới Truyền Giáo. Xin cho Ngày Thế giới Truyền Giáo làm gia tăng khắp nơi tinh thần và việc cộng tác truyền giáo.
CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN. NĂM B Lm. Vũ Xuân Hạnh Bài Tin Mừng hôm nay gồm ba phần, được coi là ba phần khác nhau nhưng thánh Marcô xếp chúng lại gần nhau để làm thành một nội dung duy nhất. Phần đầu (Mc 9, 17–22) là cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và người thanh niên giàu có. Người thanh niên này có một đời sống thật tốt. Chính vì thế, anh ta được Chúa Giêsu “đem lòng yêu mến,” Người MỜI GỌI anh theo mình. Nhưng trước khi làm môn đệ của Chúa, anh phải là người nghèo, cùng trở nên nghèo với những ai nghèo khó, mới được, vì thế, anh “hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo,” rồi theo Chúa. Nhưng đối với anh, một điều kiện xem ra quá khắc nghiệt và cũng chưa từng bao giờ mường tượng như thế, anh không thể làm được. Anh đã thua cuộc, đã rút lui. Phần thứ hai (Mc 9, 23–27) như được rút ra từ phần thứ nhất. Sau khi nói chuyện với người thanh niên giàu có, bây giờ nhân cơ hội này Chúa dạy hãy sống siêu thoát, đừng để lòng mình dính bén với của cải vật chất. Muốn siêu thoát phải sống tinh thần nghèo khó, phải từ bỏ của cải vật chất, vì “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Trời.” (Mc 10, 25). Khi ai đó dám chấp nhận sống siêu thoát như thế, họ mới thực sự là người nghèo, nghèo toàn diện: tinh thần, vật chất. Vì chỉ có người nghèo mới có thể ĐÁP TRẢ ƠN GỌI của Chúa. Và lúc ta trở nên người nghèo để đáp trả ơn gọi, đó cũng chính là lúc ta bắt đầu SỐNG ƠN GỌI. Phần thứ ba (Mc 10, 28–31), cũng trong mạch văn nói về sự từ bỏ để sống ơn gọi theo Chúa, Chúa Giêsu cho ta biết một KẾT QUẢ cuối cùng của người bước theo Chúa qua câu trả lời cho câu hỏi khá tế nhị: “Đây chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy?” (Mc 10, 28) của thánh Phêrô. Người nói: Không ai bỏ mọi sự đi theo Thầy mà “ngay bây giờ lại không được gấp trăm ở đời này về nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái và ruộng nương, cùng với sự bắt bớ, và đời sau được sự sống vĩnh cửu.” (Mc 10, 19–31). Theo chiều hướng suy nghĩ về ơn gọi dựa trên Lời Chúa như thế, tôi muốn nói về HUYỀN NHIỆM của ơn gọi, và mời bạn cùng tôi tiếp tục nhìn vào ơn gọi của chính mình, nhất là những ai đang sống lý tưởng tu trì, để một lần nữa khám phá lại lòng Chúa Giêsu yêu ta khi mời gọi ta dấn bước theo Người, trực tiếp sống ơn gọi mà chính Người đã nhận lãnh từ nơi Chúa Cha. Qua đó ta càng ý thức sâu xa hơn niềm hãnh diện, sự cao cả và hạnh phúc về ơn gọi của mình, để mỗi một ngày, ta biết vun bồi cho ơn gọi ấy đầy đặn hơn, xinh tươi hơn, ý nghĩa hơn… Có một lần, trước khi bắt đầu bài nói chuyện cùng một số bạn trẻ nam dự tu vào Đại chủng viện, tôi đã đặt câu hỏi cho các bạn thế này: “Theo anh em, anh em nghĩ, ơn gọi là gì?” Và chính tôi đã tự đưa ra câu trả lời: “Nếu ai đó nghĩ rằng, ơn gọi là cái đích phải đạt tới cho bằng được, người đó sẽ thất bại. Có khi do chính suy nghĩ ấy, ta tự mình chuốc lấy sự đau buồn. Vì cứ bình thường mà nói, không phải bất cứ cái gì ta muốn đều có thể đạt được, huống hồ ơn gọi thuộc chiều kích thánh thiêng, không phải chỉ có con người muốn mà trước hết là do ý muốn của Thiên Chúa. Nhưng nếu ta biết rằng ơn gọi là thánh ý Thiên Chúa dìu đưa từng giây từng phút trong cuộc đời của mình, còn ta là kẻ thụ nhận và từng lúc, từng giai đoạn trong cuộc đời mình, ta sẽ phải xin vâng theo thánh ý của Người, ta phải phó thác vận mạng đời mình cho Người, thì lòng ta sẽ bình an, sẽ cảm nhận hạnh phúc, niềm hy vọng sẽ vẫn không tắt dẫu lý tưởng ơn gọi có đạt được hay không.” Đưa ra câu hỏi và trả lời như thế, có lẽ sẽ khó hiểu cho người ngoài cuộc. Bạn có biết, tôi đang nói đến hoàn cảnh đặc thù của ơn gọi tại chính nơi tôi đang sống? Rất nhiều trường hợp, một thanh niên đã được xét là đã đủ hạnh kiểm, đủ khả năng, đủ tư cách để được vào Đại Chủng Viện, phải dừng lại vì một vài lý do tế nhị nào đó. Có nhìn thấy những giọt nước mắt đau buồn, tiếc xót của những bạn trẻ ấy, bạn mới có thể hiểu điều mà tôi đã nói: huyền nhiệm ơn gọi. Huyền nhiệm ấy đã thúc bách, đã nung đốt tâm hồn của biết bao nhiêu người trẻ. Với hai năm mới có một đợt tuyển vào Đại Chủng viện, và mỗi đợt như thế, số người được tuyển cũng rất giới hạn, nhưng họ vẫn sẵn sàng chờ đợi cho đến lúc có tên mình dù phải xếp hàng chờ đợi trong nhiều năm liền. Tất cả những người trẻ muốn đi tu đều đã qua đại học. Có người đang làm bác sĩ, giáo sư, thẩm phán, kiến trúc sư, kỷ sư…, nghĩa là họ có quyền mơ và xây dựng cho mình một cuộc sống tiện nghi, giàu có. Nhưng các bạn đã dám từ chối tất cả để chỉ đạt được một điều duy nhất mà thôi: theo Chúa Kitô trong ơn gọi tu trì. Phải hy sinh nhiều bao nhiêu, phải vượt qua khó khăn nhiều bao nhiêu, bị người đời ghét bao nhiêu, thì khi được thực hiện lý tưởng đời mình, niềm vui càng lớn, hạnh phúc càng trào dâng bấy nhiêu. Ngược lại, với những chua cay và khó khăn như thế, cuối cùng vẫn bị từ chối, vì thế, nỗi đau như muốn xé nát tâm hồn các bạn là điều hợp lý đấy thôi. Bởi vậy tôi hiểu, hiểu lắm những giọt nước mắt đáng yêu, đáng quý của những bạn trẻ bị chối từ. Huyền nhiệm của ơn gọi thật lạ lùng quá đỗi. Nó là một hấp lực lớn, không phải chỉ có hôm nay, nhưng là hàng ngàn năm lịch sử, đã làm rung động triệu triệu con tim của biết bao nhiêu người trẻ. Và Chúa Kitô muôn đời vẫn là lý tưởng mà lớp lớp người đã chọn để theo và sống. Bạn ạ, ơn gọi là một huyền nhiệm mà Thiên Chúa yêu thương trao ban cho con người. Dù đến từ Thiên Chúa, nó vẫn luôn luôn tôn trọng tự do của con người. Mời gọi để ta bước theo Chúa, đó là việc của Chúa. Nhưng đáp trả ơn gọi hay không, hoặc đáp trả như thế nào là chuyện của ta. Và một khi đã đáp trả, nghĩa là đã chọn lựa bước theo Người, ta phải sống ơn gọi. Vì ơn gọi dù đã quang trọng ở ngay việc ta đáp trả, nhưng vẫn không quan trọng cho bằng nỗ lực sống ơn gọi ấy từng ngày sau lời đáp trả của chính bản thân. Nói cách khác, Chúa mời gọi ta bước theo Người và ta đã đáp bằng lời “xin vâng,” nhưng như thế chưa đủ, điều cần thiết là phải sống lời xin vâng ấy bằng cả cuộc đời của mình. Nếu Tin Mừng cho ta biết người thanh niêu giàu có nào đó, đã không dám dấn mình cho ơn gọi, thì lịch sử của Giáo Hội, mãi cho đến hôm nay, đó vẫn còn là thực tế. Nhưng tôi tin thực tế ấy chắc không nhiều. Ngược lại ơn gọi trên quê hương tôi thật dồi dào, thật phong phú. Trong hoàn cảnh và điều kiện còn đầy khó khăn cho những ai dám hy sinh bước theo ơn gọi, tôi nhận ra nơi các bạn trẻ như đã nói trên, là những người quá đỗi giàu có. Họ nghèo tiền của, không có địa vị xã hội, nhưng họ mới chính là những người giàu có. Trước hết họ giàu ơn Chúa, giàu nghị lực, giàu lòng quả cảm, giàu đời sống nội tâm, và giàu trên mọi thứ giàu: đó là đạt tới con đường Chúa Kitô đã đi. Một khi đạt tới sự giàu sang như thế, phải chăng họ không dừng lại bằng cách đáp trả lời “Xin vâng” trên môi miệng, nhưng đã làm cho tiếng “Xin vâng” thành lời của sự sống mà họ đã sống từng giây phút của cuộc đời mình!! Nếu đặt trong khung cảnh của bài Tin Mừng mà tôi vừa phân tích bên trên để chỉ ra bốn tiến trình: CHÚA MỜI GỌI – CON NGƯỜI ĐÁP TRẢ ƠN GỌI – CON NGƯỜI SỐNG ƠN GỌI – KẾT QUẢ cuối cùng của người bước theo Chúa, tôi vui mừng thấy những bạn trẻ muốn dấn mình cho ơn gọi trên quê hương tôi đã thực sự nên thánh ngay trong chính ơn gọi của họ. Tận trong tâm hồn, các bạn trẻ ấy đã lắng nghe tiếng Chúa mời gọi. Và cũng sâu thẳm nơi tận tâm hồn, họ đã đáp trả tiếng gọi ấy. Không một chút ồn ào, không hề lên tiếng thốt ra một lời khoe mẻ, không một hành động khoa trương nào dù nhỏ nhất, họ đã âm thầm hiến dâng cuộc đời của họ, âm thầm hy sinh, âm thầm gánh chịu sự bị chối từ, can đảm sống nghèo, sống dứt bỏ mọi vướng bận cản trở họ tiến về phía Chúa Kitô… Tất cả những điều đó đủ làm bằng chứng lớn lao cho ta thấy họ đã sống ơn gọi từng ngày trong bầu nhiệt huyết trẻ trung của họ. Tin rằng Chúa đã nhận và ban cho họ những kết quả lớn lao còn ở phía trước như Người đã hứa. Bạn ạ, suy nghĩ như thế về những người anh em của chúng ta, bạn và tôi thấy gì, áp dụng gì cho mình? Ai cũng có một sứ mạng để sống giữa đời. Sứ mạng ấy là chính ơn gọi Chúa trao cho bạn và tôi. Rất cụ thể: Bạn là công nhân, bạn là nông dân, là dân chài lưới, hay là người phá đất vỡ hoang… Hãy sống hết mình, hãy yêu mến đến tận cùng những gì bạn đang có trong tay, và hãy thánh hiến tất cả bằng một đời sống đức tin. Được như thế, đó là dấu chứng cho thấy bạn đang sống ơn gọi Chúa trao và nên thánh trong chính ơn gọi của bạn. Nhớ lại ngày Đức Hồng y GB Phạm Minh Mẫn lãnh nhận sứ vụ Tổng Giám mục, ngài đã dâng một lời nguyện rất thắm thía. Nhân niềm vui chan chứa hôm nay, tôi muốn nhắc lại lời cầu nguyện ấy để chúng ta cũng biết tự tra vấn lòng mình như chính Đức Hồng y đã từng làm: “Dù bạn run sợ, lẽ nào bạn không đứng lên?” Nhờ đó, ta cũng sẽ làm một cuộc “Đứng lên” đáp lại ơn gọi của Chúa. “Thiên Chúa cần một người cha cho dân của mình, Người chọn một cụ già. Thế là Abraham đứng lên. Thiên Chúa cần một người phát ngôn, Người chọn một anh chàng vừa nhút nhát vừa có tật nói ngọng. Thế là Môsê đứng lên. Thiên Chúa cần một thủ lãnh để hướng dẫn dân mình, Người chọn một cậu thanh niên nhỏ nhất, yếu nhất trong nhà. Thế là Đavit đứng lên. Thiên Chúa cần một tảng đá làm nền cho ngôi nhà Giáo Hội, Người chọn một anh chối đạo. Thế là Phêrô đứng lên. Thiên Chúa cần một gương mặt để diễn tả tình yêu nhân loại, Người chọn một cô gái điếm. Đó là Maria Mađalêna. Thiên Chúa cần một chứng nhân để hô lên sứ điệp của Người, Người chọn một kẻ chuyên bắt đạo. Đó là Phaolô gốc thành Tarsô. Thiên Chúa cần một ai đó để quy tụ dân và đi đến với những người khác. Người đã chọn bạn. Dù bạn run sợ, lẽ nào bạn không đứng lên?…”● ¶
331. Quả tim con phải rộng đủ để chứa đựng và rung nhịp với tất cả chương trình Phúc Âm hóa của Hội Thánh. 615. Những người khác quanh con, cả nhân loại đang đau thương, khấp khểnh trên đường mịt mù. Đời con phải là hiến dâng, để bắt nhịp cầu hy vọng, đưa họ đến với Chúa là cùng đích của tình yêu, là tất cả. Bên Chúa, nhân loại không còn ai xa lạ, nhưng tất cả là anh chị em con. 621. Đừng để thiên hạ xây dựng thế giới này mỗi ngày mà con không hay biết, không khám phá, không thao thức, không nhúng tay vào. Chúa đã cứu chuộc con, trao sứ mạng cho con và đặt con vào thế gian trong thế kỷ này, thập niên này, môi trường này. Đặt con, chứ không phải cục đá! Khác nhau lắm! Đừng làm “Công giáo bù nhìn.” ĐHY Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng
Maranatha sưu tầm
Với tinh thần truyền giáo thấm sâu vào đời sống của những tín hữu nhiệt thành với công việc Nhà Chúa, Hiệp Hội Truyền Bá Đức Tin lần đầu tiên đã được ra đời tại Lyons, Pháp quốc vào năm 1822 do một nữ giáo dân tên là Pauline Jaricot. Lịch sử về Hiệp Hội kể lại rằng: Khi được nghe chuyện các vị thừa sai đến truyền giáo tại Trung Quốc, Cô Jaricot hết sức cảm kích và thấy mình có ơn gọi cần phải tiếp tay trong sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội Công Giáo. Mặc dù chưa hề đi truyền giáo theo nghĩa thông thường bấy giờ, nghĩa là đi đến tận đất nước Trung Quốc hoặc Tân Thế Giới xa xăm (Hoa Kỳ ngày nay); nhưng tâm hồn Cô luôn thao thức hướng về những công cuộc truyền giáo xa xôi này mà bước chân Cô không thể đến được. Và Cô đã bắt đầu thắp ngọn lửa truyền giáo này ngay tại công xưởng làm vải lụa là nơi Cô làm việc kiếm sống. Hàng ngày, Cô âm thầm tụ họp các bạn và công nhân trong xưởng ấy thành những nhóm nhỏ khoảng 10 người, và Cô xin họ cầu nguyện kết hiệp cùng với những hy sinh tiết kiệm mỗi tuần một xu (là một số tiền lớn lúc bấy giờ) để giúp cho việc truyền giáo. Từ ý niệm và công việc âm thầm bé nhỏ đó, Hội Truyền Bá Đức Tin được nhen nhúm và lan truyền. Sau hơn một thế kỷ, Hội Truyền Bá Đức Tin được chính thức hình thành tại Pháp. Đến năm 1922, Trung Ương của Hội được chuyển về Rô-ma và từ đó Hội được ban cho quy chế trực thuộc Bộ Giáo Hoàng. Trong sắc lệnh đổi tên, Đức Giáo Hoàng Piô XI có viết như sau: “Hội Truyền Bá Đức Tin là cơ quan của Toà Thánh, có mục đích quyên góp từ các nơi những đóng góp của tín hữu và phân phối cho các Cơ quan Truyền Giáo Công Giáo…tất cả mọi Ki-tô hữu nên quảng đại đóng góp cho công việc của Hội Truyền Bá Đức Tin.” Ngày nay, Quỹ Chung của Hội Truyền Bá Đức Tin, thu góp mọi dâng cúng của người Công Giáo trên toàn thế giới - theo sáng kiến của chị Pauline Jarico và ước mong góp phần vào việc truyền giáo của chị - là nguồn tài chính căn bản nâng đỡ công cuộc truyền giáo của Giáo Hội Công Giáo trên toàn thế giới● ¶ TRUYỀN GIÁO VÀ SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI TÍN HỮU Khánh Hà Bản chất Giáo Hội Công Giáo là truyền giáo. Giáo hội Chúa Giê-su thiết lập và qua các Tông Đồ, Ngài đã ra lệnh truyền, “Hãy đi rao giảng muôn dân, thanh tẩy họ nhân danh Cha, Con và Thánh Thần, giảng dạy cho họ tuân giữ mọi điều Thầy truyền cho anh chị em” (Mt 28:19). Được Chúa Thánh Linh hướng dẫn, Giáo Hội đã tiếp tục sứ mạng này qua các thế hệ, luôn mang trong tâm lời Thầy Chí Thánh nhắn nhủ, “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh chị em” (Ga 20:21) Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo Đến Với Muôn Dân (Ad gentes) của Công Đồng Va-ti-can II được mở đầu với câu: “Được Thiên Chúa sai đến muôn dân để nên ‘bí tích cứu độ phổ quát,’ nên Giáo Hội tuân theo lệnh truyền của Đấng Sáng Lập (Mt 16:15), nỗ lực rao truyền Tin Mừng đến với mọi người.” Công việc truyền giáo là một hình thức đặc biệt của việc rao giảng Tin Mừng, loan truyền Phúc Âm là sứ mạng thiết yếu của Giáo Hội. Từ “truyền giáo” bắt nguồn trong tiếng La-tinh mittere, có nghĩa là “sai đi.” Các nhà truyền giáo là những sứ giả mà Giáo Hội “sai đi” đến với những người chưa biết Chúa hay từ chối Chúa. Công cuộc truyền giáo do đó là trách nhiệm của mọi thành phần dân Chúa, tu sĩ và giáo dân, cá nhân cũng như tập thể. Bản chất của Công Việc Truyền Giáo: Trong những thế kỷ trước, nhiệm vụ của các vị thừa sai truyền giáo tuy khó khăn nguy hiểm, nhưng rất rõ ràng. Các ngài phải rao giảng Phúc Âm, giúp cải thiện đời sống người bản xứ (mở trường học, bệnh viện) và thiết lập các cộng đoàn Ki-tô hữu, rồi chờ đợi ngày gặt hái kết quả khi thấy nhiều người theo đạo. Khó khăn nguy hiểm rất nhiều, đặc biệt là đối với những dân tộc không có thiện cảm (nếu không nói là có ác cảm) với một tôn giáo lạ. Cứ đọc những trang lịch sử Giáo Hội Việt Nam thời truyền giáo, tiểu sử và công việc của các thừa sai cũng như của những người theo đạo đã bị bắt bớ và giết hại tàn nhẫn thế nào mới cảm nhận được phần nào những khốn khó họ phải chịu đựng[1]. Thế nhưng, từ sau Thế Chiến thứ Hai, nhận thức về truyền giáo thay đổi rất nhiều. Thế giới hầu như đã trở thành nhỏ lại và gần gũi hơn, không còn các xứ truyền giáo để gửi thừa sai đi đó đây. Nơi nào trên thế giới cũng có những giáo phận, dù bé nhỏ đến đâu, để phát triển theo đưòng hướng của văn hoá và truyền thống riêng của mình. Do đó, thay vì đi đến nơi chưa từng ai biết, một linh mục ở Mỹ có thể đến một xứ đạo ở Guatemala giúp, với sự hướng dẫn và quản trị của vị Giám mục sở tại. Vào năm 1990, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã công bố thông điệp Sứ Mệnh Truyền Giáo của Đấng Cứu Thế (Redemptoris Missio), để giải thích và minh hoạ về tình hình và sứ mệnh truyền giáo mới này. Ngài ghi nhận, mặc dù đã có thêm nhiều nhà thờ địa phương, nhưng lại nhấn mạnh nhu cầu phải tiếp tục công việc truyền giáo như đã làm trong quá khứ. Giáo hội cần phải truyền giáo cho các dân tộc tại những vùng mà về địa lý hay văn hoá thiếu vắng các cộng đồng Kitô hữu bản địa, hay những cộng đồng đó quá nhỏ bé không làm nổi bật được sự hiện diện của Giáo Hội của Đức Kitô. Ngài cũng đặc biệt chú ý đến những bạn trẻ, người nghèo, các dân nhập cư, di dân, sống ở thành thị, và đặc biệt hướng về Á châu. Điều làm mọi người ngạc nhiên là Đức Gioan Phaolô II khi đề cập đến việc tái rao giảng Tin Mừng cho các quốc gia đã có truyền thống đạo Kitô lâu đời, nơi mà “những người tuy đã chịu thanh tẩy nhưng hoàn toàn mất ý thức sống đức tin, chẳng hề coi họ thuộc về Giáo Hội, hơn nữa, sống xa lạ Tin Mừng và Đức Kitô” (33). Hiểu như thế thì chính những xứ sở “văn minh” nhưng tràn đầy tinh thần thế tục như ở tại các quốc gia Tây Âu, nơi mà người ta đề cao chủ nghĩa tự do cá nhân, tình dục, bạo lực, thoả mãn cấp thời, sẽ phải là các quốc gia cần được “truyền giáo” trước hết. Khi Vatican II kêu gọi Giáo hội phải dấn thân vào trần thế, thì có sự hiểu lầm cho rằng Giáo Hội không cần truyền giáo kiểu cũ nữa. Một số nhà thần học giải thích rằng mục đích của truyền giáo là nhằm giảm đói nghèo, xoá bất công xã hội, chứ không nhất thiết đi loan báo và làm chứng về niềm tin vào Đức Kitô và mời gọi người khác tin và sống niềm vui vào đức tin này. Đức Thánh Cha phủ nhận khái niệm trên, ngài nói: “Con người nghèo đói Thiên Chúa, chứ không chỉ đói cơm bánh tự do. Hoạt động truyền giáo trước tiên phải làm chứng và loan truyền ơn cứu độ của Chúa Kitô, và thiết lập được những Giáo Hội địa phương qua đó là phương tiện giải phóng về mọi mặt. ” Các giám mục Hoa Kỳ đã từng nêu vấn đề trên trong một thư mục vụ về truyền giáo, Đến Tận Cùng Trái Đất: “Những người chưa hề nghe Tin Mừng là nghèo gấp hai lần, đói gấp hai lần, bị áp bức gấp hai lần… Họ đói không chỉ cơm bánh, nhưng cũng đói Lời Chúa là Lời mang lại ý nghĩa cho cuộc đời họ.” (30) Nhu Cầu của Việc Truyền Giáo: Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh tầm quan trọng của đối thoại đại kết chuẩn bị cho thiên niên kỷ thứ ba của Kitô giáo. Thiên niên kỷ thứ hai đã bắt đầu bằng sự chia rẽ giữa Đông và Tây – Chính Thống và Công Giáo vào năm 1054. Rồi sau đó là Cải Cách Tin Lành. Thế nên, vào thời đại mới này, chúng ta hy vọng sẽ có sự đoàn kết giữa những người tin vào Chúa Kitô. Nhưng các nhà truyền giáo có thể tiếp tục công việc này như thế nào? Làm sao đem mọi người hiệp thông trọn vẹn với nhau trong bầu khí đại kết? Những câu hỏi như, tại sao ai cũng phải là Công giáo mới được? Bộ các giáo hội Kitô giáo khác không cảm thấy bị xúc phạm khi bị “mời” theo Công giáo? Rồi nếu mà những người theo Hồi giáo, Phật giáo còn được cứu độ, thì những người Chính thống, Anh giáo và Tin lành sao không được? Thế thì cần gì phải truyền giáo, cải đạo cho khó khăn phức tạp? Thực ra, ơn cứu độ là việc của Chúa Thánh Thần, và Ngài muốn làm thế nào là tuỳ Ý Ngài. Dầu vậy, Giáo hội đã được sai đến với nhân loại để mở rộng công trình cứu chuộc của Chúa Kitô, và vì thế, Giáo hội không thể xao lãng công việc truyền giáo được. Sắc lệnh về Hiệp Nhất Unitatis Redintegration của Vatican II nói không úp mở: “Chỉ qua Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô, là phương thế cứu rỗi phổ quát, mà con người mới đạt được trọn vẹn phương tiện cứu rỗi” (3) Giáo Hội phải tiếp tục đối thoại với các anh chị em Kitô hữu khác với lòng tha thiết chân thành tìm sự hiệp nhất. Hơn nữa, “Giáo Hội đề nghị, không áp đặt” (Redemptoris Missio, 39); nhưng Giáo Hội là “hạt giống, dấu chỉ và khí cụ” (RM, 18) của Nước Trời, mà đòi hỏi trách nhiệm trọng đại là luôn rao giảng Tin Mừng. Vì thế nên công việc truyền giáo sẽ phải còn được tiếp tục luôn mãi, với mọi hình thức, phương thế; để một lần nữa, Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô được rao giảng. Việc công bố này được thực hiện qua mọi phương tiện, kể cả bằng e-mails, e-magazines, internet, truyền đơn, thông tin đại chúng, truyền hình, và cụ thể sống động nhất vẫn là cuộc sống của người tín hữu. Nội dung Tin Mừng của Chúa Kitô thì chỉ có một, nhưng cách thế truyền giáo của thế hệ mới luôn đòi hỏi thay đổi để đáp ứng được những khao khát thâm sâu của con người thời nay. Tóm lại, chúng ta tìm hiểu vắn tắt nội dung của truyền giáo qua khái niệm “Tân Rao Giảng Tin Mừng” như Đức Gioan Phaolô II đã đề nghị, gồm những điểm sau đây: 1. Phải lấy Đức Giêsu Kitô là trung tâm điểm. Mọi hoạt động truyền giáo phải xoay quanh Ngài. Chú ý tránh sự hiểu lầm cho rằng truyền giáo chỉ là lo cơm ăn, áo mặc, hoặc đấu tranh cho công bình xã hội, dù đó là việc rất cần, rất quan trọng và rất nên làm. “Con người không chỉ sống nhờ cơm bánh, nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4, 4; Lc 4,4). Thiên Chúa chính là nguồn gốc, lẽ sống và mục đích cuộc đời con người. 2. Đây là trách nhiệm của toàn dân Thiên Chúa: sai lầm thông thường nhất của người tín hữu khi cho rằng họ không có trách nhiệm truyền giáo. Đây là trách nhiệm của người có đức tin, không chỉ của các linh mục, tu sĩ, các thầy tu hay sơ, mà là trách nhiệm của mọi thành phần dân Chúa. Thế nên, nếu có ai dành độc quyền rao giảng, thì người tín hữu vẫn bình an tiếp tục trách nhiệm truyền giáo chính đáng của mình trong hoàn cảnh và cuộc sống của từng người. 3. Không chỉ tập trung ở các xứ truyền giáo, mà ở tất cả mọi nơi khi Tin Mừng Chúa chưa biến thành men muối cho đời: (a) truyền giáo rao giảng Tin Mừng cho người chưa biết Chúa (b) cho những người đã biết và theo Chúa, nhưng cần được chăm sóc mục vụ (c) cho những người gọi là Kitô hữu nhưng thực ra đã từ bỏ Chúa từ lâu. 4. Đối tượng nhắm tới là từng cá nhân, cũng như toàn hệ thống văn hoá của xã hội: truyền giáo không chỉ nhằm có một sự biến đổi cá nhân, nhưng là cả thay đổi nhận thức và cách sống của toàn thể xã hội, đặc biệt nếu đó là một xã hội đầy những hệ thống đạo đức trái ngược với Tin Mừng của Đức Kitô. 5. Không chỉ giới hạn vào việc trình bày căn bản sứ điệp Tin Mừng, nhưng là cả một quá trình tổng hợp Ki-tô hoá: trình bày sứ điệp chỉ là bước đầu, việc rao giảng truyền giáo là một công trình liên tục, lâu dài để cho sứ điệp của Chúa Kitô thấm nhập vào cuộc sống, con người của ta từng ngày. 6. Chú ý đến linh đạo của việc truyền giáo: người truyền giáo phải liên hệ mật thiết với Chúa Kitô, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Làm sao làm chứng nếu chính chúng ta không là chứng thực? Làm sao rao giảng nếu ta không thực sự sống lời rao giảng? Đức tin và theo Chúa không chỉ là việc của cái đầu, của kiến thức tư duy, nhưng còn là của con tim tin yêu, thương mến và trông cậy. Cầu chúc cho độc giả khi học hỏi về ngày Truyền Giáo và sứ mệnh của người tín hữu, được thêm ơn Chúa và can đảm sống làm chứng cho ơn gọi, cho niềm tin vào Thầy Giê-su Chí Thánh● Trở về mục lục >> ¶ Timothy Radcliffe, O.P.
Tôi xin thú nhận rằng, khi được yêu cầu nói về kinh Mân Côi, tôi có đôi chút hoảng hốt. Trong đời tôi, tôi chưa bao giờ đọc sách về kinh Mân Côi hoặc suy tư về kinh này. Tôi đoan chắc rằng đa số anh em có những tư tưởng thâm thúy về kinh Mân Côi hơn tôi. Mân Côi là một kinh đơn giản mà tôi từng đọc, nhưng không suy nghĩ gì, giống như hít thở vậy. Hít thở là chuyện rất quan trọng đối với tôi. Lúc nào tôi cũng thở, nhưng tôi chưa bao giờ nói về chuyện đó. Đọc kinh Mân Côi, giống như hít thở, là một điều quá đơn giản. Vậy thì có gì để nói? SỰ ĐƠN GIẢN Có lẽ hơi lạ một chút là một kinh nguyện đơn giản như kinh Mân Côi lại có liên hệ đặc biệt với các tu sĩ Đa Minh. Thường người ta không nghĩ các tu sĩ Đa Minh là những người đơn giản. Chúng ta nổi tiếng là viết những pho sách dài và khó hiểu về thần học. Thế nhưng, chúng ta đã phải đấu tranh để giữ kinh Mân Côi làm kinh nguyện của chúng ta. Tổng hội năm 1574 khuyến khích anh em đọc kinh Mân Côi. Đó là nostra sacra hereditas - di sản thánh thiện của chúng ta. Có một truyền thống lâu đời về những bức tranh vẽ Đức Mẹ đang trao kinh Mân Côi cho thánh Đa Minh. Nhưng có thời, các dòng khác ghen tỵ, cho vẽ những bức họa Đức Mẹ đang trao kinh Mân Côi cho các vị thánh khác, như thánh Phanxicô, thậm chí cả thánh Ignace. Nhưng chúng ta lại đấu tranh, và, theo tôi thì vào thế kỷ XVII, chúng ta đã thuyết phục Đức giáo hoàng để người ngăn cấm sự tranh giành đó. Chỉ được vẽ Đức Mẹ trao kinh Mân Côi cho thánh Đa Minh mà thôi! Nhưng tại sao kinh nguyện đơn giản này lại thân thiết đối với tu sĩ Đa Minh như thế? Có lẽ vì cốt lõi truyền thống thần học của chúng ta có sự khao khát tính đơn giản. Thánh Thomas Aquinas nói rằng chúng ta không thể hiểu được Thiên Chúa vì Thiên Chúa hoàn toàn đơn giản - đơn giản vượt quá mọi khái niệm của chúng ta. Chúng ta học hỏi, chúng ta vật lộn với các vấn đề thần học, vò đầu bóp trán, nhưng mục đích là tới gần mầu nhiệm của Đấng hoàn toàn đơn giản. Chúng ta phải vượt qua sự phức tạp để đạt được sự đơn giản. Có sự đơn giản giả tạo, mà chúng ta phải từ bỏ. Đó là sự đơn giản của những người quá giản lược, những người trả lời mọi vấn đề một cách quá dễ dãi, những người biết trước mọi vấn đề. Hoặc là họ quá lười biếng, hoặc là họ không có khả năng để suy nghĩ. Có sự đơn giản chân thực, sự đơn giản của con tim, sự đơn giản của đôi mắt trong sáng. Và chúng ta chỉ có thể đạt được sự đơn giản ấy một cách từ từ, nhờ ân sủng Chúa, khi chúng ta tới gần sự đơn giản tuyệt đối của Thiên Chúa. Kinh Mân Côi quả thực đơn giản, rất đơn giản. Nhưng kinh Mân Côi có sự đơn giản sâu xa và khôn ngoan để chúng ta khao khát, và để chúng ta tìm được sự bình an ở đó. Người ta nói rằng khi thánh Gioan thánh sử về già, người sống hoàn toàn đơn giản. Thánh nhân thích chơi với một chú bồ câu, và tất cả những gì người nói với giáo hữu khi họ đến thăm người, đó là "Hãy thương yêu nhau". Bạn cũng như tôi, chúng ta làm như vậy (quá đơn giản) là không được đâu! Dân chúng sẽ không tin chúng ta. Chỉ có người nào giống như thánh Gioan, người đã viết cuốn Tin mừng phong phú nhất và phức tạp nhất, mới đạt tới sự đơn giản chân thực của đức khôn ngoan mà không nói gì hơn: "Hãy thương yêu nhau". Cũng như chỉ có một thánh Thomas Aquinas, sau khi đã viết bộ Tổng luận Thần học vĩ đại, mới có thể nói rằng tất cả những gì mình đã viết là "rơm rác". Phải, kinh Mân Côi rất đơn giản. Nhưng có lẽ đó là lời mời gọi để tìm kiếm tính chất đơn giản sâu xa trong sự khôn ngoan chân thực. Người ta nói đến anh Lagrange, một trong những nhân vật sáng lập trường Kinh thánh hiện nay, rằng mỗi ngày anh làm ba việc: đọc báo, học hỏi Kinh thánh, và đọc kinh Mân Côi! Tôi cũng muốn nói sự đơn giản của kinh Mân Côi không chỉ là sự đơn giản tốt lành và sâu xa, nhưng còn có nhiều đặc điểm mang tính Đa Minh thực sự. SỨ THẦN, NHÀ GIẢNG THUYẾT Kinh Kính mừng bắt đầu bằng lời sứ thần: "Mừng vui lên, hỡi cô Maria, người đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng trinh nữ." Các sứ thần là những nhà giảng thuyết chuyên nghiệp. Chính bản tính của các ngài là loan báo tin vui. Lời sứ thần Gabriel là một bài giảng hoàn chỉnh, mặc dù ngắn gọn, "Thiên Chúa ở cùng trinh nữ". Người công bố bản chất của việc giảng thuyết. Ở đây chúng ta thấy trọng tâm ơn gọi của chúng ta là nói với nhau: "Chào Daniel, chào Eric, Thiên Chúa ở với bạn". Chính vì thế, anh Humbert Romans, một trong những bề trên tổng quyền thời đầu, nói rằng tu sĩ chúng ta được kêu gọi để sống như các thiên thần. Mặc dù vậy, theo kinh nghiệm của tôi, tôi phải nói rằng hầu hết tu sĩ Đa Minh không phải là thiên thần gì cả! Tháng 12 năm trước, tôi đến Thành phố Hồ Chí Minh thăm tỉnh dòng Việt Nam. Sau một ngày làm việc, tôi và vị phụ tá thích len lỏi vào những con hẻm chật hẹp của Thành phố Chúng tôi lang thang nhiều giờ quanh những ngõ hẻm lòng vòng, nhưng đầy sức sống: người ta đánh bài, ăn uống, chuyện trò, chơi billard. Nhiều nhà có ảnh đức Phật. Một chiều nọ, chúng tôi đi quanh một quảng trường nhỏ, và kìa, giữa quảng trường là pho tượng một tu sĩ Đa Minh to lớn có cánh. Đó là thánh Vincent Ferrier, người luôn luôn được họa hình như một thiên thần. Thánh nhân là nhà giảng thuyết đại tài. Người được coi là vị sứ thần của sách Khải huyền, loan báo ngày tận cùng của thế giới. Phải, không có nhà giảng thuyết nào có thể hiểu được mọi sự cho đúng! Vì vậy tổng sứ thần Gabriel là một mẫu mực tốt đẹp cho tu sĩ Đa Minh chúng ta. Có một cách khác nữa để diễn tả kinh Kính mừng như là một bài giảng. Vì một bài giảng không chỉ nói với chúng ta về Thiên Chúa. Bài giảng khởi đầu từ Lời Chúa được nói với chúng ta. Giảng thuyết không chỉ là nói các sự kiện về Thiên Chúa, nhưng còn đem lại cho chúng ta Lời Chúa, lời phá vỡ sự thinh lặng giữa Thiên Chúa và chúng ta. Những lời đầu tiên của kinh Mân Côi là những lời sứ thần nói với Maria: "Mừng vui lên, hỡi cô Maria, người đầy ân sủng". Khởi đầu mọi sự là Lời mà chúng ta nghe. Thánh Gioan viết, "Tình yêu hệ tại điều này, không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và đã gửi Con của Người đến chuộc tội chúng ta" (1 Ga 4:10). Trong thực tế vào thời thánh Đa Minh, kinh Ave Maria chỉ có những lời của sứ thần và của bà Elisabeth. Như vậy, kinh Mân Côi là những lời được ban cho chúng ta. Chỉ về sau này, sau công đồng Trent, người ta mới thêm lời cầu khẩn với Đức Maria. Chúng ta thường cho rằng cầu nguyện là nói chuyện với Chúa. Kinh nguyện có thể coi là một sự phấn đấu để tới gần đấng Thiên Chúa xa cách: Người có nghe thấy chúng ta không? Nhưng kinh Mân Côi đơn giản này nhắc chúng ta rằng không phải như thế. Chúng ta không phá vỡ sự thinh lặng. Khi chúng ta nói, chúng ta đáp trả một lời gửi đến chúng ta. Chúng ta được đưa vào cuộc đàm thoại đã bắt đầu mà không có chúng ta. Sứ thần loan báo lời của Thiên Chúa. Và điều này tạo nên một khoảng trống để đến lượt chúng ta có thể nói: "Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời". Cuộc đời của chúng ta thường đau khổ vì sự thinh lặng. Có sự thinh lặng của thiên đàng, đôi khi có vẻ gần gũi chúng ta. Có sự thinh lặng như tách rời chúng ta ra khỏi người khác. Nhưng Lời Thiên Chúa đến với chúng ta trong một bài giảng hay, và phá vỡ những rào chắn kia. Chúng ta được giải thoát để đi vào ngôn từ. Chúng ta thấy có lời, lời đối với Thiên Chúa và lời đối với nhau. Chúng ta có thể nói thêm về vấn đề này. Tôn sư Eckhart có lần nói, "Không phải chúng ta cầu nguyện, mà là được cầu nguyện". Lời của chúng ta vọng lại, kéo dài Lời đã được nói với chúng ta. Kinh nguyện của chúng ta chính là Thiên Chúa cầu nguyện, chúc phúc, ngợi khen trong chúng ta. Như thánh Phaolô viết, "Khi chúng ta kêu lên 'Abba, Cha ơi', chính là Thánh Thần làm chứng cho thần trí của chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa " (Rm 8:14) Lời chào của sứ thần và của bà Elisabeth đối với Đức Maria được tiếp nối trong lời chúng ta thưa với Đức Trinh nữ. Phần thứ hai của kinh Mân Côi vọng lại phần thứ nhất. Như vậy, sứ thần nói "Mừng vui lên, hỡi cô Maria, người đầy ân sủng", thì nơi môi miệng chúng ta cũng có lời chào tương tự, "Thánh Maria". Bà Elisabeth nói, "Hoa quả của lòng em được chúc phúc", thì chúng ta cũng nói, "Đức Mẹ Chúa Trời". Lời chúng ta được dẫn vào lời của Chúa. Kinh nguyện của chúng ta chính là Thiên Chúa nói trong chúng ta. Chúng ta bị cuốn hút vào cuộc đàm thoại là chính sự sống của Ba Ngôi. Như vậy, tôi muốn nói rằng kinh Kính mừng đơn giản này cũng giống như một bài giảng mẫu nho nhỏ. Bài giảng ấy công bố một tin vui. Nhưng cũng như bất cứ một bài giảng xuất sắc nào, bài giảng này còn làm hơn thế nữa. Nó không chỉ cung cấp thông tin cho chúng ta, mà còn cho chúng ta một lời từ Thiên Chúa, một lời vọng lại trong lời của chúng ta, một lời khắc phục sự thinh lặng của chúng ta và cho chúng ta một tiếng nói. LỜI KINH TRONG GIA ĐÌNH, LỜI KINH TRÊN ĐƯỜNG ĐI Một đặc điểm khác cho thấy kinh Mân Côi rất có tính Đa Minh. Đó là vì kinh Mân Côi vừa là kinh nguyện trong gia đình, vừa là kinh nguyện trong cuộc hành trình. Kinh Mân Côi là kinh nguyện xây dựng cộng đoàn và cũng là kinh nguyện thúc đẩy chúng ta lên đường. Và đó cũng là tính chất căng thẳng trong đời Đa Minh. Chúng ta cần có cộng đoàn. Chúng ta cần có một nơi, ở đó chúng ta cảm thấy thoải mái cùng với anh chị em của mình. Nhưng đồng thời chúng ta cũng là những nhà giảng thuyết lữ hành, không trụ lại nơi nào quá lâu, mà phải lên đường giảng thuyết. Chúng ta là những người vừa chiêm niệm vừa hoạt động. Tôi xin giải thích vì sao kinh Kính mừng lại có đặc điểm của sự căng thẳng này. Hãy nghĩ đến những bức tranh đặc sắc họa lại biến cố Truyền tin. Những bức tranh này thường lấy bối cảnh là cuộc sống gia đình. Thiên thần đến nhà trinh nữ Maria. Maria đang ở trong phòng, và thường là đang đọc sách. Ở phía sau là guồng se sợi, hoặc là cây chổi dựng vào góc tường. Bên ngoài là khu vườn. Đó chính là nơi khởi đầu câu truyện: dưới mái gia đình. Và điều này thật là thích hợp, vì Ngôi Lời Thiên Chúa cư ngụ ở giữa chúng ta. Người cắm lều giữa chúng ta. Một mặt, kinh Mân Côi thường là kinh nguyện tại gia đình và tại cộng đoàn. Theo truyền thống, hằng ngày người ta đọc kinh Mân Côi trong gia đình và trong các cộng đoàn tu trì. Từ giữa thế kỷ XV, các hội Mân Côi được thành lập: người ta qui tụ lại với nhau để cầu nguyện. Như thế, kinh Mân Côi liên hệ sâu xa với cộng đoàn, là một kinh nguyện mà chúng ta có thể chia sẻ cho người khác. Tôi phải thú nhận rằng tôi chỉ có những kỷ niệm mơ hồ về việc đọc kinh Mân Côi tại gia đình. Chúng tôi không đọc kinh Mân Côi ở nhà, mà thường với những người họ hàng, cùng nhau đọc kinh Mân Côi mỗi tối. Nhưng việc ấy thường là một tai họa. Cho dù cửa nẻo đã đóng kỹ, bầy chó vẫn xộc vào và đi vòng quanh liếm mặt chúng tôi. Thế là mặc dù có ý làm việc đạo đức, chúng tôi vẫn thường gục xuống cười khúc khích. Tôi đâm ra sợ đọc kinh Mân Côi gia đình. Nhưng lời chào của sứ thần không để Đức Maria ở nhà. Sứ thần đến khuấy động nếp sống êm đềm ở gia đình. Tôi thường nghĩ đến hoạt cảnh Truyền tin tuyệt vời do anh Petit, một tu sĩ Đa Minh đang sống và làm việc tại Nhật Bản, biên soạn. Anh trình bày sứ thần Gabriel như một sứ giả to lớn, chiếm hết cả bức họa, còn Maria là cô gái Nhật nhỏ bé, e lệ, kín đáo, cuộc sống của cô bị đảo lộn. Cô được thúc đẩy lên đường, con đường sẽ đưa cô tới nhà bà Elisabeth, tới Belem, tới Ai Cập, tới Jerusalem. Đó là cuộc hành trình sẽ dẫn cô tới chỗ trái tim bị đâm thâu, và tới dưới chân Thập giá. Đó là cuộc hành trình cuối cùng sẽ đưa cô tới thiên đàng và vinh quang. Vậy thì kinh Mân Côi cũng là kinh nguyện của người đang lên đường, của lữ khách, giống như các bạn vậy. Tôi đâm ra yêu thích kinh Mân Côi chính vì đó là kinh nguyện trong những chuyến đi của tôi. Đó là kinh nguyện lúc ở phi trường hay trên máy bay. Đó là kinh nguyện tôi thường đọc khi máy bay đáp xuống mặt đất ở một địa điểm mới, và tôi không biết tôi sẽ tìm thấy gì, có thể đem lại điều gì. Đó là kinh nguyện cho những lần lại cất cánh, cám ơn tất cả những gì tôi đã nhận được từ anh chị em của tôi. Đó là kinh nguyện của cuộc lữ hành trên toàn Dòng. Tôi cho rằng cấu trúc cuộc hành trình của Maria diễn tả kinh Mân Côi theo hai cách, ở trong những lời của mỗi kinh Kính mừng, và ở trong cấu trúc của các mầu nhiệm Mân Côi. KINH KÍNH MỪNG - CÂU TRUYỆN CỦA CÁ NHÂN Mỗi một lời Ave Maria gợi lên cuộc hành trình cá nhân mà mỗi người chúng ta phải thực hiện, từ khy sinh ra cho đến lúc chết. Cuộc hành trình ấy được đánh dấu bằng nhịp sinh học của từng cuộc đời con người. Cuộc hành trình ấy chỉ có ba giai đoạn mà chúng ta có thể biết chắc chắn tuyệt đối: lúc sinh ra, lúc sống hiện tại, và lúc chết. Cuộc hành trình ấy khởi sự với lúc bắt đầu cuộc sống, là lúc hình thai trong lòng mẹ. Cuộc hành trình ấy đặt chúng ta vào hoàn cảnh hiện tại, khi chúng ta kêu cầu cùng Đức Mẹ. Cuộc hành trình ấy hướng về cái chết, cái chết của chúng ta. Phải nói đó là một lời cầu nguyện thể lý kỳ diệu, được đánh dấu bằng tấn kịch tất yếu liên quan đến hình hài con người, được sinh ra rồi phải chết. Và điều này thực sự mang tính Đa Minh. Vì lẽ việc giảng thuyết của thánh Đa Minh khởi đầu ở miền Nam nước Pháp, không xa nơi đây, chống lại lạc giáo vốn khinh miệt thân thể, cho rằng mọi thụ tạo đều xấu xa. Thánh nhân phải đương đầu với một trong những làn sóng linh đạo nhị nguyên đã tàn phá châu Âu trong nhiều thời kỳ. Thánh Âu Tinh, mà hiện chúng ta đang tuân giữ tu luật của Người, khi còn là một thanh niên theo phái Manichaeism, đã nhiễm lây phong trào nhị nguyên tương tự. Ngay cả ngày nay, nhiều tư tưởng cũng mang đậm màu sắc nhị nguyên. Nhiều nghiên cứu cho thấy có những khoa học gia hiện đại thường nghĩ đến sự cứu độ theo nghĩa là thoát khỏi thân thể. Nhưng truyền thống Đa Minh vẫn luôn luôn nhấn mạnh rằng chúng ta là những hữu thể có thân xác. Tất cả những gì chúng ta có đều đến từ Thiên Chúa. Chúng ta nhận lãnh bí tích Mình và Máu Chúa Giêsu để được nuôi dưỡng; chúng ta trông đợi thân xác sẽ phục sinh. Cuộc hành trình mà mỗi người chúng ta phải đảm nhiệm, trước hết, là cuộc hành trình thể lý, hành trình sinh học, cuộc hành trình đưa chúng ta ra khỏi lòng mẹ để đến nấm mồ. Chính trong thời khoảng sinh học này mà chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa và tìm thấy ơn cứu độ. Và sự đơn giản của kinh Mân Côi giúp chúng ta lên đường. Thụ thai Lời sứ thần hứa hẹn một khả năng sinh sản, sự sinh sản dành cho người trinh nữ và dành cho người son sẻ. Phúc lành của Thiên Chúa làm cho chúng ta nên phong phú. Mỗi người chúng ta, khy sinh ra, là hoa quả của lòng mẹ đã được chúc phúc. Tôi nghĩ rằng phúc lành mà sứ thần đã hứa luôn luôn mang hình thức của khả năng sinh sản trong mỗi đời sống con người. Đó là phúc lành của nhữngï khởi đầu mới, là ân sủng của sự tươi trẻ. Có lẽ chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa là vì chúng ta chia sẻ sự sáng tạo của Thiên Chúa. Chúng ta là những người cộng sự của Thiên Chúa trong việc tạo dựng và tái tạo thế giới. Ví dụ ấn tượng nhất và lạ lùng nhất về chuyện này là việc sinh con. Ngay cả người nam chúng ta, những người không thể thực hiện phép lạ đó, chúng ta cũng được chúc phúc nhờ sự phong phú của chúng ta. Khi chúng ta trở nên cằn cỗi, son sẻ, héo hắt, Thiên Chúa đến với chúng ta bằng lời phong phú của Người. Bất cứ khi nào Thiên Chúa đến gần chúng ta, là lúc chúng ta có thể được tạo dựng, biến đổi, nên mới, dù là trong việc cày bừa, trồng tỉa, hay là qua nghệ thuật, thi ca, hội họa. "Hoa quả của lòng bà được chúc phúc". Có lẽ cách tốt nhất để chúng ta có thể rao giảng về phép lạ của sự phong phú này là qua nghệ thuật, hội họa, âm nhạc và thi ca. Bởi vì đây là một vài hình thức nhỏ bé để chia sẻ cũng môt phúc lành đó, tức là sự phong phú vô tận của Thiên Chúa. Malaroux kể cho Picasso một câu truyện thú vị. Khi chị Bernadette vào nhà dòng, nhiều người gửi tượng Đức Mẹ vào cho chị. Nhưng chị không bao giờ để trong phòng, chị nói rằng những bức tượng ấy không giống với người phụ nữ mà chị đã nhìn thấy. Đức giám mục gửi cho chị cuốn album có những bức tranh Đức Mẹ nổi tiếng của Raphael, Murillo Chị nhìn những bức tượng Đức Mẹ thời Baroque mà chị đã thấy khá nhiều, và những bức tượng thời Phục hưng. Nhưng chẳng có bức tượng nào đúng cả. Rồi chị thấy ảnh Đức Mẹ Cambrai, bản sao một ảnh Byzantine rất cổ ở thế kỷ XIV, không giống bất cứ bức họa nào mà Bernadette đã thấy. Rồi chị nói, "Bà ấy đấy!" Có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi một cô gái trẻ đã từng thấy Đức Mẹ, nay lại nhận ra Người nơi một bức tượng thánh, là kết quả của một nghệ thuật thánh, một sự sáng tạo thánh thiêng. Mẹ Maria đã bộc lộ chính mình một cách hết sức rõ ràng trong tác phẩm của một người đã được trở nên phong phú nhờ ân sủng của Thiên Chúa, người đó là họa sĩ. Khi nay Nhưng kinh Mân Côi còn gợi lên một thời điểm khác, không chỉ là thời điểm sinh hạ, mà còn là hiện tại. "Xin cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay". Khi nay là giai đoạn hiện tại của cuộc lữ hành, khi chúng ta phải thực hiện, phải tồn tại, trên con đường tiến về Nước Trời. Thật là thú vị khi giai đoạn hiện tại này lại là thời gian mà chúng ta, những kẻ tội lỗi, cần đến lòng thương xót. Đây là lòng thương xót mang đậm tính Đa Minh. Bạn nên nhớ rằng thánh Đa Minh đã luôn luôn cầu nguyện với Chúa: "Lạy Chúa, xin thương xót Dân Chúa. Những người tội lỗi rồi sẽ ra sao?" Đây là lúc chúng ta cần đến lòng trắc ẩn, lòng thương xót. Tại nguyện đường Sistine, trong bức bích họa vẽ Cuộc Phán xét Chung, hoạ sĩ vẽ một người được thiên thần cầm chuỗi Mân Côi kéo ra khỏi Luyện ngục. Khi nay là thời gian mà chúng ta phải sống còn, cho dù chúng ta phải chờ đợi Nước Trời không biết bao nhiêu lâu. Mấy năm trước, khi trở lại thăm Trung quốc, một tu sĩ Đa Minh thấy nhiều nhóm giáo dân Đa Minh vẫn tồn tại qua nhiều năm bách hại và cô lập. Và điều duy nhất họ còn giữ được trong suốt những năm tháng ấy là việc đọc kinh Mân Côi chung với nhau. Đó là thứ bánh ăn hằng ngày để sinh tồn. Và khi một số anh em chúng ta đến miền đất Mexico xa xôi, gặp các nhóm giáo dâ |